mở đầu cho Phần 5 BLDS năm 2015 với một số nội dung quan trọng đồng thời cũng là những điểm mới so với Điều 758 BLDS năm 2005 về quan hệ dân sự có yếu nước ngoài, cụ thể như sau: Thứ nhất, khoản 1 Điều 663 quy định: “7. Phần này quy định về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu to nước ngoài. Trường hợp luật khác có quy định về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dan sự có yếu tố nước ngoài không trái với quy định từ Điều 664 đến Diéu 671 của Bộ luật này thì luật đó được áp dụng, nếu trái thì quy định có liên quan của Phần thứ năm của Bộ luật này được áp dụng. ” Quy định này có hai mục đích.
M6t /a, ở đoạn thứ nhất đã chỉ ra rõ rang, Phan 5 của BLDS năm 2015 chỉ gồm các quy phạm pháp luật xung đột nhằm chọn luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài”; hai là, ở đoạn thứ hai lường trước khả năng, trong các văn bản pháp luật khác có liên quan như: Luật Thương mại, Luật Hàng không Dân dụng, Bộ Luật Hàng hải, Luật Đầu tư v. cũng có quy phạm pháp luật xung đột chọn luật giải quyết quan hệ tương ứng có yếu tô nước ngoài hoặc trong tương lai có thể xây dựng thêm những quy phạm pháp luật xung đột mới trong những văn bản pháp luật này thì thứ tự ưu tiên áp dụng trước hết thuộc luật chuyên ngành nếu không trái với quy định từ ° Phần 7 BLDS năm 2005 được thiết kế bao gồm cả quy phạm pháp luật xung đột và quy phạm pháp luật thực chất như quy định tại khoản 3,4 Điều 767, Điều 774, 775. 12 Điều 664 đến 671 của BLDS năm 2015,” sau đó mới áp dụng quy phạm pháp luật xung đột của Phần 5 BLDS năm 2015. Quy định tại khoản 1 Điều 663 về phạm vi áp dụng của Phan 5 là hoàn toàn phù hợp và cần thiết, tương thích với tư pháp quốc tế của nhiều nước trên thế giới”.
Nó giúp các cơ quan có thâm quyền, các bên đương sự xác định rõ được loại quan hệ cũng như trường hợp sử dụng đến các quy phạm pháp luật xung đột được ghi nhận trong Phần 5. Trong bối cảnh nước ta chưa có đạo luật riêng về tư pháp quốc tế, các quy phạm tư pháp quốc tế nằm rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau thì quy định làm rõ thứ tự ưu tiên áp dụng giữa quy định tại Phần 5 BLDS năm 2015 với quy định trong các đạo luật khác về xác định luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là một điều hết sức cần thiết bởi đây là cơ sở pháp lý quan trọng đảm bảo sự nhất quán trong việc lựa chọn pháp luật áp dụng của cơ quan có thâm quyền cũng như các đương sự nếu có sự khác nhau giữa quy định của BLDS và các đạo luật khác có liên quan. Thứ hai, So với Điều 758 BLDS năm 2005, khoản 2 Diéu 663 BLDS nam 2015 đã sửa đôi các trường hợp có yếu tố nước ngoài trong quan hệ dân sự như sau: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc cham dứt quan hệ 7 Đây là nhóm các quy định về nguyên tắc chung xác định và áp dụng pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. ® Xem xét các đạo luật Tư pháp quốc tế của các nước như Liên bang Thuy Sĩ, Vương Quốc Bi, Ba Lan hay Dao luật về xác định pháp luật áp dụng của Trung Quốc, Nhật Bản hoặc phần điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong Đạo luật giới thiệu về Bộ luật Dân sự Đức đều dễ dàng thấy được điều luật quy định về phạm vi áp dụng luôn là một trong những điều khoản đầu tiên trong các văn bản này.
13 đó xảy ra tại nước ngoài; c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng doi tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài. ” Ở trường hợp chủ thể nêu tại các điểm a, b, c có thé nhận thấy, chủ thé tham gia quan hệ đã được thu gọn bao gồm: cá nhân, pháp nhân (gồm cả pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại)” đồng thời loại bỏ chủ thể là người Việt Nam định cư ở nước ngoài và chủ thé là tổ chức như quy định tại Điều 758 BLDS năm 2005. Việc quyết định thu gọn chủ thể nhằm ba mục đích sau đây: Một là, đảm bảo sự tương thích với các quy định về cá nhân và pháp nhân trong các Phần còn lại của Bộ Luật. Hai là, loại bỏ chủ thé tham gia quan hệ dân sự là người Việt Nam định cư ở nước ngoài do còn nhiều cách giải thích khác nhau về trường hợp công dân Việt Nam “cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dai ở nước ngoài” theo quy định tai khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008.
