Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình là một quyền tố tụng cơ bản nhưng ngày càng đặt ra nhiều vấn đề phức tạp trong bối cảnh xã hội hiện đại. Sự gia tăng các vụ việc ly hôn làm phát sinh nhiều hệ lụy pháp lý đối với quan hệ nhân thân, nuôi dưỡng con chung và phân chia khối tài sản chung được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao được tác giả trích dẫn, riêng trong năm 2022, toàn quốc có trên 500.000 vụ ly hôn được thụ lý giải quyết; trong đó khoảng 70% số vụ thuộc về các cặp vợ chồng trẻ trong độ tuổi từ 18 đến 30. Mặc dù Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 đã tạo lập hành lang pháp lý tương đối hoàn chỉnh, song việc áp dụng quy định về khởi kiện và thụ lý vụ án hôn nhân và gia đình trên thực tế tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hưng Yên vẫn bộc lộ một số vướng mắc, bất cập và thiếu tính thống nhất giữa các cấp xét xử.
Từ bối cảnh thực tiễn đó, đề tài "Khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình và thực tiễn thực hiện tại Toà án nhân dân hai cấp tỉnh Hưng Yên" do tác giả Vũ Ngọc Mai thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Hương tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2023) xác định rõ mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng dân sự trong việc khởi kiện giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình trên địa bàn tỉnh Hưng Yên; phân tích điểm mạnh, hạn chế, đánh giá kết quả xử lý đơn khởi kiện của người dân, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên nói riêng và hệ thống Tòa án nhân dân nói chung.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Nghiên cứu các quy định pháp luật tố tụng dân sự về khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hưng Yên, chỉ ra các vướng mắc, bất cập của luật định cùng các hạn chế trong áp dụng thực tế.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng dân sự và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về khởi kiện, thụ lý vụ án hôn nhân và gia đình.
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến quyền và thủ tục khởi kiện.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào các quy phạm điều chỉnh thủ tục khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình; phạm vi thực tiễn giới hạn tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hưng Yên thông qua các bản án, quyết định và số liệu thống kê công tác xét xử sơ thẩm giai đoạn 2018 - 2022 và các tháng đầu năm 2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng trên nền tảng khoa học pháp lý chuyên ngành luật tố tụng dân sự và hôn nhân gia đình, kết hợp đối sánh văn bản pháp lý quốc tế và lịch sử lập pháp:
- Khung pháp lý và cơ sở lý luận:
- Văn bản lập hiến và luật định trong nước: Hiến pháp năm 2013 (Điều 14), Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (các Điều 5, 28, 35, 37, 39, 69, 70, 85, 186, 187, 189, 190, 192, 200, 210), Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (Điều 51), Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 10, Điều 39), Luật Cư trú năm 2020 (Điều 19).
- Văn bản dưới luật và hướng dẫn áp dụng: Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 04/2018/NQ-HĐTP) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành mẫu đơn khởi kiện (mẫu số 23-DS); Nghị quyết số 04/2016/NQ-HĐTP hướng dẫn gửi nhận đơn khởi kiện bằng phương tiện điện tử; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao về nghiệp vụ; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
- Văn kiện quốc tế và luật so sánh: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 (Điều 7, Điều 8); quy định pháp luật tố tụng dân sự của Liên bang Nga và Cộng hòa Pháp; quan điểm phân loại tố quyền của Giáo sư N. Fricero; các công trình nghiên cứu chuyên sâu (tiêu biểu là luận án tiến sĩ của TS. Nguyễn Thị Hương năm 2019 về khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự); dấu ấn lịch sử trong Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ.
- Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác - Lênin; phương pháp tiếp cận hệ thống; phương pháp phân tích quy phạm và tổng hợp lý luận; phương pháp so sánh luật học; phương pháp thống kê tư pháp dựa trên dữ liệu thực tế.
