Đặt vấn đề Nấm Linh chi (Ganoderma lucidum) từ lâu đã được xem dược liệu thượng phẩm trong đông y,xếp vào hàng đầu trong danh mục nấm dược liệu .Nấm linh chi còn có những tên khác như Tiên thảo ,Nấm trường thọ ,Vạn niên nhung. Ngày nay khi khoa học phát triển,nấm Linh chi còn được các nhà khoa học trên thế giới chứng minh được tác dụng hữu ích trong việc hỗ trợ điều trị bệnh : ung thư,cao huyết áp ,tiểu đường ,tim mạch ,HIV ,siêu gan siêu vi ,suy nhược thần kinh …Với những tác dụng thần kì đó ,nấm Linh chi đang được nghiên cứu và nuôi trồng ở nhiều nơi trên thế giới như Nhật Bản ,Hàn Quốc ,Trung Quốc ,. Ở Việt Nam các trang trại trồng nấm Linh chi đang được mở rộng và phát triển mạnh mẽ nhờ tận dụng nguồn nguyên liệu nuôi trồng là phế,phụ phẩm nông ,lâm nghiệp như rơm ,mùn cưa ,vỏ hạt bông ,lõi ngô ,.;sử dụng nguồn lao động khi nông nhàn ;thêm vào đó điều kiện khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới rất thích hợp để trồng nấm mang lại hiệu quả kinh tế cao ,góp phần xử lý ô nhiễm môi trường ,… Thực tế hiện nay,các chủng nấm Linh chi được đưa vào sản xuất đại trà ở Việt Nam là tương đối ít gây nhiều hạn chế về năng suất ,chất lượng và điều kiện nuôi trồng được cũng rất hạn hẹp. Chủng Linh chi Ga-CB20 mới được thu thập tại Vườn quốc gia Cát Bà – Hải Phòng,có hình thái quả thể đẹp ,có tiềm năng đưa vào sản xuất .Với mục đích góp phần làm phong phú thêm cho nguồn giống Linh chi hiện nay và góp phần từng bước cho các nghiên cứu nâng cao chất lượng ,năng suất nấm Linh chi ,chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của chủng nấm linh chi Ga-CB20 trên một số giá thể nhân giống và nuôi trồng”.2 Mục đích Nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của chủng nấm Linh chi Ga-CB20 trên một số giá thể nhân giống và nuôi trồng.3 Yêu cầu Nghiên cứu sự sinh trưởng của chủng nấm Linh chi Ga-CB20 trên một số môi trường nhân giống cấp 2.
1 Nghiên cứu sự sinh trưởng,phát triển của chủng nấm Linh chi Ga -CB20 trên một số giá thể nuôi trồng. Nghiên cứu ảnh hưởng của các nguồn giống khác nhau đến sự sinh trưởng,phát triển của chủng nấm Linh chi Ga -CB20. 2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Khái quát về nấm Năm 1969 nhà khoa học người Mỹ R.Whitaker đưa ra hệ thống phân loại: - Giới khởi sinh (Monera): Gồm vi khuẩn và tảo lam.
- Giới nguyên sinh (Protista): Gồm một số tảo đơn bảo, nấm đơn bảo có khả năng di động nhờ lông roi (tiên mao) và các động vật sinh. - Giới thực vật (Plantae hay Vegetabilia). - Giới động vật (Animalia). Năm 1973 nhà khoa học A.Takhtadjan đưa ra hệ thống phân loại như sau: - Giới Mycota: gồm vi khuẩn và vi khuẩn lam - Giới nấm - Giới thực vật - Giới động vật Hiện nay, các nghiên cứu về nấm người ta thường dựa vào hệ thống phân loại của R.
Khóa phân loại nấm hiện đại bao gồm các ngành và ngành phụ như sau: (Allexopolous, 1962) - Ngành nấm nhẩy (Exomycotina): loài nấm này có cả hai tính chất động vật và thực vật, chúng sinh sản bằng bào tử, nhưng tế bào lại là khối sinh chất không có vách ngăn bao bọc, di chuyển và nuốt thức ăn như động vật (amib). - Ngành nấm thật (Eumycotina): chiếm số lượng lớn, bao gồm các tế bào với nhân tương đối hoàn chỉnh. Tế bào nấm có vách bao bọc như tế bào thực vật, đa số cấu tạo bởi chitin. Nhiều tế bào nấm còn tích trữ đường ở dạng glycogen, giống như động vật.
