phần mở đầu và kết luận, nội dung khóa luận đƣợc kết cấu bao gồm 3 chƣơng sau: Chƣơng 1: Tổng quan về rủi ro thanh khoản và quản trị rủi ro thanh khoản trong NHTM Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam Chƣơng 3: Các giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam (BIDV) 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO THANH KHOẢN VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Rủi ro thanh khoản trong hoạt động của NHTM 1. Khái niệm về thanh khoản và rủi ro thanh khoản trong ngân hàng Thanh khoản là thuật ngữ thƣờng xuyên đƣợc sử dụng trong thị trƣờng tài chính, đầu tƣ. Cụ thể nhƣ sau: Theo nhà kinh tế học Keynes: “Tính thanh khoản chỉ mức độ mà một tài sản bất kỳ có thể đƣợc mua hoặc bán trên thị trƣờng mà không làm ảnh hƣởng nhiều đến giá thị trƣờng của tài sản đó.
Một tài sản có tính thanh khoản cao nếu nó có thể đƣợc bán nhanh chóng mà giá bán không giảm đáng kể, thƣờng đƣợc đặc trƣng bởi số lƣợng giao dịch lớn”. Nhƣ vậy, tính thanh khoản là khả năng chuyển đổi thành tiền của một loại tài sản bất kỳ và tài sản đƣợc gọi là có tính thanh khoản cao nếu tài sản đó có thể chuyển đổi thành tiền trong thời gian ngắn với chi phí thấp. Theo Basel (2000) thì “ Khả năng thanh khoản của ngân hàng hay khả năng đáp ứng nguồn vốn cho sự tăng lên của tài sản có và thanh toán các khoản nợ khi đáo hạn”. Theo Basel (2008) “Thanh khoản ngân hàng là khả năng ngân hàng có thể tài trợ việc gia tăng của tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ đến hạn mà không gây ra những khoản tổn thất vƣợt quá mức cho phép” Trong bài nghiên cứu này, tính thanh khoản đƣợc hiểu là: “Thanh khoản thể hiện là khả năng thực hiện tất cả nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn đến mức tối đa và bằng đơn vị tiền tệ đƣợc quy định”.
Tính thanh khoản trong ngân hàng đƣợc thể hiện thông qua mối tƣơng quan giữa cung – cầu thanh khoản của ngân hàng trong từng giai đoạn nhất định. Cung thanh khoản Cung thanh khoản là số tiền có sẵn hoặc có thể có trong khoảng thời gian ngắn để ngân hàng sử dụng. Cung thanh khoản trong ngân hàng bao gồm các cấu phần sau: Tiền gửi của Khách hàng, Doanh thu từ việc bán các dịch vụ phi tiền gửi, Thanh toán nợ của khách hàng, Bán tài sản, Vay từ thị trƣờng tiền tệ. 6 Cầu thanh khoản Cầu về thanh khoản là số tiền ngân hàng có nhu cầu chi trả ngay lập tức hoặc trong một thời gian ngắn.
Các bộ phận của cung thanh khoản bao gồm: Khách hàng rút tiền gửi, Yêu cầu vay vốn từ Khách hàng có chất lƣợng tín dụng cao, Thanh toán các khoản vay phi tiền gửi, Chi bằng tiền và thuế, Thanh toán cổ tức bằng tiền. Trạng thái thanh khoản của ngân hàng Trạng thái thanh khoản ròng (khe hở thanh khoản) – NLP (Net Liquidity Position) NLP = Cung thanh khoản Cầu thanh khoản Các trạng thái thanh khoản của ngân hàng thƣơng mại: - Thặng dƣ thanh khoản: (NLP > 0): Khi cung thanh khoản đang lớn hơn cầu thanh khoản, Ngân hàng đang trong trạng thái dƣ thừa tiền mặt. Lúc này NHTM cần xác định đầu tƣ hiệu quả khoản thặng dƣ này tới khi cần sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong tƣơng lai. - Thâm hụt thanh khoản: Khi cung thanh khoản đang nhỏ hơn cầu thanh khoản, Ngân hàng rơi vào trạng thái thiếu hụt thanh khoản, thiếu hụt tiền mặt để thực hiện các khoản chi trả.