Hiện nay không có quy định pháp luật giải thích thé nao là cư trú, làm ăn, sinh sống “/du dai” ở nước ngoài? vì vậy, đây là vướng mắc lớn khi áp dụng điều khoản này. Bên cạnh đó, trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài là người gốc Việt Nam nhưng mang quốc tịch nước ngoài thì họ là cá nhân nước ngoài khi tham gia quan hệ dân sự, nếu họ mang quốc tịch Việt Nam thì họ là công dân Việt Nam khi tham gia quan hệ dân sự. Hai chủ thê này đêu đã được ghi nhận ở điêm a và c khoản 2 Điêu ” Điều 75 BLDS năm 2015 quy định về Pháp nhân thương mại như sau: "1. Pháp nhân thương mai là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.
Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khúc. " Điều 76 BLDS năm 2015 quy định về Pháp nhân phi thương mại như sau: "1. Pháp nhân phi thương mai là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên. Pháp nhân phi thương mại bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - x hội, tổ chức chính trị x@ hội - nghề nghiệp, tổ chức xõ hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xa hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp x& hội và cdc tổ chức phi thương mai khúc.
Việc không ghi nhận chủ thể người Việt Nam định cư ở nước ngoài còn nhằm mục đích đảm bảo sự bình đăng của chủ thé này với các chủ thé khác đặc biệt là với công dan Việt Nam không định cư ở nước ngoài. '° Ba là, đối với tô chức không có tư cách pháp nhân thì người giao dịch thay mặt tô chức đó mà không có ủy quyền của các thành viên tổ chức đó sé chịu trách nhiệm cá nhân với giao dịch của mình. Vì vậy, đây chính là trường hợp cá nhân tham gia quan hệ dân sự đã được quy định tại điểm a, b, c của khoản 2 Điều 663. Ở trường hợp nêu tại điểm b, đã bổ sung thêm quy định “bực biện.
quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài” vì thực tiễn và lý luận đều cho thấy không chỉ có các quan hệ dân sự được thiết lập, thay đôi hay chấm đứt giữa công dân Việt Nam với nhau xảy ra ở nước ngoài ma còn có trường hợp /hực hiện quan hệ đó ở nước ngoài. Ngoài ra, điềm b đã hủy bỏ trường hợp “xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ dân sự theo pháp luật nước ngoài” như quy định tại Điều 758 Bộ Luật Dân sự năm 2005. Bởi vì, xét về mặt lý luận, một quan hệ dân sự muốn chịu sự chi phối của pháp luật nước ngoài thì phải có yếu tố nước ngoài (như chủ thể, đối tượng quan hệ v.), do đó quy định như tại Điều 758 dẫn tới sự luận quân cần phải được loại bỏ. Ở trường hợp nêu tại điệm c, cum từ “đổi tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài ” được sử dụng thay thê cho cụm từ cũ trong Bộ Luật Dân sự năm Xu hướng chung làm luật tai nước ta cho thấy, trong những năm gan đây, không còn su khác biệt giữa người Việt Nam định cư ở nước ngoài với công dân Việt Nam không định cư ở nước ngoài.
Điều đó thể hiện rõ trong nhiều đạo luật, chẳng hạn như: Luật đầu tư năm 2014, Luật nhà ở năm 2014, luật doanh nghiệp năm 2014, luật cư trú năm 2006. Tuy nhiên, cũng có những ngoại lệ quy định riêng về người Việt Nam định cư ở nước ngoài , ví dụ: khoản 25 Điều 3 Luật HN&GD 2014 qui định: "Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Chúng tôi cho rằng, đây không phải là xu hướng đại diện cho việc xây dựng pháp luật ở nước ta hiện nay, và trong sự phát triển chung của đất nước, cũng như đảm bảo cho các chủ thể tham gia quan hệ dân sự hoàn toàn bình đẳng thì những trường hợp ngoại lệ đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài cần sớm được xóa bỏ. 15 2005 là “tai sản liên quan đến quan hệ do ở nước ngoài”.
Thay đôi mới tại điểm c rất phù hợp với thực tiễn bởi điều này đã mở rộng đối tượng của quan hệ dân sự ở nước ngoài, bao gồm không chỉ là tài sản mà còn có thê là các lợi ích khác (như thực hiện công việc ở nước ngoài). Mặc dù có nhiều điểm mới được đánh giá là những thay đổi tích cực, phù hop hơn với thực tiễn, song khoản 2 Điều 663 vẫn bộc lộ một số tồn tại cần khắc phục, đó là: Tứ nhất, khoản 2 Điều 663 không quy định nhà nước là chủ thé tham gia quan hệ dân sự có yếu t6 nước ngoài. Việc không ghi nhận nhà nước là chủ thé tham gia quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là chưa thực sự thuyết phục bởi lẽ: Một là, không phù hợp với Điều 99 và 100 BLDS 2015 khi hai điều luật này có qui định về chủ thê Nhà nước bên cạnh cơ quan nhà nước (pháp nhân phi thương mại' `).