Chương 1: Vị trí địa lý và lịch sử hình thành II. Vi trí địa lý Eo biển Malacca nằm giữa bán dao Malay và đảo Sumatra, nối Biên Đông và An Độ Dương. Eo biên này có chiều dài khoảng 805 km (tương đương 500 dim Anh) và nơi hẹp nhất chỉ có 1,2 km, bao gồm từ tinh Patani (nay thuộc Thái Lan), xuống hết phía nam ban đảo Malay, những đảo nhỏ ngoài khơi và một phần đảo Sumatra. Đây là một dải đất hẹp chạy dài theo hướng Bắc - Nam, nối bán đảo Malay với lục địa Châu Á.
Phần phía đông của eo đất Kra thuộc Thái Lan và trông ra Vịnh Thái Lan. Phần phía tây thuộc Myanmar (vùng Tanintharyi) và trông ra biển Andaman’. (Hayes Hoyt, Sarina, 1996, tr. Tại vị trí này có một cửa biên nhỏ, có thé đi sâu hơn vảo trong đất liền, thuyền bẻ của người Án Độ hay người A Rap đến khu vực này dừng lại ở đó và tiễn hành chuyên hàng hóa lên đất liên, thông qua các phương tiện như voi kéo dé thé hàng hóa sang đầu bên kia của eo đất, nơi các thương nhân Đông Nam Á có nhiệm vụ đưa các mặt hàng tiếp tục hành trình, hoặc đến các vương quốc khác ở vùng này hay là đến thị trường Trung Quốc.
Hàng hóa từ Trung Quốc và Đông Nam Á cũng theo hướng ngược lại đẻ tới Án Độ và vùng Tây Á.(Huỳnh Văn Tòng, 1994, tr. ' Biển Andaman la một ving nước ở đông nam vịnh Bengal, miễn nam Myanma, miễn tay Thai Lan và miễn đồng quan dao Andaman; nỏ là một phan của An Độ Dương 15 Vốn có vị trí chiến lược thuận lợi cho việc thông thương, buôn bán giữa các quốc gia cô vùng An Độ, Tây A với Đông Nam A. Tuy nhiên, do vùng eo lại thuộc vành đai nhiệt đới không có gió, nằm chếch theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, tức là vuông góc với gió mùa, nên thuyền bè thời cô đại rất khó khăn khi di qua vùng nảy ( Sakurai Yumio, 1996). Trước khi hình thanh nên con đường , =— : 5 BORNE 4 Sassi Hình 1.1: Ban do khu vực Dong Nam A hai dao ( Java, Sumatra, Borneo ) Nguồn: Hoàng Phan Hạnh Hiền, 2016, Eo biển Malacca và lịch sứ tuyển thương mại Biển Đông, ngày truy cap 25/3/2023, nhận từ: 16 Nguồn: Nguyễn Thị Cam Thu Trong một thời gian rất dài và khởi đầu khá sớm, đây chính là một trong những đầu mối quan trọng trong nền táng hải thương quốc tế.
Có vị trí địa kinh tế rất thuận lợi khi nằm trên tuyến giao thông cực kỳ quan trọng, vận chuyền hàng hóa bằng đường thủy từ Châu Âu, Châu Phi, Nam Á, Trung Đông đi Đông A. Bat đầu từ thé kỷ VII, vượt qua Kedah và Phù Nam, co biên Malacca vươn lên trở thành trung tâm thương mại lớn nhất Đông Nam Á, nắm giữ vị thế hoàng kim trong hệ thống thương mại Đông - Tây. Nam trên eo biển Malacca một vương quốc cùng tên ra đời - vương quốc Malacca do Paramesvara là người sáng lập, đã phát triển huy hoảng trong một thời gian. Thanh phố Malacca được xây dựng trên hai bờ, gần cửa sông Malacca.
Lúc bay giờ, người ta biết đến Đông Nam A là do biết đến Malacca. (Phan Ngọc 17 Liên, 2002, tr. Ngay cả những thế kỷ đầu Cận dai, đối với châu Au, Malacca còn có ý nghĩa như một nơi đô hội, đầy sức hap dẫn và dé làm ăn. Hỏi giáo bắt dau lan rộng trong khu vực thông qua thương mại.
