CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CẠNH TRANH, PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM VÀ HIỆP ĐỊNH EVFTA 1. Khái quát về cạnh tranh 1. Một số vấn đề lý luận về cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường, nó chịu nhiều chi phối của quan hệ sản xuất và có mối quan hệ hữu cơ với các quy luật kinh tế khác như quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cung cầu… Đây là một khái niệm rất rộng và từ trước đến nay đã có khá nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này.
Chẳng han như theo Black’s law Dictionary, cạnh tranh được định nghĩa là “sự nỗ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba”1. Hay theo cách hiểu phổ thông thể hiện trong từ điển ngôn ngữ tiếng Anh, “competition” (cạnh tranh) được hiểu là “một sự kiện hoặc một cuộc đua, theo đó các đối thủ ganh đua để giành phần hơn hay ưu thế tuyệt đối với phía mình”2. Tuy vậy, Từ điển tiếng Việt lại định nghĩa “cạnh tranh” là “cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau”.3 Do tính chất đa dạng và phức tạp của quá trình cạnh tranh trong nền kinh tế hiện đại, các định nghĩa về cạnh tranh mặc dù nêu được chừng mực nhất định những đặc điểm căn bản của cạnh tranh, tuy nhiên, chúng đều có những hạn chế và chưa đảm bảo tính khái quát cao và bao trùm trong thực tiễn. Trong lĩnh vực khoa học kinh tế, cạnh tranh được các nhà kinh tế học hiểu là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường nhằm mục đích lôi kéo về phía mình ngày càng nhiều khách hàng.
Cạnh tranh có thể xuất hiện ở cả giữa những người bán hàng và giữa những người mua hàng, nhưng cạnh tranh xuất hiện giữa những người bán hàng là phổ biến. Garner, Black’ Law Dictionary (St. Paul, 1999), tr 278 2 CUTS – All About Competition Policy & Law For the advanced learner, 2000, page 1. 3 Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển học, Nxb, Đà Nẵng, 1997, tr.
6 Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, các nhà nghiên cứu hiện nay cũng rất khó có thể đưa ra một khái niệm chuẩn chung và đầy đủ cho hiện tượng cạnh tranh với tư cách là một đối tượng điều chỉnh của pháp luật. Đến nay, LCT ban hành năm 2018 của Việt Nam cũng như luật về cạnh tranh của một số nước trên thế giới (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản…) vẫn chưa đưa ra khái niệm về cạnh tranh nhưng có ban hành các quy phạm quy định tạo lập và duy trì một môi trường kinh doanh bình đẳng và công bằng giữa các chủ thể. Các hình thức cạnh tranh (i) Căn cứ vào tính chất và mức độ can thiệp của công quyền vào đời sống kinh tế, cạnh tranh được chia thành cạnh tranh tự do và cạnh tranh có sự điều tiết của nhà nước Cạnh tranh tự do là hình thức cạnh tranh thoát khỏi mọi sự can thiệp của Nhà nước và thị trường cạnh tranh tự do “tồn tại khi không có sự can thiệp của Chính phủ và tại đó, các tác nhân cung cầu được phép hoạt động tư do”4. Cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước là hình thức cạnh tranh được can thiệp bằng các CSCT của Nhà nước để điều tiết, hướng các quan hệ cạnh tranh vận động và phát triển theo trật tự nhất định, bảo đảm, tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng.
(ii) Căn cứ vào cơ cấu doanh nghiệp và mức độ tập trung trong một ngành, một lĩnh vực kinh tế, cạnh tranh được chia thành cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo và độc quyền Thứ nhất, cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition) hay còn được gọi là cạnh tranh thuần túy (Pure Competition) là hình thức cạnh tranh diễn ra trên thị trường có những đặc tính sau: - Có sự tham gia của nhiều người bán và nhiều người mua trên thị trường, thị phần của người bán và khả năng tiêu thụ của người mua đều nhỏ đến mức không ai có đủ sức mạnh tác động tới giá cả của sản phẩm. - Sản phẩm do những người bán cung ứng không có sự khác biệt dẫn đến các sản phẩm trên thị trường được bán ở cùng một mức giá. Giá cả sản phẩm được hình thành 4 David W. Pearce, Từ điển kinh tế học hiện đại (Hà Nội: tái bản lần 4, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 1999), tr 397.
7 khách quan thông qua quan hệ cung cầu và không chịu sự tác động của các chủ thể tham gia thị trường. - Các chủ thể kinh doanh tự do gia nhập và rút lui khỏi thị trường. Thứ hai, cạnh tranh không hoàn hảo là hình thức cạnh tranh diễn ra trong thị trường có sự khuyết đi một trong các yếu tố của cạnh tranh hoàn hảo. Thực tế, trên mỗi thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, mỗi thành viên đều có một sức mạnh nhất định, đủ để tác động đến giá cả của sản phẩm theo những mức độ nhất định.
Thứ ba, độc quyền là hình thức cạnh tranh tồn tại trên thị trường có đặc trưng: - Chỉ có chủ thể duy nhất cung ứng hoặc tiêu thụ sản phẩm mà không có sản phẩm thay thế cùng loại hay gần giống với nó. - DN độc quyền là người có quyền quyết định giá sản phẩm đối với loại mặt hàng nhất định. Họ có thể nâng giá hoặc hạ giá sản phẩm để thu được nhiều lợi nhuận độc quyền nhất. - Rào cản gia nhập thị trường rất lớn làm cho các DN khác rất khó khăn hoặc không thể tham gia thị trường được.
