Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường "Các tội phạm về hàng giả theo pháp luật hình sự Việt Nam" (Mã số: LH-2016-11/ĐHL-HN) do TS. Lê Đăng Doanh làm chủ nhiệm, cùng các thành viên nghiên cứu là NCS. Phạm Tài Tuệ và Th.S. Nguyễn Thành Long thuộc Trường Đại học Luật Hà Nội thực hiện và nghiệm thu năm 2017.

Quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế (gia nhập WTO) đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa đa dạng. Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị trường đã làm nảy sinh tình trạng sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng diễn biến phức tạp. Theo ước tính của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), giá trị hàng giả giao dịch hàng năm trên thế giới đạt khoảng 500 tỷ Euro (chiếm khoảng 1/10 thương mại toàn cầu); trong đó đĩa CD bị sao chép trái phép chiếm tỷ lệ 1/3, phần mềm máy tính chiếm 35%, hàng may mặc và mỹ phẩm chiếm 1/3, đồng hồ Thụy Sỹ giả lưu hành 40 triệu chiếc so với 26 triệu chiếc đồng hồ thật.

Tại Việt Nam, hàng giả xuất hiện ở hầu hết các lĩnh vực từ hàng xa xỉ phẩm (vàng bạc, đá quý, nước hoa), hàng công nghiệp tiêu dùng (điện tử, giày dép, vật liệu xây dựng) đến các mặt hàng ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng con người và sản xuất nông nghiệp (dược phẩm, thực phẩm, phân bón, thuốc trừ sâu). Số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2012 - 2016 cho thấy nhóm tội phạm về hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh (Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 1999) chiếm tỷ trọng lớn nhất (chiếm 47% số vụ và 42% số bị cáo). Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự giai đoạn này bộc lộ nhiều vướng mắc về phân định ranh giới giữa tội phạm và vi phạm hành chính, phân biệt hàng giả với hàng kém chất lượng hoặc hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, cũng như sự thiếu thống nhất trong lượng hình. Sự ra đời của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với việc cấu trúc lại nhóm tội danh và lần đầu tiên quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu toàn diện cả về lý luận và thực tiễn.

Mục tiêu nghiên cứu: Làm sáng tỏ hệ thống lý luận về trách nhiệm hình sự đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo pháp luật hình sự Việt Nam; đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật giai đoạn 2012 - 2016 nhằm chỉ ra hạn chế, bất cập; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả triển khai thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Về mặt lý luận: Nghiên cứu các quan điểm khoa học pháp lý về tội sản xuất, buôn bán hàng giả; làm rõ các yếu tố cấu thành tội phạm, định tội danh, định khung hình phạt theo Bộ luật Hình sự năm 2015; phân tích so sánh kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia.
  2. Về mặt thực tiễn: Khái quát tình hình tội phạm và thực tiễn xét xử giai đoạn 2012 - 2016; làm rõ các vướng mắc, sai sót trong định tội danh và quyết định hình phạt của các cấp Tòa án; đánh giá hiệu quả chính sách hình sự của Nhà nước.
  3. Về giải pháp: Đề xuất các kiến nghị lập pháp, hướng dẫn giải thích áp dụng pháp luật và các biện pháp nâng cao hiệu lực đấu tranh phòng, chống nhóm tội phạm này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội sản xuất, buôn bán hàng giả qua các giai đoạn (trọng tâm là BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015); các cấu thành tội phạm; thực tiễn xét xử thông qua các bản án hình sự sơ thẩm, phúc thẩm.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Không gian nghiên cứu là thực tiễn đấu tranh và xét xử tại Việt Nam (tập trung tại các địa bàn trọng điểm như TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và một số địa phương); thời gian thu thập dữ liệu thực tiễn và bản án tập trung từ năm 2011 đến năm 2017 (trọng tâm giai đoạn 2012 - 2016).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Công trình được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, gắn liền với đường lối, chính sách hình sự của Đảng và pháp luật của Nhà nước Việt Nam.

Khung lý thuyết và văn bản pháp luật sử dụng: Nghiên cứu dựa trên hệ thống các văn bản lập pháp và văn bản dưới luật của Việt Nam qua các thời kỳ: Sắc lệnh số 47-SL (1945), Sắc luật số 03/SL ngày 15/3/1976 của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, Pháp lệnh số 07-LCT/HNN ngày 10/7/1982 của Hội đồng Nhà nước, Bộ luật Hình sự năm 1985 (Điều 167, Điều 177), Nghị định số 140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng, Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều 156, 157, 158, 171), Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT, Thông tư số 44/2011/TT-BTC, Nghị định số 08/2013/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (các điều 12, 51, 54, 74, 75, 76, 192, 193, 194, 195, 226). Về nguồn luật quốc tế, tác giả khảo cứu Điều 2320 Tiêu mục 18 Bộ luật Hoa Kỳ (18 U.S. Code § 2320) và Đạo luật Nhãn hiệu của Singapore năm 1998 (sửa đổi năm 2005).