Trong nhiều thé kỷ. người dan Đông Nam A nói chung và cu din Malacca nói riêng dan dan bắt đầu chấp nhận Hồi giáo và tạo ra các thị trần và vương quốc Hồi giáo. Trong Sejarah Melayu ( Biên niên sử Mã Lai ) trang 421 có đoạn miêu ta về thành phố như sau: Thành phố Melaka vào thời điểm đó cực kỳ phát triển va nhiều người từ nước ngoài đến đây sinh sống. Melaka lúc bay giờ hùng vĩ như thé, chỉ riêng trong thành phố đã có tới một tram chín mươi nghìn người, chưa tính đến cư dân ở các vùng xa xôi hẻo lánh lãnh thô và các huyện ven biển.
Noi đây có nhà hàng xây băng gạch, lều và bãi dé bày hàng. Cạnh bãi có bôn Sở cảng vụ trông nom việc làm thủ tục, bốc đỡ và chuyên hàng hóa, chuyên cho mỗi loại thương nhân khác nhau. Thuyền buôm thời bấy giờ thường có thể ngược đòng vào đến chợ ở gần cầu. Đây là khu thương mại chủ yếu của thành phó.
Đi vào trong là phố xá, cửa hiệu và nơi ở của các nhà buôn giàu có. Tiếp đến là khu dinh thự, có nhiều nhà gạch xây hai tầng. Ngay chỗ đầu cầu bên bờ trái, người ta thấy có trại lính xây dựng kiên cố, xung quanh là tường thành và một vọng lâu có 4 tầng năm gần bở biến, cảnh sát và người kiểm thị thường xuyên đi lại coi sóc, giữ gìn trật tự. Phía trong cùng thành phô.
trên một quả đồi rộng là hoàng cung và lâu đài của các quan. Hoàng cung làm toàn bằng gỗ nhưng rat lớn. Phía trước là hàng hiên rộng, có 18 cột lớn, treo nhiều gương tàu nhỏ. Mỗi khi có gió thôi, gương lại dung đưa, phản chiều ánh sáng lấp lánh trông vui mắt.
Nơi đây 6 đời vua nói tiếp nhau trị vì vương quốc Malacca từ năm 1402 đến năm 1511 khi nó bị người Bồ Đào Nha đánh chiếm. (Lê Vinh Quốc, Hà Bích Liên, 1999, tr. Đến nay, vai trò kinh tế của Malacca vẫn có ý nghĩa quan trọng với khu vực nhưng không sánh được với thời kỳ vàng son trong lịch sử. Lich sử hình thành.
Trước khi Malacca được biết đến, đã có hai dé chế lớn hay còn gọi là dé quốc biên tồn tại: Srivijaya° (TK VII — TK XII) và Majapahit (TK XII - TK XV) Hình 1. Bán dao Sumatra của Srivijaya Và Java của Majapahit Nguồn: Nguyễn Thị Cẩm Thu Srivijaya thong trị Sumatra, bán đáo Malay và nam Thái Lan kinh đô đặt tại Sumatra là một quốc gia hùng mạnh, một trung tâm kinh tế và văn hóa quan trọng của khu vực Đông Nam A, Vào thé ky thứ VIL, Srivijaya đã mở ra eo biển Malacca sử dụng sức mạnh hải quân dé đè bẹp cướp biên và các đối thủ, vương quốc đã phát triển từ khu vực xung quanh Palembang ngày nay thuộc tỉnh Nam ~ Srivijaya hay Tam Phat Te là một liên minh kiểu mandala gom nhieu nhà nước cô từng ton tại ở miễn Đông Sumatra, bản đảo Malay va một phin đảo Borneo và Java, hinh thành từ thể dy) VH và kết thúc vào khoảng cuối thé ky XIHI. 3 Majapahit là một vương quốc theo dao Hindu và đạo Phát Đại thừa ở giữa phần phía đông Java, tồn tại từ năm 1293 đến khoảng năm 1527. Đề quéc Majapahit là một Đề quốc hùng mạnh ở thé ki NIV, quyén lực của Dé quốc chi phối ra khỏi bản đáo Indonesia và Ma Lai và là một Dé quốc Hindu lớn cuối cùng, Majapahit bat đầu suy yếu ở the ki XV 19 Sumatra ở Indonesia dé gianh quyền kiểm soát đảo Sumatra, bán đảo Mã Lai, phan lớn Java và hàng nghìn hòn dao nhỏ hơn.