Một số loài sinh sản theo lối tạo những giao từ có lông roi để di động (động bảo tử), nhưng hợp tử lại phát triển theo 1 kiểu chung của nấm (Lê Duy Thắng, 1999). Dựa theo tổ chức hình thái, nấm có thể được xắp xếp thành 4 lớp chính: - Lớp Phycomycetes (Lớp nắm tảo): sợi không có vách ngăn ngang, có động bào tử, gồm 2 lớp phụ: + Lớp phụ Oomycetes (Nấm noãn). 3 + Lớp phụ Zygomycetes (Nấm tiếp hợp). Thường gặp ở những nấm lớn có tại nấm (nấm rơm, nấm hương.
Nấm không có lục lạp, không có sự phân hóa thành rễ, thân, lá, không có hoa, phần lớn không chứa cellulose trong thành tế bào, không có một chu trình phát triển chung như thực vật. Nấm hấp thu chất dinh dưỡng cần thiết từ cơ thể khác hay từ đất qua bề mặt của tế bào hệ sợi nấm, sinh sản bằng cách tạo bào tử hữu tính hoặc vô tính. Hệ thống phân loại sinh giới hiện nay đều coi nấm là một giới riêng, độc lập giới thực vật và giới động vật. Giới thiệu chung về nấm Linh chi Ganoderma lucidum Linh chỉ có rất nhiều tên gọi: Nấm vạn năm, Nấm thần tiên, Có trường sinh,Hạnh nhĩ.
ở Trung Quốc có tên Ling zhi, trong tiếng Nhật là Mannentake, ở Việt Nam gọi là nấm Linh chi (Nguyễn Lân Dũng, 2004; Trịnh Tam Kiệt, 2013). Trong sách “Thần nông bản thảo cách đây khoảng 2000 năm thời nhà Châu và sau đó được nhà được học nổi tiếng Trung Quốc Lý Thời Trân phân ra thành “Lục Bảo Linh Chi" thời nhà Minh với các khái quát công dụng dược lý khác nhau, ứng theo từng màu. Theo Lý Thời Trân thì nấm Linh chỉ có 6 màu khác nhau: - Xích chi (Linh chi đỏ còn gọi Hồng chi): Vị đắng, tính bình, không độc. Chủ trị xung trung kết (tức ngực) ích tầm khí, bổ trung, tăng trí nhớ, tăng trí tuệ, - Hắc chi (Linh chi đen còn gọi Huyền chi): Mặn, bình, không độc.
Chủ trị ù tai,lợi khớp, bảo thần (bảo vệ công năng của hệ thần kinh) ích tinh khí, làm dai gân cốt. - Thanh chi (Linh chi xanh còn gọi Long chi): Toàn bình, không độc. Chủ trị sáng mắt, bổ can khí,an thần, tăng trí nhớ. - Bạch chi (Linh chỉ trắng còn gọi Ngọc chi): Cay, bình, không độc.
Chủ trị ích phế khí, làm thông miệng, mũi,an thần. - Hoàng chi (Linh chi vàng còn gọi Kim chi): Cam (ngọt) bình, không độc. Chủ trị ích trùng khí, an thần. 4 - Từ chi (Linh chi tím còn gọi là Mộc chi): Ngọt, ôn, không độc.
Chủ trị lợi thủy đạo (lợi tiểu), ích thận khí 2. Phân loại học của nấm Linh chi Ganoderma lucidum Theo Đinh Xuân Linh và cs (2012). Nấm Linh chỉ có tên khoa học là: Ganoderma lucidum (Curtis) P. -Tên tiếng Anh: Ling zhi, Reishi -Tên khác: Xích chỉ, đan chi, tiên thảo, thụy thảo, Theo tác giả Trịnh Tam Kiệt (2011), nấm Linh chỉ thuộc: Giới: Nấm Fungi Ngành: Nấm đảm Basidiomycota Lớp: Agaricomycetes Bộ: Nấm lỗ Polyporales Họ: Linh chi Ganodermataceae Chi: Linh chi Ganoderma Loài: Linh chi Ganoderma lucidum 2.