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn: Vận dụng xuyên suốt trong việc đối chiếu quy định lập pháp với thực tế hồ sơ xét xử.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Dùng để phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm (khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan) và tổng kết các quan điểm pháp lý.
  • Phương pháp hệ thống: Sắp xếp các nội dung nghiên cứu theo logic lịch sử và phân nhóm tội danh chặt chẽ.
  • Phương pháp luật học so sánh: Phân tích sự tương đồng và khác biệt giữa quy định của BLHS Việt Nam qua các thời kỳ và giữa pháp luật Việt Nam với các nước (Hoa Kỳ, Singapore, Úc, Trung Quốc).
  • Phương pháp điều tra xã hội học / lấy ý kiến chuyên gia: Thiết kế và xử lý 120 phiếu khảo sát lấy ý kiến của cán bộ trực tiếp thực thi pháp luật (Cảnh sát điều tra, Quản lý thị trường, Kiểm sát viên, Thẩm phán).

Nguồn dữ liệu:

  • Báo cáo thống kê Mẫu 1A của Tòa án nhân dân tối cao về công tác xét xử hình sự từ năm 2012 đến 2016.
  • Thống kê của Cơ quan Cảnh sát điều tra về số vụ phát hiện và xử lý giai đoạn 2010 - 2015.
  • Mẫu dữ liệu thực nghiệm gồm 126 bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm với 240 bị cáo được thu thập ngẫu nhiên từ năm 2011 đến 2017 tại TAND TP. Hà Nội, TAND TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh thành.

Nội dung chính theo từng chuyên đề nghiên cứu

Công trình nghiên cứu gồm Báo cáo tổng thuật kết quả nghiên cứu và 4 chuyên đề chuyên sâu:

Chuyên đề 1: Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam quy định về các tội sản xuất, buôn bán hàng giả

Chuyên đề hệ thống hóa quá trình phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam đối với tội danh sản xuất, buôn bán hàng giả qua 3 giai đoạn:

  1. Giai đoạn 1945 đến trước năm 1985: Thời kỳ 1945 - 1975 ở miền Bắc vận hành nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, hàng hóa do nhà nước phân phối hoặc tiếp nhận viện trợ nên tội phạm hàng giả chưa xuất hiện và chưa được quy định trong các văn bản hình sự. Sau năm 1975, trước yêu cầu ổn định thị trường miền Nam, Sắc luật số 03/SL ngày 15/3/1976 lần đầu tiên quy định hành vi "Sản xuất hàng giả có ý lừa gạt người tiêu thụ" thuộc nhóm tội phạm kinh tế với khung hình phạt từ 6 tháng đến 5 năm tù, trường hợp nghiêm trọng có thể lên đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Đến năm 1982, Pháp lệnh số 07-LCT/HNN ngày 10/7/1982 chính thức tách thành tội độc lập tại Điều 5, phân hóa mức phạt cho hàng giả thông thường (6 tháng đến 5 năm tù) và hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh hoặc có chất độc hại (3 năm đến tù chung thân).
  2. Giai đoạn từ BLHS năm 1985 đến trước BLHS năm 1999: Điều 167 BLHS năm 1985 quy định tội sản xuất, buôn bán hàng giả (được sửa đổi bổ sung năm 1989 và 1992 để bổ sung các đối tượng phân bón, thuốc trừ sâu, vật liệu xây dựng). Giai đoạn này, Nghị định số 140/HĐBT ngày 25/4/1991 đã đưa ra định nghĩa đầu tiên về hàng giả dựa trên dấu hiệu giả mạo hình dáng hoặc mất giá trị sử dụng. Đồng thời, luật phân biệt hành vi buôn bán hàng giả với tội lưu hành sản phẩm kém phẩm chất (Điều 177 BLHS năm 1985).
  3. Giai đoạn từ BLHS năm 1999 đến BLHS năm 2015: BLHS năm 1999 đã tách nhóm hành vi này thành 3 điều luật độc lập căn cứ vào đối tượng hàng hóa: Điều 156 (hàng giả thông thường, định lượng giá trị tương đương hàng thật từ 30 triệu đồng trở lên), Điều 157 (hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh), Điều 158 (hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi).

