mở đầu và đứng đầu khuynh hướng cấu trúc luận thế kỷ XX - F. Saussure, đã phân định rạch ròi “ngôn ngữ” với "lời nói” trong hoạt động ngôn ngữ. Trong Giáo trình ngôn nga học đại cương ông đã khẳng định “ngôn ngữ là bộ phận xã hội của hoạt động ngôn ngữ tồn tại ở bên ngoài cá nhân” [45, 38], "nó là một sản phẩm xã hội lưu trữ trong óc mỗi người” (45, 52]. "Ngôn ngữ tôn tại trong tập thể dưới dạng thức một tổng thể những dấu vết đọng lại trong mỗi bộ óc đại loại như một quyển từ điển mà tất cd bản in, vốn khác biệt nhau, được phân phối cho từng cá nhân”|45, 45] còn “ngược lại, lời nói là một hành động cá nhân" (45, 87] “nó là cái tổng thể của những điều mà người ta nói, và gdm có a Tính chất giao thời trong.
SVTH: Nguyén Thj Nhu Trang những cách kết hợp của cá nhân tay theo ý của những người nói: những hành động phát âm cũng tùy ý như vậy; can thiết cho việc thực hiện những cách kết hợp nay"[45, 45-46]. Như vậy “ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp ở dạng khả năng tiém tàng, trừu tượng hóa khỏi bất kỳ một sự áp dụng cụ thể nào của chúng. Còn lời nói là phương tiện giao tiếp ở dạng hiện thực hoá, tức là ở dạng hoạt động, gắn lién với những nội dung cụ thể” (16, 311]. Trong lời nói không có gì là "rap thể" cả, những biểu hiện của nó đều có tính chất cá nhân và nhất thời.
Soi rọi vào trong văn học, trong bản thân để tài mà người viết thực hiện, việc phân biệt giữa "ngôn ngữ” với “lời nói” là cơ sở cho sự phân biệt giữa “ngôn ngữ văn học" với “ngôn từ nghệ thuật". Hiểu như vậy sẽ cho chúng ta có một cái nhìn có căn cứ phổ quát hơn, chính xác hơn vé sự cần thiết phân biệt "ngôn ngữ” với “ngôn tic” khi ban về tác phẩm văn chương. Thuật ngữ “Ngdn từ nghệ thuật” được sử dung trong để tài này cho thấy được tính cập nhật của một thuật ngữ mà trước nay nhiều người vẫn gọi chung là “Ngôn ngữ văn chương”. Đó cũng là tiền để góc tiếp cận để có thể thấy 1d hơn dấu cá tính sáng tạo trong hoạt động ngôn ngữ của thì sĩ Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu.
đến quan niệm ''ngôn từ nghệ thuật'' của các nhà lý luận văn học: Theo các nhà lý luận văn học thì ngôn từ nghệ thuật “là một hiện tượng nghệ thuật do nghệ sĩ sáng tạo ra theo nguyên tắc nghệ thuật. Tính hình tượng và tính tổ chức đặc thù tạo nên tính nghệ thuật của nó" [47, 166]. Vì “văn học là nghệ thuật ngôn tit”, do đó “sé không hiểu được đặc trưng của văn học nếu bỏ qua đặc điểm thé hiện nghệ thuật của ngôn từ, nhà văn không thể tư duy nghệ thuật bên ngoài các khả năng nghệ thuật cua ngôn tit” [36, 183]. Để làm sáng tỏ khái niệm “Ngdn từ nghệ thuật”, các nhà lý luận văn học đã phân biệt giữa “ngôn ngữ” và "ngôn từ” với "lời nói”: "Khoa học hiện đại phân biệt ngôn ngit (tiếng) và lời nói (phát ngôn nái hoặc viết).
Ngôn từ là lời nói viết người ta dàng làm chất liệu để sáng tác văn học. Nếu ngôn ngữ là tổng thể tất cả các đơn vị, phương tiện, các kết hợp mà lời nói sử dụng (ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, SAPs Tinh chất giao thời trong. SVTH: Nguyễn Thị Như Trang các phương thức tu từ.); lời nói la hình thức thn tai thực tế của ngôn ngữ vốn phong phú, sinh động, đa dạng thì ngôn từ là lời nói được sử dụng với tất cả thẩm mỹ và khả năng nghệ thuật của nó” (36, 183]. Như vậy “ngôn từ là lời nói vốn lấy câu làm cơ sở nên nó tương ứng với hình thức tạo hình và biểu hiện trong văn học, ứng với sự phdn ánh các tương quan, quan hệ của thực tế đời sống thực tại”.