Lúc này, NHTM cần phải xác định nguồn tài trợ thanh khoản từ đâu, chi phí để bổ sung thanh khoản bị thiếu hụt. - Cân bằng thanh khoản: Khi cung thanh khoản bằng cầu thanh khoản tuy nhiên đây là trạng thái hiếm khi xảy ra trong thực tế. Theo Basel II “Rủi ro thanh khoản là rủi ro mà một định chế tài chính không đủ khả năng tìm kiếm đầy đủ nguồn vốn để đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không làm ảnh hƣởng đến hoạt động kinh doanh hàng ngày và cũng không gây tác động đến tình hình tài chính”. Nhƣ vậy có thể hiểu, rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không có dủ các nguồn tài chính để thanh toán các nghĩa vụ nợ vào thời điểm đến hạn hoặc phải sử dụng nguồn tài chính với chi phí cao mặc dù ngân hàng vẫn có khả năng thanh toán.
Rủi ro thanh khoản sẽ làm ảnh hƣởng tới hoạt động kinh doanh và uy tín của ngân hàng, gây tổn thất, thua lỗ và thậm chí dẫn đến phá sản. Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra bởi ngân hàng luôn phải đối mặt với sự chênh lệch về kỳ hạn giữa tài sản và nợ. Vì vậy các ngân hàng có thể rơi vào tình trạng thanh khoản kém nếu nhƣ chịu tác động mạnh của thị 7 trƣờng nếu không quản trị đƣợc rủi ro. Về cơ bản rủi ro thanh khoản đƣợc chia thành các nhóm nhƣ sau: 1.
Dấu hiệu nhận biết rủi ro thanh khoản trong ngân hàng Trong hoạt động kinh doanh, một ngân hàng luôn tiềm ẩn các dấu hiệu về rủi ro thanh khoản. Các dấu hiệu này có thể nhận biết thông qua thu thập, phât tích những thông tin, tín hiệu từ thị trƣờng bao gồm: Thứ nhất, uy tín của ngân hàng trong công chúng. Đây là một trong những dấu hiệu quan trọng và có thể dễ nhận biết để đánh giá khả năng thanh khoản của một ngân hàng. Khách hàng gửi tiền ngoài ƣu tiên về lãi suất còn xem xét tới độ an toàn của nơi gửi tiền.
Vì vậy nếu uy tín của ngân hàng giảm, khách hàng sẽ có xu hƣớng rút tiền ra khỏi ngân hàng. Từ đó tiền gửi của ngân hàng giảm liên tục do các cá nhân, tổ chức rút ồ ạt và ngân hàng phải tăng lãi suất cao đột biến để huy động tức là ngân hàng rất dễ rơi vào tình trạng gặp rủi ro thanh khoản. Thứ hai, giá trị thị trƣờng của cổ phiếu ngân hàng. Vì giá trị của cổ phiếu luôn phản ánh trƣớc các biến động của thị trƣờng nên khi giá trị cổ phiếu của ngân hàng giảm mạnh tức là niềm tin của các nhà đầu tƣ giảm sút.
Từ đó cần tìm hiểu lí do giảm giá của cổ phiếu ngân hàng đến từ tình hình hoạt động kinh doanh hay lí do nào khác có thể dẫn đến nguy cơ mất thanh khoản của ngân hàng trong tƣơng lai. Thứ ba, mức lãi suất để huy động vốn. Nếu mức lãi suất huy động của ngân hàng ở mức quá cao so với mặt bằng lãi suất hoặc phải chấp nhận mức lãi suất cao hơn trên thị trƣờng liên ngân hàng thì đây có thể là dấu hiệu cho thấy ngân hàng đang thâm hụt thanh khoản. Ngân hàng đang rơi vào tình trạng thiếu cung thanh khoản trầm trọng và có nguy cơ rủi ro thanh khoản trong tƣơng lai.
