Chương 1. Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh. Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của P h â n x ư ở n g c h ế b i ế n h ả i s ả n T h ả o T h à n h trong giai đoạn 2020-2023. Một số giải pháp và chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Phân xưởng chế biến hải sản Thảo Thành.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm kinh doanh “Kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc thực hiện tất cả các công đoạn của quá trình từ đầu tư sản xuất đến tiêu thụ hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Các doanh nghiệp quan tâm nhất chính là vấn đề hiệu quả kinh doanh.
Sản xuất kinh doanh có hiệu quả giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Hiểu theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với phạm trù lợi nhuận, là hiệu số giữa kết quả thu về với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất và quản lý của mỗi doanh nghiệp. Trương Bá Thanh, 2009).
“Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Kinh doanh là một trong những hoạt động phong phú nhất của loài người. Hoạt động này thường được thông qua các thể chế như tập đoàn, Công ty. Nhưng cũng có thể là hoạt động tự thân của các cá nhân như sản xuất, buôn bán nhỏ kiểu hộ gia đình.
Kinh doanh được coi là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá. Gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương pháp mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình. Nó bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận chuyển, thương mại, tiếp thị…. Trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời tốt nhất.
Kinh doanh còn được coi là một hoạt động sáng tạo của loài người như tạo ra sản phẩm mới và dịch vụ mới cho con người, cho xã hội, tạo ra việc làm và thu nhập cho người dân, tạo ra các khoản thuế nộp ngân sách để xây dựng đất nước và cuối cùng là tạo động lực thức đẩy xã hội phát triển. Chính nhờ tính chất này mà kinh doanh trở nên phổ biến, thu hút sự tham gia của hầu hết người dân trong xã hội và là hoạt động không thể thiếu trong quá trình phát triển của xã hội. Khái niệm hiệu quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh 1. Khái niệm hiệu quả Hiệu quả (efficiency) là thước đo năng suất tương đối, mang tính cạnh tranh.
Hiệu quả đánh giá chất lượng hoạt động. Hiệu quả là mối quan hệ giữa các đầu vào nhân tố khan hiếm và sản lượng hàng hóa và dịch vụ. Mối quan hệ này có thể tính bằng hiện vật (hiệu quả kỹ thuật) hoặc giá trị (hiệu quả kinh tế). Khái niệm, phân loại, bản chất hiệu quả kinh doanh ► Khái niệm Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế theo chiều sâu, thể hiện khả năng khai thác nguồn lực và trình độ sử dụng chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh để đạt được mục tiêu đã đề ra một cách tối ưu nhất.
Đó là cơ sở và là thước đo quan trọng để đánh giá khả năng quản trị nhằm hướng đến đến mục tiêu của doanh nghiệp. Bản chất của việc nâng cao hiệu quả sản xuất đó là nâng cao năng suất lao động và sử dụng tiết kiệm các nguồn lực của doanh nghiệp. Như đã trình bày ở trên, để đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, cần phải xác định rõ mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.“ Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều bị chi phối bởi những quy luật khách quan và mục tiêu của chính nó”. Vì vậy, sau khi mục tiêu đã hoàn thành sẽ điều chỉnh lại quá trình sản xuất kinh doanh để hướng mục tiêu đó đến mức cao nhất có thể đạt được.
Chúng ta có thể mô tả hiệu quả sản xuất kinh doanh bằng công thức khái quát nhất: 𝐊 𝐇 = 𝐂 Trong đó: H: Hiệu quả sản xuất kinh doanh K: Kết quả đạt được của quá trình kinh doanh C: Nguồn lực cần thiết để tạo được kêt quả đó 6 Công thức này cho ta biết, mỗi đơn vị đầu vào sản xuất được bao nhiêu đơn vị đầu ra, từ đó thể thiện hiệu quả sử dụng đầu vào của doanh nghiệp. Điều kiện để phân tích tính hiệu quả + Để đánh giá doanh nghiệp có đang hiệu quả hay không, việc cần thiết là xác định những “mốc” hay “giới hạn”, dựa vào đó để so sánh với kết quả hoạt động kinh doanh xem doanh nghiệp hiện đang ở trên hay dưới giới hạn đó. + Có thể lấy chính mình trong quá khứ để đối chiếu xem hiện tại mình có cải thiện được kết quả hay không, đã khắc phục được những thiếu sót hay không. + Có thể lấy bình quân của ngành, của những đối thủ cạnh tranh trực tiếp hay có thể lấy giá trị bình quân của nước, khu vực hay thế giới để đánh giá.