Thông thường, có nhiều người nói chất liệu của văn học là ngôn ngữ, theo các nhà lí luận văn học thì đó là cách nói không sai nhưng theo tập quán có trước sự phân biệt khoa học. Cho nên "muốn chính xác phải gọi chất liệu đó là lời nói”{36, 184]. Các nhà lí luận văn học cũng đã chỉ ra sự khác biệt giữa lời văn của tac phẩm văn học với "ngôn nt nghệ thuật": “Nếu như ngôn từ - tức là lời nói, viết trong tất cả tính chất thẩm mỹ của nó là chất liệu của sáng tác văn học, thì lời văn là hình thức ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm văn học” (36, 313]. "Văn học là nghệ thuật ngôn tit”, thực chất nói như vậy là nói văn học là nghệ thuật sử dụng lời nói, câu văn, bài văn (nói, viết) một cách nghệ thuật vào mục đích nghệ thuật.
Như vậy “ngôn từ nghệ thuật được viết ra có dụng ý tạo nên một sản phẩm tương đối độc lập với hệ thống giao tiếp tự nhiên là ngôn ngữ” (36, 318]. Trong khi đó “Ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ toàn dân thống nhất trên cơ sở kinh tế văn hoá" |36, 318]. Vậy thì "Ngôn từ nghệ thuật” không còn là hiện tượng ngôn ngữ mang chức năng giao tiếp thông thường, mà đã được đưa vào một hệ thống giao tiếp khác, mang chức năng khác. Chính vì thế “Ngdn ngữ văn học” và "Ngôn từ nghệ thuật” không đồng nhất với nhau.
Người đọc, học văn không những phải biết “Ngôn ngữ văn học” mà hơn thế phải biết chiếm lĩnh “Ngén từ nghệ thuật” của tác phẩm văn học. Khả năng nghệ thuật của ngôn từ thể hiện ở tính hình tượng của nó. Đó là khả năng gợi lên những hình tượng nghệ thuật, đưa ta thâm nhập vào thế giới của những cảm xúc, ấn tượng, suy tưởng mà ngôn ngữ thông thường ít khi truyền đạt được. Tính hình tượng của ngôn từ nghệ thuật bắt nguồn từ chỗ đó là lời của một chủ thể tư tưởng thẩm mi xã hội có tầm khái quát nhất định.
Nhờ thế, lời của một Tinh chất giao thời trong. SVTH: Nguyễn Thị Như Trang người dễ dàng đi vào lòng nhiều người, trở thành lời nói của muôn người. Do đó ngôn từ nghệ thuật là *iời của thế giới hình tượng muốn tự nói lên bằng ngôn từ” [36, 315]. Một bình diện nữa trong khả năng nghệ thuật của ngôn từ thể hiện ở chỗ bất cứ lời nói, lời viết nào cũng có thể xem như một chỉ tiết của đời sống bộc lộ những bản chất sâu kín khác với nội dung trực tiếp của lời nói.
Như vậy, ngôn từ nghệ thuật không những giàu tính hình tượng mà còn giầu sức biểu hiện. Bên cạnh đó, ngôn từ nghệ thuật còn có “tinh tổ chức cao mang tính toàn ven, tính hình tượng của từ” (36, 316]. góp phan to lớn trong việc xây dựng ngôn ngữ văn học. Sử dụng thuật ngữ “Ngdn từ nghệ thuật" tức là muốn nhấn mạnh đến “todn bộ các đặc điểm của văn bản nghệ thuật của tác phẩm văn học như là một chỉnh thể toàn vẹn, sinh động” (36, 185] nhấn mạnh đến kết quả sáng tạo của nhà văn trong quá trình phan ánh đời sống, thể hiện tư tưởng, tình cảm và tác động thẩm mỹ đến người đọc.
