CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Những nội dung cơ bản về vốn lưu động 1. Khái niệm và nguồn hình thành vốn lưu động 1. Khái niệm Luật Doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chưa có quy định cụ thể về vốn lưu động hay còn gọi là tài sản lưu động.
Tuy nhiên, có thể hiểu vốn lưu động là một thước đo tài chính thể hiện nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp, là những tài sản ngắn hạn và những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đáp ứng những hoạt động kinh doanh hàng ngày như: Tiền trả lương nhân viên, tiền thanh toán cho nhà cung cấp, tiền trả chi phí mặt bằng, điện nước,. Vốn lưu động được thể hiện ở các bộ phận bao gồm: tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, hiện vật (vật tư, hàng hóa), các khoản nợ phải thu ngắn hạn… Vốn lưu động là vốn sử dụng cho từng chu kì sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn lưu động tồn tại dưới hai hình thái là vốn bằng tiền và vốn bằng tài sản lưu động. Vốn lưu động khác biệt so với các loại vốn khác trong sản xuất, kinh doanh, đó là hình thái tồn tại luôn luôn biến đổi khi được các chủ thể kinh doanh sử dụng trong sản xuất.
Như vậy,Vốn lưu động của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động, vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn mà doanh nghiệp đã sử dụng để mua sắm, hình thành nên tài sản lưu động phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh ở một thời điểm nhất định. Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần, tuần hoàn liên tục và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất. Nguồn hình thành -. Vốn lưu động được hình thành từ nguồn vốn điều lệ ban đầu khi thành lập doanh nghiệp hoặc nguồn vốn điều lệ bổ sung trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nguồn hình thành vốn lưu động này có sự 5 khác biệt giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Vốn lưu động được hình thành từ nguồn vốn tự bổ sung trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn tự bổ sung này là một phần lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp được đem tái đầu tư. Vốn lưu động được hình thành từ nguồn vốn liên doanh liên kết của doanh nghiệp của các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh.
Vốn góp liên doanh có thể là tiền mặt hoặc vật tư, hàng hóa. - Vốn lưu động hình thành từ nguồn đi vay: vốn vay các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, vốn vay của người lao động trong doanh nghiệp, vốn vay của các doanh nghiệp khác. - Vốn lưu động được hình thành từ nguồn vốn huy động được từ thị trường vốn thông qua các kênh huy động như cổ phiếu, trái phiếu trong trường hợp thiếu vốn lưu động. Đặc điểm và phân loại vốn lưu động 1.
Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, do bị chi phối bởi đặc điểm của tài sản lưu động nên VLĐ của doanh nghiệp có các đặc điểm: _ Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất. _ Vốn lưu động chuyển một lần toàn bộ giá trị vào chi phí kinh doanh trong kỳ và thu hồi lại toàn bộ sau chu kỳ kinh doanh. _ Vốn lưu động trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông.
Quá trình này được diễn ra liên tục, thường xuyên lặp lại theo chu kỳ và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động. 6 Tương ứng với mỗi chu kỳ kinh doanh thì vốn lưu động cũng hoàn thành một vòng chu chuyển. Phân loại vốn lưu động. Vốn lưu động vận động không ngừng qua các khâu kinh doanh và mang tính chu kỳ.
Việc phân loại vốn lưu động chỉ mang tính tương đối. Điều quan trọng nhất của việc phân loại vốn lưu động là giúp cho công tác quản lý vốn lưu động đạt được các mục tiêu: tối ưu hóa hiệu quả đồng vốn lưu động, đảm bảo cho các khâu của quá trình kinh doanh được liên tục, đảm bảo khả năng thanh toán công nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Phân loại vốn lưu động theo hình thái biểu hiện. _ Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền bao gồm tiền mặt tại quỹ, vàng bạc, tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn, tiền đang chuyển.
Các khoản tương đương tiền là trị giá các chứng khoán như kỳ phiếu, tín phiếu.có kỳ thanh toán không quá ba tháng kể từ ngày doanh nghiệp mua. _ Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn là giá trị các chứng khoán đã mua có thời hạn thanh toán trên ba tháng đến một năm và các khoản tiền gửi ngân hàng có thời hạn đến một năm. _ Các khoản phải thu: đây là nhóm công cụ nợ phải thu của người mua, các khoản trả trước (ứng trước) cho người bán, phải thu nội bộ, phải thu theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng. _ Các khoản khác: chi phí trả trước, thuế giá trị gia tăng được khấu trừ nhưng chưa nhận, các khoản phải thu của Nhà nước (thuế nộp thừa), khoản tạm ứng cho công nhân viên chưa thanh toán.
Vốn vật tư, hàng hóa bao gồm giá trị của các loại hàng tồn kho như: _ Trị giá hàng mua đang đi trên đường. _ Trị giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu tồn kho. _ Trị giá công cụ, dụng cụ. _ Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang.
