chương 1, chúng tôi sẽ trình bày những nội dung cơ bản xoay quanh HHT: ban chất của HHT, thé mạnh và yêu cầu của HHT, các kĩ năng HHT cũng như vai trò của GV và HS trong loại hình học tập này. Khái niệm học hợp tác Có khá nhiều thuật ngữ dùng dé chi HHT. Ở nước ngoài thuật ngữ chuyên dùng dé gọi loại hình học tập này chính là học hợp rác (cooperation) (Scott Watson, 1992; Slavin, Robert E, 1996; Barbara Gross Davis, 1999; David W.Felder, Rebecca Brent, 2001; Thomas R.Lord, 2001; Dao Thị Hoàng Hoa, 2010; Pham Thị Thu, 2015; .); cũng có một số tai liệu dùng thuật ngữ học công tác (collaboration) (Friend & Cook, 1996; Wendy Jolliffe, 2007; Educause, 2010; .), học theo nhóm (work in small group) (Frank Serafini, 2005; Jennifer Serravallo, 2010; Nguyễn Thị Kim Dung, 2014;. Những thuật ngữ nay có khi được sứ dụng riêng biệt, cũng có khi được sứ dung không phân biệt, nhưng rõ ràng mỗi thuật ngữ thé hiện một cách hiểu khác nhau về loại hình học tập này.
Ted Panitz phân biệt hai thuật ngữ thường dùng nhất như sau: Cổng tác (Collaboration) là một triết lí của sự tương tác giữa các cá nhân, cá nhân đóng góp tùy vào khả năng và chịu trách nhiệm với hành động của mình (bao gồm học tập và các lĩnh Vực thuộc về năng lực). Dinh nghĩa nay nhấn mạnh những điểm sau: Thứ nhất, cộng tác là một triết lí hoạt động: thứ hai, các cá nhân tương tác và đóng góp tùy khả năng: thứ ba là tỉnh thần trách nhiệm. Trong khi cộng tác nhân mạnh vào tính chất hoạt động và cách thức hoạt động thì hgp tác là một cau trúc hoạt động, nghĩa 1a nhắn mạnh vào hình thức tô chức và cách thức hoạt động. Cộng tác mang tinh tất yếu, bắt buộc và yêu cầu rất cao trong sự phối hợp nhịp nhàng giữa các thành viên dé cùng nhau hoạt động.
Trong học cộng tác, quyền lợi và trách nhiệm của tat cả các thành viên đều ngang nhau. Trong học tập, hợp tác rat dé thực hiện nhưng cộng tác thì không, vì nó đòi hỏi sự thống nhất hoàn toàn trong tất cả mọi hoạt động. Hợp tác thì không yêu cau cao như vậy. Trong tài liệu Tang cường năng lực day học của giáo viên, Trịnh Thanh Hải [24] cũng khăng định: HHT là một phương pháp mà HS được phân chia thành từng nhóm nhỏ riêng biệt, chịu trách nhiệm về một mục tiêu duy nhất, được thực hiện thông qua nhiệm vụ riêng biệt của từng người.
Các hoạt động cá nhân riêng biệt Trang 19 TỔ CHỨC HỌC HỢP TÁC TRONG DẠY ĐỌC VĂN BẢN VĂN HỌC Ở TRƯỜNG PHỐ THÔNG Tóm lại, cộng tác chính là sự tương tác ở mức độ cao ma bat ki hoạt động nào của các thành viên cũng cần có sự thông nhất của nhóm. Còn hợp tác là sự sắp xếp phân công hợp lí trong nhóm, các thành viên có trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ được giao, sau đó nhóm tập hợp lại phần kết qua cua từng thành viên, thống nhất sản phẩm theo mục tiêu chung. Nguyên lí làm việc cua hai hình thức đều là mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ được giao và tính tương tác giữa các thanh viên, nhưng sự tương tac cua hình thức cộng tác đạt mức độ cao và chặt chẽ hon; có thé nói cộng tác là một dạng đặc biệt cuả hợp tác. Thuật ngữ hợp tác (cooperation) da thê hiện được những đặc trưng cuả loại hình HHT.