Tóm lại “Sự phân biệt “ngôn ngữ” và "lời nói” cũng được áp dụng vào lĩnh vực nghệ thuật. Khi nói "ngôn từ nghệ thuật” là nói “ma”, nói tới một hệ thống các phương thức phương tiện tạo hình, biểu hiện, hệ thống các quy tắc thông báo bằng tín hiệu thẩm mỹ của một ngành một sáng tác nghệ thudt. Người ta có thể nói "ngôn ngữ ba lệ", “ngôn ngữ chèo", “ngôn ngữ điện ảnh”. Cũng có thể nói đến ngôn ngữ nghệ thuật của sáng tác văn học trên cấp độ đó và như vậy sự phân biệt "ngôn từ”, *ngôn ngữ" là vô cùng cần thiết" [36, 185 - 186].
“NGON TỪ NGHỆ THUAT” DƯỚI MAT CÁC NHÀ VĂN VÀ CÁC NHÀ VĂN HỌC SỬ VIỆT NAM Ngôn từ nghệ thuật bắt nguồn từ ngôn ngữ toàn dân nhưng cách sử dụng nó thì lại phụ thuộc vào nhãn quan ngôn ngữ của mỗi thời đại, mỗi trào lưu văn học, gắn với bối cảnh văn hoá khu vực dân tộc. Vì đặc điểm của "gôn từ nghệ thuật" là “phuc tùng cấu trúc hình tượng của tác phẩm, phục tùng đặc điểm của ý thức Tinh chất giao thời trong. SVTH: Nguyễn Thị Như Trang nghệ thuật tư duy nghệ thuật và có tính tổ chức rất cao” (19, 149] nên ngôn từ nghệ thuật thơ có những thuộc tính khác với các loại hình ngôn từ nghệ thuật văn xuôi, kịch, sử thi. Ngôn từ nghệ thuật thơ là ngôn từ được tổ chức trên cơ sở nhịp điệu hết sức cô đọng, hàm súc và đặc biệt giàu nhạc tính dù diéu này thể hiện không giống nhau về mức độ, Với để tài “Tính chất giao thời trong ngôn từ nghệ thuật thơ Tản Đà", người viết sẽ đi tìm hiểu quan điểm và đặc trưng về ngôn từ nghệ thuật thơ của các nhà văn học sử Việt Nam thời trung đại và hiện đại.
Từ đó khi đi vào nội dung chính của để tài chúng tôi sẽ lấy đó làm cơ sở để soi rọi vào ngôn từ nghệ thuật trong thơ Tản Đà và chỉ ra tính chất giao thời, cái mới và cái cũ trong ngôn từ nghệ thuật thơ thi nhân. Thời trung đại: 1.1 Từ một góc độ nào đó, có thể nói lịch sử phát triển văn học cũng là lịch sử phát triển của ngôn từ nghệ thuật. Lịch sử văn học Việt Nam được chia làm hai thời đại, ứng với hai phạm trù Trung đại và Hiện đại. Mỗi phạm trù có một nhãn quan chủ đạo về ngôn ngữ.
Ở văn học thuộc phạm trù Trung đại, các nhà nghiên cứu văn học sử chưa có sự phân biệt giữa hai khái niệm Ngôn ngữ văn học và Ngôn từ nghệ thuật. Với quan niệm “nguyên tử luận" về "Ngôn từ nghệ thuật” xem văn là tổng hợp của các từ rời, thì các nhà văn học sử Việt Nam truyền thống thiên về cảm thụ ngôn từ qua câu hay từ đất. Văn học thời trung đại “xây đựng những quy tắc chủ yếu tổ chức tác phẩm trên cơ sở đặc tính chất liệu với mô hình tác phẩm thơ lấy sự hài hoà cân đối làm nên tang” |46, 12-13]. VỀ cơ bản con người trong thơtrung đại là con người “siéu cá thể”, đó là con người của vũ trụ.
Con người tổn tại như một phần của vũ trụ đứng giữa đất trời. Xung quanh là “can khôn, nhật nguyệt"; bốn bên là “ring, trác, các, mai”. giữa con người và vũ trụ có mối quan hệ gắn bó, cảm ứng lẫn nhau. Chính vì thế, tiếng thơ trung đại như là “tiếng nói giữa trời”.