7 _ Trị giá thành phẩm tồn kho, hàng gửi đi bán. Phân loại theo vai trò vốn lưu động. Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất gồm có: vốn nguyên liệu chính; vốn nguyên liệu phụ; vốn nhiên liệu; vốn phụ tùng thay thế; vốn công cụ, dụng cụ. Vốn lưu động trong khâu sản xuất gồm: vốn sản phẩm đang chế tạo; chi phí trả trước; chi phí nhờ kết chuyển.
Vốn lưu động trong khâu lưu thông gồm có: vốn thành phẩm; vốn bằng tiền, vốn đầu tư tài chính ngắn hạn; vốn trong thanh toán (nợ phải thu, tạm ứng. Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn _ Nguồn vốn lưu động tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn chủ yếu để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời về vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Nguồn vốn này gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các khoản nợ ngắn hạn khác. _ Nguồn vốn lưu động thường xuyên là nguồn vốn có tính chất ổn định nhằm hình thành nên tài sản lưu động thường xuyên cần thiết.
Việc phân loại nguồn vốn lưu động như trên giúp doanh nghiệp xem xét việc huy động vốn lưu động một cách phù hợp với thời gian sử dụng để nâng cao hiệu quả tổ chức và sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp mình. Vai trò của vốn lưu động trong các doanh nghiệp Để tiến hành sản xuất, ngoài TSCĐ như máy móc, thiết bị, nhà xưởng. doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm hàng hóa, nguyên vật liệu. phục vụ cho quá trình sản xuất.
Như vậy vốn lưu động là điều kiện đầu tiên để doanh nghiệp đi vào hoạt động hay nói cách khác vốn lưu động là điều kiện tiên quyết của quá trình sản xuất kinh doanh. Ngoài ra vốn lưu động còn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục. Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh đánh giá quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp. 8 Vốn lưu động còn có khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong việc sử dụng vốn nên khi muốn mở rộng quy mô của doanh nghiệp phải huy động một lượng vốn nhất định để đầu tư ít nhất là đủ để dự trữ vật tư hàng hóa. Vốn lưu động còn giúp cho doanh nghiệp chớp được thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Vốn lưu động còn là bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phẩm do đặc điểm luân chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm. Giá trị của hàng hóa bán ra được tính toán trên cơ sở bù đắp được giá thành sản phẩm cộng thêm một phần lợi nhuận.
Nhu cầu vốn lưu động và phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động 1. Nhu cầu vốn lưu động. Doanh nghiệp luôn cần phải lập kế hoạch và xác định nhu cầu vốn lưu động trong kỳ kế hoạch cần thiết cho kinh doanh để bố trí nguồn vốn lưu động đủ đảm bảo hoặc sử dụng nguồn vốn lưu động thừa. Thông thường, doanh nghiệp đã có sẵn nguồn vốn lưu động thường xuyên bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ vay trung hạn, dài hạn, sau khi trừ đi phần đầu tư vào tài sản cố định.
Trong quá trình kinh doanh dự kiến nhu cầu vốn lưu động có thể tăng lên hay giảm xuống dẫn đến việc thiếu hay thừa nguồn vốn lưu động. Nhu cầu sử dụng vốn lưu động kỳ kế hoạch lớn hay nhỏ phụ thuộc vào nhiều nhân tố bên ngoài và bên trong doanh nghiệp như: Quy mô ngành nghề kinh doanh kỳ kế hoạch, chính sách tiêu thụ của doanh nghiệp, chính sách tín dụng, thanh toán; điều kiện hạ tầng, giá cả thị trường.Vì vậy doanh nghiệp phải có kế hoạch tìm thêm nguồn vốn lưu động (nếu thiếu) hoặc sử dụng (nếu thừa). Phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động. • Phương pháp trực tiếp.
9 Phương pháp trực tiếp xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên kỳ kế hoạch là phương pháp căn cứ vào nhu cầu của từng loại vốn ở từng khâu sản xuất kinh doanh để tính toán nhu cầu vốn lưu động của toàn doanh nghiệp. Nhu cầu này bao gồm: _ Mức vốn cần để dự trữ vật tư, hàng hóa tồn kho cần thiết. _ Các khoản công nợ phải thu (vốn bị chiếm dụng tạm thời). _ Các khoản công nợ phải trả.
Công thức xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên kỳ kế hoạch theo phương pháp trực tiếp: Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên kỳ kế hoạch = Mức dự trữ vật tư hàng hóa(tồn kho) cần thiết + Nợ phải thu – Nợ phải trả Ưu điểm: phương pháp này xác định chính xác nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp theo từng loại vốn ở từng khâu.