Trong nhiều thế kỷ, Srivijaya đã mở rộng khối lượng thương mại qua eo biển khi dẫn đầu các cuộc thám hiểm quân sự chống lại các đối thủ tiềm năng trong khi đảm bảo các thương nhân nước ngoài qua lại an toàn vả các cơ sở cảng cần thiết. Tuy nhiên sau đó, Srivijaya dang mat dan ảnh hưởng và phải đối mặt với các mỗi de doa từ nhiều góc khác nhau cua Quan đảo Malay. (Andaya, Barbara Watson, Leonard S. Cũng trong khoảng thời gian đó, dé chế Majapahit tập trung ở Java cũng dang mở rộng biên giới ra ngoài hon dao.
Đề chế trước đây kiểm soát Java đã bị đánh đuôi khỏi hon đảo vào năm 1290 bởi Singhasari, tiền thân của Majapahit. Kết quả là Srivijaya phải đời triều đình từ Palembang, trên bở sông Musi ở nam Sumatra, đến Malay (nay là tỉnh Jambi) trên sông Batang Hari. Mặc dù triều đình đã chuyên đến Malayu, Palembang vẫn là một thành pho hoảng gia quan trọng. Đề chế Majapahit bat đầu chính phục nhiều nơi của khu vực Đông Nam Á.
Họ ngảy càng trở nên mạnh mẽ hơn, chiến đấu và chiếm lấy vùng đất trước đây thuộc về Srivijaya. Vào những năm 1390, Majapahit đã bat đầu triển khai lực lượng gửi hàng nghìn chiến thuyền đến tan công Palembang. Dé chế Majapahit vả để chế Srivijaya gặp nhau và họ chiến đấu tại Palembang. Palembang vốn là thủ phủ của Srivijaya.Vua Srivijaya không có cơ hội chong lại đội quân hùng mạnh của Majapahit, cudi cùng Srivijaya thua trận, thành pho kết thúc một dé chế hang nghìn năm tuôi.
Sự suy sụp của vương quốc Srivijaya đánh dau một bước ngoặt hết sức quan trọng đổi với lịch sử bán dao này. (Omar, Asmah Haji, 2001, tr. Thực ra những biến động lịch sử liên quan đến Malay đã xuất hiện ngay từ cuối thé ki XIII, chứ không phải đợi đến một thể ky sau mới có. Bay giờ SriVijaya đã suy thoái, nhiều tiêu quốc có xu hướng biệt lập.
(Wood, Alfred 20 Russel, 1885, tr.113) Marco PoloŸ - nhà thám hiểm người châu Âu đã đi qua vùng biên Đông Nam A vào thời gian này và đã nhận thay được tình trạng biệt lập của những tiêu quốc khác nhau trên những vùng trước kia nam trong quyền lực của các vương quốc lớn. Sumatra cũng phân rã thành § nước, mỗi nước là một vương quốc riêng và đạo Hỏi đã được truyền bá ở một số nước đó. (Lương Ninh, Đỗ Thanh Bình, Trần Thị Vinh, 2005, tr.196) Sang nửa sau thé ki XIV, Sumantra càng trở nên sa sút hơn. Minh sử còn ghỉ rằng : Tam Phật Té tức Palembang - Sumatra, ngày càng nghèo đến nỗi không vào cống nạp được nữa.
Tình hình chính trị biển động sâu sắc khiến cho triều đình Java cũng không thể nào thu phục và cai quản được hết các tiêu quốc Sumatra va Malay. Do đó, cướp biển Hoa kiều mặc sức hoành hành thao túng và những tên trùm cướp đã trở thành những kẻ nam quyền lực thực té trong ving. Giữa lúc đó, sau khi chinh phục xong đồng bằng Mé Nam, bộ phận người Thai Lavô đã lập nước Ayutthaya và bắt đầu tiến hành những cuộc chính phục mở rộng lãnh thô (Lương Ninh, Đỗ Thanh Binh, Tran Thị Vinh, 2005, tr. Từ thé ki XIV, Palembang da là một thuộc quốc của dé quốc Hồi giáo Majapahit của người lava.
Lúc này, những dấu hiệu suy yếu, phân lập ở Majapahit xuất hiện. Nhân cơ hội đó, Paramesvara nôi loạn chống lại nhà vua cai trị, có thé là dé đòi độc lập. nhưng cũng có thé là vì tranh chấp quyền lực. Cuộc noi loan bị tran áp và Palembang thất thủ.
Khoảng năm 1391 - 1392, Paramesvara phải bỏ chạy khỏi đảo Sumatra đến đảo Tumasik trú ngụ.