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thống kê công tác giải quyết án ly hôn sơ thẩm từ năm 2018 đến năm 2022 của Bộ phận tổng hợp thống kê Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hưng Yên; số liệu công bố trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao; hệ thống bản án thực tế (tiêu biểu như Bản án sơ thẩm số 16/2023/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên và Bản án phúc thẩm số 21/2023/HNGĐ-PT của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề chung về khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình
Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về quyền khởi kiện và các yếu tố cấu thành việc khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình trong hệ thống tố tụng dân sự:
- Khái niệm: Dưới góc độ khoa học pháp lý, quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình là một quyền tố tụng thuộc nhóm quyền con người, được ghi nhận tại Điều 8 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948 và Điều 14 Hiến pháp 2013. Về phạm vi khái niệm, khởi kiện được phân tích theo hai góc độ:
- Nghĩa hẹp: Là hành vi của nguyên đơn nộp đơn yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi xảy ra tranh chấp hoặc nhận thấy quyền lợi bị xâm phạm.
- Nghĩa rộng: Bao gồm việc nguyên đơn khởi kiện, bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập, và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập.
- Khóa luận chỉ rõ bước tiến của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 so với Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 khi đã tách bạch rõ ràng giữa thủ tục giải quyết "vụ án" (có tranh chấp) và "việc dân sự" (yêu cầu không có tranh chấp) trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.
- Bốn đặc điểm cơ bản của khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình:
- Là việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp được giả thiết bị xâm phạm hoặc có tranh chấp. Pháp luật đặt ra cơ chế kiểm soát nhằm tránh lạm dụng tố quyền gây thiệt hại cho bên kia (thể hiện tại Điều 10 Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 25 Điều 70 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015).
- Là việc cá nhân có quyền lợi theo quy định pháp luật thực hiện quyền tự định đoạt việc bảo vệ quyền lợi của mình. Đương sự được quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu nhưng tại phiên tòa không được vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu.
- Là hoạt động do các chủ thể được pháp luật trao quyền thực hiện theo quy định pháp luật nội dung và hình thức nhằm bảo vệ lợi ích tư, trực tiếp là hạnh phúc cá nhân (dẫn chiếu phân loại tố quyền của GS. N. Fricero về mối liên hệ mật thiết giữa tố quyền và quyền chủ quan).
- Chỉ được yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp thuộc thẩm quyền theo loại việc, bảo đảm sự phân định thẩm quyền giữa Tòa án với các cơ quan hành chính và tránh chồng chéo tố tụng.
- Ý nghĩa và cơ sở khoa học: Phân tích ý nghĩa trên các bình diện chính trị (hiện thực hóa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trích dẫn tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bản Yêu sách gửi tới hội nghị Vécxay), xã hội (bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ), kinh tế (bảo vệ quyền tài sản chung gắn liền với hoạt động đầu tư, doanh nghiệp có vốn nước ngoài), và pháp lý. Cơ sở xây dựng dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền con người trong tố tụng (Điều 7 Tuyên ngôn 1948) và quyền tự định đoạt của đương sự.
- Các yếu tố ảnh hưởng: Tính thống nhất của pháp luật; cơ chế hỗ trợ đương sự (đơn giản hóa thủ tục nộp chứng cứ; chính sách tạm ứng án phí theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 với mức án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng, tranh chấp có giá ngạch tạm ứng 50%); trình độ và năng lực của cơ quan tiến hành tố tụng (đặc biệt là Thẩm phán); sự phối hợp của các cơ quan liên quan (UBND cấp xã hòa giải cơ sở và xác nhận địa chính, cơ quan Thi hành án dân sự cưỡng chế thi hành).
Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình
Chương 2 rà soát toàn diện các quy phạm thực định, đồng thời vạch ra những xung đột pháp luật và khoảng trống hướng dẫn:
- Thực trạng quy định về điều kiện khởi kiện:
- Về chủ thể và vướng mắc ủy quyền tham gia tố tụng: Căn cứ Điều 69, 186, 187 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 và Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Tác giả phân tích bất cập tại khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (quy định đối với việc ly hôn đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt tham gia tố tụng do quyền nhân thân gắn liền theo Điều 39 Bộ luật Dân sự). Tuy nhiên, luật chưa minh định rõ đối với yêu cầu chia tài sản chung hoặc thay đổi người nuôi con sau ly hôn thì có được ủy quyền hay không. Thực tế xét xử cho thấy Tòa án vẫn chấp nhận ủy quyền, điển hình qua vụ án tranh chấp thay đổi người nuôi con giữa anh Phạm Xuân Đ và chị Đỗ Thị H (Bản án sơ thẩm số 16/2023/HNGĐ-ST của TAND tỉnh Hưng Yên và Bản án phúc thẩm số 21/2023/HNGĐ-PT của TAND cấp cao tại Hà Nội đã chấp thuận cho ông Đỗ Văn C đại diện theo ủy quyền của chị H khi chị đang lao động tại Nhật Bản).
- Bất cập về quyền phản tố của bị đơn (Điều 200 BLTTDS 2015): Pháp luật chưa đưa ra khái niệm chính thức về "phản tố". Khi nguyên đơn xin ly hôn không yêu cầu nuôi con, việc bị đơn yêu cầu nuôi con không bị coi là phản tố vì việc giải quyết con chung là bắt buộc. Ngoài ra, việc xác định thời điểm đưa ra yêu cầu phản tố trong trường hợp Tòa án mở nhiều phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo Điều 210 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 vẫn chưa có hướng dẫn rõ ràng (chỉ được nộp trước phiên họp đầu tiên hay trước phiên họp cuối cùng).
- Thẩm quyền của Tòa án: Phân tích thẩm quyền loại việc (Điều 28), thẩm quyền theo cấp (Điều 35, 37), và thẩm quyền theo lãnh thổ (Điều 39). Tác giả chỉ ra khó khăn khi áp dụng Điều 19 Luật Cư trú năm 2020: trường hợp bị đơn có đăng ký thường trú nhưng thực tế không cư trú, không đăng ký tạm trú và có nhiều nơi ở khác nhau thì nguyên đơn không có căn cứ thứ tự ưu tiên rõ ràng để lựa chọn Tòa án thụ lý.
- Điều kiện do pháp luật nội dung quy định: Khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng khi vợ đang mang thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Quy định này mang tính nhân đạo bảo vệ phụ nữ và trẻ em, không áp dụng chiều ngược lại đối với người vợ.
- Thực trạng quy định về phạm vi khởi kiện: Điều 5 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định Tòa án chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu của đương sự. Song Tòa án nhân dân tối cao chưa có hướng dẫn chi tiết thế nào là "giải quyết vượt quá phạm vi khởi kiện" và "giải quyết không triệt để vụ án". Ví dụ: nguyên đơn khởi kiện chia diện tích đất 300m², qua thẩm định tại chỗ là 400m², việc Tòa án phân chia toàn bộ 400m² mà không hướng dẫn đương sự bổ sung yêu cầu khởi kiện sẽ dẫn đến nguy cơ bản án bị cấp trên hủy do vượt quá phạm vi khởi kiện. Thêm vào đó là vướng mắc xử lý trường hợp một bên mang con chung chưa thành niên biệt tích trong quá trình giải quyết vụ án.
- Hình thức đơn, tài liệu chứng cứ và phương thức nộp đơn:
- Hình thức đơn: Áp dụng Mẫu số 23-DS theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP (sửa đổi bởi Nghị quyết 04/2018/NQ-HĐTP). Bất cập nảy sinh khi người dân viết tay đơn ly hôn: dù luật không cấm, thực tế nhiều Tòa án vẫn từ chối tiếp nhận hoặc bác đơn, gây cản trở quyền khởi kiện.
- Tài liệu, chứng cứ kèm theo: Khoản 5 Điều 189 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định phải nộp tài liệu chứng cứ "hiện có". Khái niệm "hiện có" chưa rõ ràng, dẫn đến lúng túng khi người khởi kiện không thể cung cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bản chính (do bị đơn giữ hoặc UBND làm mất sổ đăng ký kết hôn). Hướng dẫn tại Giải đáp 01/GĐ-TANDTC yêu cầu đương sự làm văn bản giải trình lý do chính đáng để Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ theo khoản 2 Điều 97 vẫn mang tính định hướng chung, thiếu tiêu chí đánh giá cụ thể.