Phân bố Nấm Linh chi phân bố rộng rãi ở vùng rừng rậm nhiệt đới và cận nhiệt đới ở Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ Được khai thác lâu đời nhất ở Trung quốc, Việt Nam và Ấn Độ. Hiện được trồng theo công nghệ thâm canh ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và bắt đầu trồng ở một số nước Đông Nam Á và Nam Mỹ. Chi nấm Linh chi (Ganoderma) bao gồm khoảng 80 loài nấm phân bố rộng trên vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới trên khắp thế giới. Loài nắm này sống hoại sinh trên vỏ cây đại thụ sần sùi hay trên thân cây gổ đã chết, trong tự nhiên chúng sống trong các rừng rậm nhiệt đới cho đến rừng cây lá kim ở vùng ôn đới.
Nấm mọc trên gốc, rễ cây sống và cây đã chết, trên rất nhiều cây gỗ mọc trong rừng và công viên như cây ăn quả đặc biệt là các cây thuộc bộ Đậu như Lim xanh, Lim vàng, Phượng vĩ. đều bị nấm này xâm nhập. Gặp nhiều ở khắp nơi trong nước ta. Là loài phân bố khắp thế giới (Trịnh Tam Kiệt, 2011).
Đặc điểm hình thái Quả thế nấm Linh chỉ có thể chia làm 2 phần: cuống và phiến nấm. Cuống dài hoặc ngắn, thường đỉnh bên, đôi khi trở thành đánh tầm do quá liền tán mà thành. Cuống nằm thường hình trụ, hoặc thanh mảnh (cỡ 0,3 – 0,8 cm đường kính), hoặc mập khỏe (tới 2 – 3,5 cm đường kính). Ít khi phân nhánh, đối khi có uốn khúc cong quẹo (do biến dạng trong quá trình nuôi trồng).
Lớp vỏ cuống láng đỏ – nâu đỏ – nâu đen,bóng, không có lông, phủ suốt lên mặt tán nấm. Phiến nấm dụng thận – gần tròn, đôi khi xòe hình quạt hoặc ít nhiều dị dạng đồng tâm và có tia rảnh phóng xạ, màu sắc từ vàng chanh – vàng nghệ - vàng nâu vàng cam – đỏ nâu – nâu tím, nhẵn bóng, láng như verni. Khi già, sẫm màu lớp vỏ láng lớp phấn đỏ nâu trên bề mặt ngày càng nhiều và dày hơn. Kích thước tại nấm biến động lớn, từ 5 – 12 cm, dày 0,8 – 3,3 cm.
Phần định cuống hoặc gồ lên hoặc lõm như lõm rốn (Nguyễn Hữu Đổng, 2002). Mặt dưới mũ nấm phẳng, có màu trắng hoặc màu vàng nhạt, mặt này có nhiều lỗ nhỏ li ti. Đây chính là nơi hình thành và phát tán các bào tử nấm. Khi nắm đến tuổi trưởng thành phát tán bào từ từ lỗ sinh bào tử ở phía dưới phiến có màu nâu sẫm.
Bào tử của nấm Linh chỉ có hình trứng hoặc hình trứng cụt, có phần phụ không màu bao quanh lỗ nảy mầm, có màu vàng rỉ sắt. Bào tử đảm có vỏ với cấu trúc hai lớp màng, màng ngoài nhẵn, không màu, màng trong màu nâu rỉ, phát triển thành những gai nhọn vươn sát màng ngoài. Kích thước 5 – 6,5 x 8,5 - 11. Chu trình sống của nấm Linh chi Chu trình sống của nấm Linh chi bắt đầu từ khi quả thể trưởng thành và phóng thích bào tử đảm đơn bội vào không khí để phát tán nhờ gió.
Khi gặp điều kiện thuận lợi về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng. bào tử đảm sẽ nảy mầm, hình thành hệ sợi nấm sơ cấp đơn nhân. Hệ sợi sơ cấp phát triển thành hệ sợi thứ cấp nhờ sự tiếp hợp sợi sơ cấp. Hệ sợi thứ cấp phát triển và phân nhánh mạnh trên toàn bộ giá thể và chiếm hầu hết chu kỳ sống của Linh chi ở giữa hai sợi sơ cấp.Hệ sợi thứ cấp phát triển và phân nhánh mạnh trên toàn bộ giá thể và chiếm hầu hết chu kỳ sống của Linh chi.Chu kì phát triển của nấm Linh chi (Nguồn:Nguyễn Lân Dũng -2001) Hệ sợi thứ cấp phát triển đến khi đạt đến giai đoạn cộng bào thì các vách ngăn được hòa tan.Sau đó hệ sợi hấp thu và tích lũy dinh dưỡng rồi liên kết lại tạo mầm quả thể.