Chuyên đề 2: Thực tiễn xét xử các tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong giai đoạn 2012 - 2016 ở Việt Nam

Tác giả tổng hợp số liệu từ các cơ quan tiến hành tố tụng và phân tích mẫu 126 vụ án hình sự (240 bị cáo) xét xử từ năm 2011 đến 2017:

Nhóm tội danh theo BLHS năm 1999 Số vụ án Tỷ lệ số vụ (%) Số bị cáo Tỷ lệ bị cáo (%)
Điều 157: Lương thực phẩm, thuốc chữa bệnh (rượu ngoại, nước ngọt, tân dược) 52 41,3% 95 39,6%
Điều 157: Thực phẩm chức năng 12 9,5% 19 7,9%
Tổng nhóm Điều 157 64 50,8% 114 47,5%
Điều 156: Hàng tiêu dùng (mỹ phẩm, sứ vệ sinh, bình nóng lạnh, mực in, dầu nhớt) 46 36,5% 98 40,8%
Điều 158: Nông nghiệp (phân bón, thuốc bảo vệ thực vật) 16 12,7% 28 11,7%
Tổng cộng mẫu khảo sát 126 100% 240 100%

Số liệu thực tiễn phản ánh 7 nhóm bất cập lớn trong hoạt động tư pháp:

  1. Tỷ lệ xử lý hình sự rất thấp: Giai đoạn 2010 - 2015, cơ quan Công an phát hiện 1.875 vụ với 2.520 đối tượng nhưng chỉ khởi tố xử lý hình sự 346 vụ / 382 đối tượng (đạt 18% số vụ và 15% số đối tượng). Địa bàn tập trung phần lớn tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh (chiếm 49% số vụ và 54% số bị cáo cả nước năm 2014 - 2015).
  2. Thiếu tiêu chí phân định tính chất nguy hiểm: Điều 157 BLHS năm 1999 không quy định định lượng giá trị hàng giả dẫn đến việc áp dụng tùy tiện khoản 4 Điều 8 BLHS. Điển hình: Vụ án Lê Thị Ch. (Hà Nội, 2012) buôn bán 45 kg bột ngọt giả Ajinomoto bị xử phạt 24 tháng tù giam; trong khi vụ Nguyễn Thị Th. (tỉnh Tây Ninh) buôn bán 98 kg bột ngọt giả cùng nhãn hiệu chỉ bị Đội Quản lý thị trường xử phạt hành chính 5 triệu đồng. Tương tự, vụ Công ty Cổ phần Habada (Bắc Giang, 2013) sản xuất 54.000 lít bia giả chỉ bị phạt hành chính 35 triệu đồng.
  3. Vướng mắc định danh hàng giả qua biên giới: Tồn tại 3 quan điểm áp dụng không thống nhất: xử lý về tội buôn lậu (Điều 153), xử lý về tội buôn bán hàng giả, hoặc xử lý chuyển hóa thành hai tội độc lập.
  4. Định tội danh người vừa sản xuất vừa buôn bán: Tòa án các địa phương áp dụng không đồng nhất (có nơi ghép 1 tội danh, có nơi tách 2 tội riêng biệt). Ví dụ vụ án số 247/2017/HSST tại TAND TP. Hồ Chí Minh: Bị cáo Nguyễn Quang M. làm giả nhớt Castrol bị truy cứu về tội sản xuất, buôn bán hàng giả; trong khi đồng phạm Đinh Công L. (người trực tiếp sang chiết nhớt vào vỏ thùng) chỉ bị tuyên tội sản xuất hàng giả.
  5. Bế tắc trong xác định tình tiết định khung định tính: 71% cán bộ tố tụng được khảo sát (85/120 phiếu) cho rằng việc xác định "hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng" không có căn cứ rõ ràng, dẫn đến việc Tòa án phải vận dụng sai các thông tư hướng dẫn của tội xâm phạm sở hữu hoặc an toàn giao thông.
  6. Mất cân đối nghiêm trọng trong quyết định hình phạt: Thống kê TANDTC cho thấy mức phạt tù dưới 3 năm chiếm 65% (515/790 bị cáo); tỷ lệ cho hưởng án treo chiếm xấp xỉ 30% (cá biệt một Tòa án cấp quận tại Hà Nội cho 10/11 bị cáo hưởng án treo, tỷ lệ trên 90%); hình phạt tiền áp dụng với tư cách hình phạt chính chỉ đạt 0,3%. Sự chênh lệch thể hiện rõ qua so sánh: Bản án số 144/2013/HSST xử phạt Lê Ngọc Ch. buôn bán bản lề giả nhãn hiệu VVP trị giá gần 3 tỷ đồng mức án 3 năm tù cho hưởng án treo; ngược lại, Bản án số 251/2016/HSST xử phạt Đỗ Văn H. buôn bán bình nóng lạnh Ariston giả trị giá 296 triệu đồng mức án 4 năm tù giam.
  7. Khoảng trống pháp lý với phụ gia thực phẩm: Các chất phụ gia độc hại, phẩm màu không rõ nguồn gốc chưa được xếp vào đối tượng tác động của Điều 157 BLHS năm 1999.