Những mốc này sẽ giúp doanh nghiệp đánh giá được mình có đang làm tốt hơn những đối thủ hay không, từ đó có những kế hoạch, chiến lược phù hợp tiếp theo. ► Bản chất Trong giáo trình Quản trị kinh doanh của trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân: “Hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh, trình độ lợi dụng các nguồn lực trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong quá trình vận động không ngừng của các quá trình hoạt động kinh doanh”. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải được xem xét một cách toàn diện và cặn kẽ, từ thời gian cho đến các chỉ tiêu định tính và định lượng. Về mặt thời gian, yếu tố quan trọng là hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp qua các năm, các thời kỳ phải luôn có chiều hướng tăng trưởng và cải thiện, tương lai phải luôn tốt hơn quá khứ.
Về mặt định tính và định lượng, đòi hỏi sự chính xác và kịp thời của những con số thống kê, sự sáng suốt và khách quan trong quá trình đánh giá, nhìn nhận tình hình, sự đúng đắn của những giải pháp, chiến lược trong tương lai. Từ đó, yêu cầu doanh nghiệp quản trị tốt các yếu tố bên trong, thích ứng và vững vàng trước những yếu tố bên ngoài để hoàn thành mục tiêu bao trùm và lâu dài là tối đa hóa lợi nhuận. Có thể làm rõ bản chất của hiệu quả kinh doanh thông qua việc so sánh với kết quả kinh doanh: 7 + Kết quả kinh doanh là tất cả những gì thu được sau một quá trình sản xuất nhất định. Đó có thể là doanh thu, lợi nhuận, số sản phẩm bán ra, số sản phẩm sản xuất được, số khách hàng,.hoặc có thể là uy tín, là sự tin cậy, là tình cảm của khách hàng, độ nhận diện thương hiệu quả doanh nghiệp,.Kết quả kinh doanh thể hiện mục tiêu của doanh nghiệp.
+ Để tính toán hiệu quả kinh doanh thì cần đến cả hai tiêu chí là kết quả đạt được và nguồn lực cần thiết để tạo ra kết quả đó (có thể được tính bằng hiệ vật hay giá trị), nếu sử dụng hiện vật thì sẽ gây khó khăn trong việc phân tích và đối chiếu vì đôi khi đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất không cùng đơn vị, trong khi nếu quy đầu vào và đầu ra thành giá trị để tính toán thì kết quả sẽ có đơn vị đồng nhất. Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh và được sử dụng như là một công cụ để đo lường khả năng đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Có thể thấy, hiệu quả sản xuất kinh doanh thể hiện mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh, còn kết quả kinh doanh chỉ là yếu tố và phương tiện để đánh giá hiệu quả. ► Phân loại * Hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế: “Phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu kinh tế (tốc độ tăng trưởng kinh tế, tổng sản phẩm quốc nội, thu nhập quốc dân,…) của một thời kỳ nào đó.
Theo Nguyễn Đức Nỵ (2000) thì hiệu quả kinh tế là mối tương quan giữa các yếu tố đầu vào khan hiếm với đầu ra hàng hóa dịch vụ và khái niệm trên dùng đề nghiên cứu, đánh giá tình hình phân bố, sử dụng tài nguyên trên thị trường. Vì vậy, khái niệm hiệu quả kinh tế có thể hiểu là trình độ sử dụng các đầu vào khan hiếm để tạo đầu ra đáp ứng mục tiêu của doanh nghiệp. Theo Farrell (1957), hiệu quả kinh tế tổng thể gồm có hai thành phần, đó là hiệu quả kỹ thuật TE (technical efficiency) và hiệu quả phân bổ AE (allocative efficiency), cụ thể: 8 + Hiệu quả kỹ thuật TE (technical efficiency) phản ánh các khả năng của một doanh nghiệp đạt được đầu ra lớn nhất với các đầu vào cho trước, một doanh nghiệp khi đạt được hiệu quả kỹ thuật sẽ có thể tối thiểu hóa chi phí nhưng không làm sụt giảm doanh thu. Như vậy, TE liên quan đến quản trị quá trình sản xuất và chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố vi mô của doanh nghiệp như trình độ chuyên môn, tay nghề sản xuất của lao động, khoa học công nghệ được áp dụng vào quá trình sản xuất,.
+ Hiệu quả phân bổ AE (allocative efficiency) phản ánh khả năng của một doanh nghiệp sử dụng các đầu vào với mức tỷ trọng tối ưu, với giá của các đầu vào cho trước , hay nói cách khác là chỉ số đánh giá trình độ lựa chọn tỷ lệ các đầu vào của sản xuất nhằm tối thiểu hóa chi phí với giá của các đầu vào cho trước. Như vậy AE sẽ chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi khả năng phân tích và lựa chọn tỷ lệ của nhà quản trị. + Hai thước đo TE và AE khi kết hợp sẽ cho chúng ta một thước đo về hiệu quả kinh tế EE (Economic efficiency), EE = TE*AE.