- Phương thức gửi đơn (Điều 190 BLTTDS 2015): Hình thức nộp đơn trực tuyến qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án theo Nghị quyết số 04/2016/NQ-HĐTP đòi hỏi đương sự phải có chứng thư chữ ký số và địa chỉ thư điện tử hợp lệ. Hạ tầng công nghệ tại Tòa án cấp huyện nhìn chung chưa đáp ứng đồng bộ; đương sự tại các vùng điều kiện kinh tế khó khăn khó tiếp cận, đồng thời lo ngại rủi ro rò rỉ dữ liệu đời tư qua mạng Internet.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hưng Yên và một số kiến nghị
Chương 3 trình bày các kết quả thống kê tư pháp cụ thể, phân tích mặt tích cực, hạn chế trong tổ chức cán bộ và đề xuất các nhóm giải pháp:
- Thực tiễn áp dụng và đặc thù địa phương: Hưng Yên là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, mặt bằng dân trí tốt, không tồn tại các tập tục lạc hậu (như bắt vợ, thách cưới), tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận thủ tục tố tụng. Đội ngũ cán bộ Tòa án được tập huấn chuyên môn thường xuyên theo chương trình của Tòa án nhân dân tối cao.
- Tồn tại về mô hình tổ chức xét xử: Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hưng Yên chưa thiết lập đội ngũ Thẩm phán chuyên trách về lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Thẩm phán chuyên trách dân sự giải quyết kiêm nhiệm các vụ án hôn nhân và gia đình; ở cấp huyện, Thẩm phán phải giải quyết tất cả các loại án. Sự phân công này chưa đáp ứng tính đặc thù của quan hệ hôn nhân vốn nặng về yếu tố tâm lý, tình cảm, đòi hỏi Thẩm phán phải am hiểu tâm lý gia đình để kiên trì hòa giải hàn gắn.
- Số liệu thống kê công tác giải quyết án ly hôn sơ thẩm (2018 - 2022):
Tổng số án ly hôn mà Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hưng Yên thụ lý luôn dao động ở mức quanh 2.000 vụ/năm, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số các loại án thụ lý của Tòa án địa phương.
| Năm |
Số vụ thụ lý (vụ) |
Số vụ giải quyết (vụ) |
Tỷ lệ giải quyết (%) |
| 2018 |
2.235 |
1.921 |
85,95% |
| 2019 |
2.434 |
2.088 |
85,78% |
| 2020 |
2.286 |
1.934 |
84,60% |
| 2021 |
1.935 |
1.631 |
84,29% |
| 2022 |
2.209 |
1.812 |
82,03% |
- Số liệu về các vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài: Xu hướng gia tăng rõ rệt qua các năm tại địa bàn tỉnh Hưng Yên:
- Năm 2018: Thụ lý 37 vụ, giải quyết 34 vụ.
- Năm 2022: Thụ lý 118 vụ, giải quyết 70 vụ.
- Giai đoạn từ 01/01/2023 đến hết tháng 9/2023: Thụ lý 133 vụ, giải quyết được 117 vụ.
- Các nhóm kiến nghị và giải pháp tác giả đề xuất:
- Hoàn thiện quy định pháp luật: Minh định rõ sự khác biệt giữa điều kiện khởi kiện và điều kiện thụ lý vụ án; sửa đổi quy định cho phép đương sự được ủy quyền tham gia tố tụng đối với phần tranh chấp tài sản trong vụ án ly hôn; ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về quyền phản tố, thời điểm nộp đơn phản tố khi hòa giải nhiều lần, và tiêu chí xác định giải quyết vượt quá phạm vi khởi kiện; làm rõ quy định xác định nơi cư trú của bị đơn theo Luật Cư trú năm 2020.
- Về phía cơ quan tiến hành tố tụng: Nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng hòa giải cho Thẩm phán; nghiên cứu thành lập bộ phận hoặc phân công Thẩm phán chuyên trách án hôn nhân và gia đình; đầu tư hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ nộp đơn khởi kiện điện tử tại Tòa án cấp huyện.