(iii) Căn cứ vào tính chất của các phương thức cạnh tranh, cạnh tranh được chia thành cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh Thứ nhất, CTLM là hình thức cạnh tranh công khai, công bằng và ngay thẳng giữa các đối thủ cạnh tranh trong kinh doanh.5 CTLM là những hoạt động nhằm thu hút khách hàng mà pháp luật không cấm, phù hợp với tập quán thương mại và đạo dức kinh doanh truyền thống như: nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, hạ giá bán hàng hóa trên cơ sở đổi mới công nghệ, giảm chi phí. Thứ hai, CTKLM là phương thức cạnh tranh được DN thực hiện bởi những cách thức không lành mạnh nhằm mục đích gây phản cạnh tranh như ấn định giá bất hợp lý với khách hàng, sắp đặt mức giá thấp hơn giá thị trường để loại bỏ đối thủ, quảng cáo, khuyến mại với mục đích lôi kéo khách hàng của đối thủ… (iv) Căn cứ vào tác động bất lợi của hành vi cạnh tranh gây ra đối với môi trường cạnh tranh, pháp luật của một số nước đã chia cạnh tranh thanh hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Garner, sdd, tr. 8 Thứ nhất, hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi hình thành từ những thủ đoạn lũng đoạn thị trường của các tập đoàn kinh tế tư bản độc quyền ở Hoa Kỳ vào cuối thế kỉ XIX và luôn hướng tới việc hình thành SMTT hoặc lạm dụng SMTT làm cho tình trạng cạnh tranh trên thị trường bị bóp méo.
Thứ hai, hành vi CTKLM là những hành vi của DN nhằm mục đích cạnh tranh trái với chuẩn mực đạo đức, đi ngược với thông lệ thiện chí, trung thực trong kinh doanh. Những hành vi này phát sinh trong hoạt động kinh doanh của các DN đã đẩy cạnh tranh lên quá mức bằng những thủ đoạn thái quá gây thiệt hại cho đối thủ hoặc một bộ phận NTD, 1. Vai trò của cạnh tranh Thứ nhất, cạnh tranh là một trong những động lực quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Hệ quả của cạnh tranh là DN nào có tiềm lực, có chiến lược kinh doanh đúng đắn, hiệu quả sẽ tiếp tục vươn lên tồn tại, DN nào không đáp ứng được nhu cầu của thị trường sẽ bị loại khỏi cuộc chơi.
Thứ hai, cạnh tranh khuyến khích việc áp dụng khoa học, kỹ thuật mới, cải tiến công nghệ nhằm kinh doanh có hiệu quả và tạo ra nhiều sản phẩm tốt hơn trên thị trường. Thứ ba, cạnh tranh dẫn đến giá thấp hơn cho NTD và làm thỏa mãn nhu cầu của NTD. Bởi vậy, trong điều kiện có cạnh tranh, NTD là thượng đế, là trung tâm thị trường và có quyền lựa chọn những sản phẩm mà họ muốn mua. Thứ tư, cạnh tranh buộc các DN cũng như các quốc gia phải sử dụng các nguồn lực, đặc biệt là nguồn tài nguyên một cách tối ưu và mang lại hiệu quả cũng như năng suất cao nhất.
Khái quát về chính sách cạnh tranh 1. Khái niệm về chính sách cạnh tranh Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về CSCT. Có quan điểm cho rằng, CSCT bao gồm các quy tắc và quy định nhằm thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế.6 Bên cạnh đó, nhiều nhà kinh tế và các luật gia cho rằng cần hiểu CSCT theo nghĩa rộng hơn. Theo đó, chính sách cạnh tranh là tổng thể các biện pháp, công cụ vĩ mô của Nhà nước nhằm đảm bảo tự do cạnh tranh và điều tiết cạnh tranh trong nền kinh tế, duy 6 Walter Goode, Từ điển chính sách thương mại quốc tế (sách dịch), Nxb.
Thống kê, Hà Nội, 1997, tr. 58 9 trì môi trường cạnh tranh công bằng, bình đẳng phù hợp với lợi ích chung của xã hội.7 Theo nghĩa này, CSCT là một phần của chính sách kinh tế sẽ bao gồm hàng loạt các cải cách và chính sách mà Chính Phủ đưa ra ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi của DN và cấu trúc ngành trong quá trình cạnh tranh,. Nội dung của chính sách cạnh tranh CSCT được ban hành với mục tiêu chủ yếu là để duy trì và phát huy cạnh tranh như phương thức để phẩn bổ nguồn lực hiệu quả và tạo điều kiện thuận lợi cho các DN gia nhập và rút lui khỏi thị trường đồng thời tạo điều kiện để NTD được cung cấp đầy đủ hàng hóa với chất lượng tốt nhất và giá cả rẻ nhất. CSCT bao gồm nhưng không giới hạn những nội dung chính sau: (i) Chính sách thương mại quốc tế: Chính sách thương mại quốc tế của một quốc gia có thể đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành cạnh tranh trong nền kinh tế.
Lượng hàng hóa trong nội địa phụ thuộc vào độ mở của nền kinh tế với nước ngoài. Do đó nếu thắt chặt chính sách thương mại với nước ngoài có thể dẫn đến các DN trong nước thao túng thị trường.