Hợp tác chỉ xảy ra khi HS làm việc cùng nhau trong nhóm nhỏ vì mục tiêu chung, mà ở đó, HS được phân công nhiệm vụ, có trách nhiệm hoàn thanh nhiệm vụ và đóng góp kết quả đó vào tập thé đề tao ra sản pham cuối củng. Và nếu nhóm tương tác với nhau ở mức độ cao, thống nhất với nhau ở từng hoạt động. không có sự phân công nhiệm vụ riêng lẻ thì nhóm hợp tác đã được nâng lên thành nhóm cộng tác. Cách dùng thuật ngữ khác nhau đã phản ánh một phan sự khác nhau trong quan niệm của các nhà nghiên cứu về HHT.
HHT có khi được nhìn nhận như một phương pháp dạy học bên cạnh các phương pháp day học truyền thong như thuyết trình, thảo luận nhóm, tự học. HHT là phương pháp day học trong đó HS làm việc cùng nhau trong những nhóm nhỏ với sự hướng dan của GV nham tối ứu hóa việc học của các thành viên trong nhóm [29]. Có thé kẻ đến các định nghĩa tương đồng của tác giả Trịnh Văn Biéu, Trịnh Thanh Hải, Nguyễn Thị Kim Dung. “Dạy học theo nhóm nhỏ là phương pháp dạy học trong đó GV sắp xép HS thành những nhóm nhỏ theo hướng tạo ra sự tương tác trực tiếp giữa các thành viên, mà theo đó HS trong nhóm trao đổi, giúp đỡ và cùng nhau phối hợp làm việc để hoàn thành nhiệm vụ chung cua nhóm” (11, tr.
Slavin, Robert E [37] thi quan niệm HHT là một chương trình thực hiện lâu dài. HHT là một chương trình hướng dẫn trang bị cho HS sự định hướng, nhiệt tình, chủ động và độc lập dé HS cùng làm việc trong một nhóm nhỏ giúp đỡ nhau hoàn thiện. HHT là một quy trình trong đó mọi người tương tác với nhau cùng đạt được một mục tiêu cụ thê hoặc làm ra một sản phẩm cuối cùng (Kagan). Trang 20 TỔ CHỨC HỌC HỢP TÁC TRONG DẠY ĐỌC VĂN BẢN VĂN HỌC Ở TRƯỜNG PHỐ THÔNG Không phải bat ki nhỏm nao cũng được xem là nhóm hợp tác, có những nhỏm không hứng thú làm việc cùng nhau nên hợp tác thấp hơn khả năng của mỗi HS, có những nhóm hoạt động với tiềm năng cao hơn một số HS nhưng chỉ một số HS làm việc tích cực thật sự.
Một nhóm thuộc HHT khi và chỉ khi mỗi cá nhân đều tham gia học tập, thảo luận và trợ giúp thành viên khác, khuyến khích thành viên khác cùng làm việc, kết quả của nhóm phải thê hiện được sự kết hợp các phần của các thành viên, tat cả HS đều học được nhiều hơn họ làm một mình. Nhóm có tinh hợp tác cao hơn phải đạt được tất cả các tiêu chuẩn và xây dựng được tình đồng đội [26]. Các khái niệm được đưa ra đù từ góc độ nào cũng déu có những đặc điểm chung. HHT là một phương pháp, một hình thức hay một quy trình học tập mà ở đó GV giữ vai trò hướng dẫn, tô chức hoạt động cho HS.
HS trở thành chủ thẻ tích cực. tương tac với nhau trong một nhóm nhỏ đề cùng hoàn thành một mục tiêu chung. Kết quả cuối cùng là sự tông hợp từ nhiều phần hoạt động của các thành viên. Mỗi thành viên giữ một vai trò cụ the trong nhóm, được phân chia nhiệm vụ rõ ràng và nhận thức được tam quan trong cua sự hợp tác và trách nhiệm của bản thân với nhóm.