- Về phía các cơ quan, tổ chức hữu quan và đương sự: Tăng cường trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc hòa giải bạo lực gia đình và đo đạc, cung cấp hồ sơ địa chính khi phân chia quyền sử dụng đất; tăng cường hiệu quả công tác thi hành án dân sự; nâng cao nhận thức pháp luật cho đương sự nhằm tránh lạm dụng quyền khởi kiện hoặc bỏ mặc nghĩa vụ tố tụng.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả nghiên cứu thực tế: Khóa luận cung cấp chuỗi số liệu thực tế về công tác thụ lý và xét xử sơ thẩm án ly hôn tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn 5 năm (2018 - 2022), cho thấy quy mô thụ lý trung bình trên 2.000 vụ/năm và sự gia tăng nhanh chóng của các vụ ly hôn có yếu tố nước ngoài (từ 37 vụ năm 2018 lên 133 vụ chỉ trong 9 tháng đầu năm 2023).
- Phát hiện những xung đột và khoảng trống pháp lý:
- Phát hiện mâu thuẫn giữa quy định cấm ủy quyền đại diện tham gia tố tụng trong vụ án ly hôn tại khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 với quyền định đoạt tài sản dân sự tại Điều 39 Bộ luật Dân sự 2015 trong trường hợp có tranh chấp tài sản đi kèm.
- Chỉ ra sự thiếu nhất quán giữa quy định xác định nơi cư trú tại Luật Cư trú năm 2020 với việc lựa chọn Tòa án có thẩm quyền theo lãnh thổ tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
- Phản ánh khoảng trống hướng dẫn về khái niệm "phản tố" và thời hạn thực hiện quyền phản tố trong trường hợp Tòa án tổ chức nhiều phiên họp công khai chứng cứ theo Điều 210.
- Đóng góp của tác giả: Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình dưới góc độ quyền con người và quyền tự định đoạt; đối chiếu giữa lý luận quy phạm với thực tiễn xét xử của một địa phương cụ thể; xây dựng hệ thống 3 nhóm giải pháp thực thi đồng bộ nhằm tháo gỡ vướng mắc cho các đương sự, Tòa án và cơ quan hữu quan.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của khóa luận:
- Phạm vi khảo sát thực tiễn chỉ giới hạn tại Tòa án nhân dân hai cấp thuộc một đơn vị hành chính cấp tỉnh (Hưng Yên), chưa mở rộng so sánh với các địa phương có đặc thù miền núi hoặc đô thị đặc biệt.
- Nguồn số liệu của các vụ án có yếu tố nước ngoài mới dừng lại ở mốc thời gian 9 tháng đầu năm 2023.
- Các giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp với cơ quan Thi hành án dân sự và Ủy ban nhân dân cấp xã mới dừng ở mức đề xuất định hướng, chưa xây dựng thành quy chế phối hợp chi tiết.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Khảo sát, so sánh thực tiễn thụ lý và xét xử án hôn nhân và gia đình giữa các vùng kinh tế - xã hội khác nhau trên toàn quốc.
- Nghiên cứu cơ chế vận hành chuyên sâu của Tòa Gia đình và Người chưa thành niên tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện theo định hướng cải cách tư pháp.
- Đánh giá toàn diện tính khả thi của mô hình nộp đơn và xét xử trực tuyến đối với các vụ việc hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự làm tư liệu tham khảo về lý luận tố quyền và kỹ năng xử lý tình huống thực tế.
- Thẩm phán tập sự, Thư ký Tòa án, Luật sư và Trợ giúp viên pháp lý cần tra cứu các vướng mắc tố tụng liên quan đến việc xác định thẩm quyền, xử lý đơn khởi kiện viết tay, thu thập chứng cứ và giải quyết yêu cầu phản tố.
- Nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Phần phân tích chuyên sâu tại Mục 2.1 về quan hệ giữa quyền nhân thân và quyền tài sản trong vấn đề ủy quyền tham gia tố tụng, có đối chiếu trực tiếp với các bản án thực tế số 16/2023/HNGĐ-ST và số 21/2023/HNGĐ-PT.