Thứ tư, chịu lỗ từ việc bán tài sản. Ngân hàng thƣờng xuyên phải bán các tài sản của mình với mức giá thấp hơn thị trƣờng để có nguồn vốn, nhƣ vậy có thể ngân hàng đang gặp khó khăn về thanh khoản. Thứ năm, khả năng đáp ứng nhu cầu vay của khách hàng. Nếu ngân hàng không thể đáp ứng các nhu cầu vay vốn hợp lý từ khách hàng có chất lƣợng cao tức là ngân hàng đang gặp áp lực lớn về thanh khoản.
Thứ sáu, thƣờng xuyên vay vốn từ NHTW. Việc vay vốn từ NHTW là biện pháp cuối cùng để hỗ trợ thanh khoản cho ngân hàng. Nếu tần suất và khối lƣợng 8 vay vốn từ NHTW đây là một dấu hiệu về tình trạng thanh khoản gặp khó khăn. Nguyên nhân dẫn tới rủi ro thanh khoản Hoạt động kinh doanh của ngân hàng cốt lõi là việc huy động vốn với lãi suất thấp và cho vay ra với lãi suất cao.
Vì vậy rủi ro thanh khoản trong ngân hàng có thể xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân đến từ kinh tế toàn cầu, chính sách, khách hàng, bản thân ngân hàng và do các loại rủi ro khác. Nguyên nhân khách quan Thứ nhất, các tài sản tài chính nhạy cảm với sự biến động của lãi suất. Lãi suất thay đổi sẽ có tác động tới tâm lý của khách hàng. Nếu trong môi trƣờng lãi suất thấp, khách hàng sẽ có xu hƣớng rút tiền gửi ra nhiều hơn để đầu tƣ vào các kênh có mức tỷ suất tốt hơn và các tổ chức, cá nhân sẽ có xu hƣớng gia tăng vay vốn.
Khi lãi suất tăng thì sẽ ngƣợc lại. Nhƣ vậy, sự thay đổi của lãi suất tác động đến cả tiền gửi và cho vay của ngân hàng và ảnh hƣởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng. Ngoài ra việc lãi suất biến động cũng sẽ ảnh hƣởng đến giá của tài sản tài chính và chi phí vay vốn trên thị trƣờng liên ngân hàng. Thứ hai, chính sách tiền tệ của NHTW.
Các NHTW sử dụng 3 công cụ để điều hành chính sách tiền tệ bao gồm: nghiệp vụ thị trƣờng mở, lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu GTCG, tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Nghiệp vụ thị trƣờng mở (OMO) là hoạt động NHTW sẽ mua bán giấy tờ có giá với các thành viên nhằm kiểm soát lƣợng cung ứng tiền trên thị trƣờng. Khi NHTW bán trái phiếu, tín phiếu cho NHTM từ đó sẽ hút lƣợng tiền từ thị trƣờng về gây ra giảm cung thanh khoản của các NHTM. Ngƣợc lại khi NHTW mua trái phiếu sẽ tăng lƣợng tiền cung ứng ra ngoài và tăng cung thanh khoản cho các NH.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ tối thiểu của lƣợng tiền mà các NHTM phải giữ lại tại NHNN để đảm bảo khả năng thanh khoản của các ngân hàng và kiểm soát lƣợng tiền lƣu thông trong nền kinh tế. Khi NHTW tăng tỷ lệ DTBB thì các NHTM sẽ phải giữ lại nhiều tiền hơn, cung thanh khoản sẽ giảm. Lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu là lãi suất mà NHTW áp dụng cho các NHTM vay để đáp ứng các nhu cầu về tiền mặt trong ngắn hạn dƣới hình thức chiết khấu, tái chiết khấu các GTCG chƣa đến hạn thanh toán của NHTM. Lãi suất tái chiết khấu thấp tức là chi phí vay vốn của NHTM sẽ thấp, từ đó sẽ là kênh dễ dàng 9 huy động để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của ngân hàng.
Thứ ba, chính sách, pháp lý về an toàn hoạt động của hệ thống NHTM. Các cơ chế chính sách đƣợc ban hành và kiểm tra giám sát sẽ góp phần đảm bảo cho an toàn hoạt động của ngân hàng.