Có thé định nghĩa HHT như sau: HHT là một loại hình học tập diễn ra theo một quy trình, trong đó HS dưới sự hướng dẫn của GV được phân chia thành nhiều nhóm nhỏ có chung mục tiêu hoạt động. Trong mỗi nhóm lại có sự phân công vai trò và công việc cụ thé, mỗi thành viên phải chịu trách nhiệm với hoạt động của mình, đóng góp cùng nhóm hoàn thành sản phẩm cuối cùng. Nhóm trong HHT cần có sự tương tác, liên hệ mật thiết giữa các thành viên và giữa GV với nhóm HS. Tai sao nên học hợp tác? Ngày nay.
thuật ngữ HHT được đề cập rất nhiều bởi những đặc tính ưu việt của nó. HHT không chi mang lại lợi ích cho HS trong việc hình thành tri thức và rèn luyện ki năng mà còn mang lại cho GV nhiều thuận lợi trong tô chức, quản lí và đánh giá lớp học.1L Học hợp tác hữu ích voi giáo viên và học sinh «- Đối với học sinh Thomas R. Lord đã thử nghiệm và khang định, HHT có thé giúp HS nâng cao tám yếu tô sau: tư duy khoa học, thai độ, kiến thức, môi trường học tập. đánh giá, các giá tri, kĩ năng thực hành, kĩ năng xã hội; đồng thời còn nâng cao kĩ năng đọc viết của HS, cung Trang 21 TỔ CHỨC HỌC HỢP TÁC TRONG DẠY ĐỌC VĂN BẢN VĂN HỌC Ở TRƯỜNG PHO THONG Trước hết, HHT giúp HS phát triển tư duy.
Vì những van đề được đặt ra cho nhóm phải là những van đẻ đòi hỏi sự vận động từ nhiều nguôn tri thức, kinh nghiệm cá nhân nên khi tham gia vào giải quyết vấn đề của nhóm. tự mỗi HS sẽ phải suy nghĩ về những van đề cao hơn tư duy của mình, nhiều ý kiến đóng góp của HS mới giải quyết được. khi đó HS có cơ hội rèn luyện tư duy khoa học, nhìn nhận van dé rộng hơn, sâu hơn và dưới nhiều góc độ khác nhau của cả nhóm. Đông thời, xét theo thang tư duy của Bloom, khi HHT, HS đã trai qua cả một qua trình tư duy, di từ nhận nhiệm vy, suy nghĩ phân tích nhiệm vụ đến hoàn thành, tông hợp kết quả va đánh giá.
Nếu nhiệm vụ HS nhận được có liên quan đến thực tiễn, việc học tập của HS sẽ có giá trị hơn, thực tế hơn. Thứ hai là HS có thé phát triển năng lực hợp tác. HHT luôn đặt HS trong mỗi quan hệ đa chiều, đỏi hỏi HS phải tương tác tích cực. Trong một nhóm, mỗi HS luôn đảm nhận một vai trò nhất định.
được phân công công việc cụ thẻ, buộc HS phải có ý thức trách nhiệm và tinh than hợp tác, tự lực hoàn thành phan công việc được giao. Đồng thoi, HHT cũng yêu cầu có sự hỗ trợ của nhóm. Do vay, mỗi HS còn có trách nhiệm giúp đỡ các thành viên khác giải quyết nhiệm vụ. Ngoài ra trong quá trình hoạt động nhóm, HS còn có thẻ phát triển tình bạn (Sharan, Kussell.
“Hinh thức day học theo nhóm góp phan hình thành và phát triển các mỗi quan hệ qua lại trong HS, đem lại bau không khí đoàn kết. giúp đỡ, tin tưởng nhau trong học tập”.1] Thứ tư là chính những hoạt động nỗ lực của bản thân và thúc đây các thành viên khác, HHT đã góp phan cai thiện, nâng cao môi trường học tập. Một môi trường học tập thân thiện, tạo cơ hội cho HS liên kết chặt chẽ với nhau là điều kiện dé HS hoàn thiện nhân cách. Một trong những nguyên tắc của giáo dục là giáo dục trong tập thé.
“Tap thé HS vừa là môi trường vừa là phương tiện dé giáo duc HS” [18, tr. Trong nhóm, HS luôn nhận được sự tôn trong từ các thành viên khác, ngược lại các em cũng học được cách lắng nghe và tiếp thu ý kiến đóng góp của bạn, giảm khoảng cách giữa những HS giỏi và những HS yếu.