- Bảng tổng hợp số liệu thực tiễn 5 năm (2018 - 2022) phản ánh khách quan tình hình thụ lý án ly hôn tại địa phương.
- Hệ thống luận cứ đối sánh tố tụng dân sự nước ngoài và các văn kiện nhân quyền quốc tế tại Chương 1.
Câu hỏi thường gặp
1. Trong vụ án hôn nhân và gia đình có tranh chấp về tài sản, đương sự có được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng không?
Theo khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng đối với yêu cầu ly hôn do đây là quyền nhân thân gắn liền với cá nhân (Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015). Tuy nhiên, đối với phần yêu cầu phân chia tài sản chung hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, đây là quan hệ tài sản độc lập nên thực tế xét xử (như Bản án số 16/2023/HNGĐ-ST của TAND tỉnh Hưng Yên và Bản án số 21/2023/HNGĐ-PT của TAND cấp cao tại Hà Nội) vẫn chấp nhận cho người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng.
2. Số lượng các vụ án ly hôn sơ thẩm được Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hưng Yên thụ lý và giải quyết giai đoạn 2018 - 2022 diễn biến ra sao?
Số lượng thụ lý duy trì ở mức cao, dao động từ 1.935 đến 2.434 vụ/năm:
- Năm 2018: Thụ lý 2.235 vụ, giải quyết 1.921 vụ.
- Năm 2019: Thụ lý 2.434 vụ, giải quyết 2.088 vụ.
- Năm 2020: Thụ lý 2.286 vụ, giải quyết 1.934 vụ.
- Năm 2021: Thụ lý 1.935 vụ, giải quyết 1.631 vụ.
- Năm 2022: Thụ lý 2.209 vụ, giải quyết 1.812 vụ.
3. Pháp luật quy định trường hợp nào người chồng bị tước quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn?
Căn cứ khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp người vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Quy định này mang tính nhân đạo nhằm bảo vệ sức khỏe và quyền lợi của bà mẹ, trẻ em và không áp dụng hạn chế này đối với người vợ.
4. Tình hình thụ lý các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hưng Yên có xu hướng như thế nào?
Số lượng các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài có xu hướng gia tăng nhanh chóng: năm 2018 Tòa án hai cấp tỉnh Hưng Yên chỉ thụ lý 37 vụ (giải quyết 34 vụ), đến năm 2022 số thụ lý tăng lên 118 vụ (giải quyết 70 vụ), và riêng 9 tháng đầu năm 2023 (từ 01/01/2023 đến 30/09/2023) đã thụ lý tới 133 vụ (giải quyết 117 vụ).
5. Người khởi kiện gặp những trở ngại kỹ thuật và pháp lý nào khi nộp đơn ly hôn trực tuyến qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án?
Theo Nghị quyết số 04/2016/NQ-HĐTP, người nộp đơn trực tuyến bắt buộc phải có chữ ký điện tử hợp lệ và địa chỉ email đã đăng ký. Trở ngại lớn nhất là hạ tầng Cổng thông tin điện tử đa phần mới được triển khai ở cấp tỉnh, chưa đồng bộ tại Tòa án cấp huyện; người dân ở vùng khó khăn thiếu thiết bị và chữ ký số; đồng thời còn tâm lý e ngại về nguy cơ lộ lọt bí mật đời tư gia đình khi gửi tài liệu qua Internet.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Ngọc Mai đã phân tích toàn diện các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình gắn liền với thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2018 - 2023. Công trình làm rõ các vướng mắc thực định về chế định ủy quyền tố tụng, cơ chế phản tố, xác định thẩm quyền theo nơi cư trú và việc số hóa thủ tục nộp đơn trực tuyến. Những số liệu tư pháp và hệ thống giải pháp hoàn thiện được tác giả luận giải là nguồn tư liệu khoa học hữu ích phục vụ cho công tác nghiên cứu học thuật và thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng dân sự.