Chuyên đề 3: Các tội phạm về sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định của BLHS năm 2015 so sánh với BLHS năm 1999

BLHS năm 2015 (sửa đổi năm 2017) đã tái cơ cấu nhóm tội phạm hàng giả thành 4 điều luật độc lập (Điều 192, 193, 194, 195) với những điểm sửa đổi cốt lõi:

  • Tách riêng hành vi làm hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh thành tội danh độc lập (Điều 194) và duy trì khung hình phạt cao nhất là tử hình; trong khi tội sản xuất hàng giả là lương thực, thực phẩm (Điều 193) được hạ mức hình phạt cao nhất xuống tù chung thân.
  • Bổ sung đối tượng "phụ gia thực phẩm" vào cấu thành của Điều 193.
  • Quy định trách nhiệm hình sự của "Pháp nhân thương mại" (Điều 74, 75, 76 và các khoản quy định tại Điều 192 - 195) với các chế tài phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, cấm huy động vốn.
  • Lượng hóa các tình tiết định tính thành các chỉ số cụ thể: tỷ lệ tổn thương cơ thể (31% đến 60%, từ 61% trở lên), thiệt hại về tài sản (từ 100 triệu đến dưới 500 triệu đồng; từ 500 triệu đồng trở lên), thu lợi bất chính (từ 50 triệu đến dưới 100 triệu đồng; từ 100 triệu đồng trở lên), giá trị hàng giả tương đương hàng thật (từ 30 triệu đến dưới 150 triệu đồng).
  • Giới hạn độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12 BLHS năm 2015): Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các tội danh về hàng giả (kể cả tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng).

Chuyên đề 4: Quy định hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả trong pháp luật của một số nước trên thế giới

Khảo cứu kinh nghiệm pháp luật quốc tế tại Hoa Kỳ và Singapore cho thấy:

  • Pháp luật Hoa Kỳ: Điều 2320 Tiêu mục 18 Bộ luật Hình sự Hoa Kỳ coi hành vi gắn nhãn hiệu gian dối gây nhầm lẫn trong lưu thông thương mại là hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả. Chế tài phạt tiền cá nhân vi phạm lần đầu lên đến 2 triệu USD và phạt tù không quá 10 năm (đối với pháp nhân phạt tiền đến 5 triệu USD); tái phạm phạt cá nhân đến 5 triệu USD và phạt tù đến 20 năm (pháp nhân phạt đến 15 triệu USD).
  • Pháp luật Singapore: Đạo luật Nhãn hiệu Singapore (sửa đổi 2005) định nghĩa hàng giả gắn liền với việc sử dụng nhãn mác trùng hoặc tương tự mà không có sự chấp thuận của chủ sở hữu nhãn hiệu.
  • Khác biệt cơ bản: Pháp luật các nước xem hành vi giả mạo nhãn hiệu trực tiếp là hành vi hàng giả; trong khi pháp luật Việt Nam phân tách riêng biệt giữa tội phạm hàng giả (xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, chất lượng) và tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171 BLHS năm 1999 / Điều 226 BLHS năm 2015).

Kết quả và đóng góp

Kết quả khoa học chính

  1. Tổng kết và lượng hóa bức tranh thực tiễn xét xử 5 năm (2012 - 2016): Đề tài đã chỉ ra sự lệch pha giữa tỷ lệ phát hiện và tỷ lệ khởi tố (chỉ 18% số vụ được xử lý hình sự), chứng minh xu hướng áp dụng hình phạt tù nhẹ dưới 3 năm (65%), tỷ lệ án treo cao (30%), và sự thiếu vắng của hình phạt tiền (chỉ 0,3%).
  2. Làm rõ tiêu chí phân định hàng giả về chất lượng, hàng kém chất lượng và hàng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp:
    • Hàng kém chất lượng: Hàng hóa do cơ sở được phép sản xuất tạo ra, có đăng ký tiêu chuẩn chất lượng nhưng chất lượng thực tế không đạt như công bố, song vẫn đạt từ 70% trở lên so với tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
    • Hàng giả về chất lượng: Hàng hóa có mức chất lượng thực tế đạt dưới 70% mức tiêu chuẩn kỹ thuật công bố hoặc quy định bắt buộc của Nhà nước.
    • Hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp: Hàng hóa vi phạm nhãn hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn, giả mạo chỉ dẫn địa lý nhưng có chất lượng kỹ thuật tương đương hàng thật cùng loại. Trường hợp vừa vi phạm nhãn hiệu vừa có chất lượng dưới 70% thì phải xử lý về tội sản xuất, buôn bán hàng giả.

Đề xuất và kiến nghị lập pháp, áp dụng pháp luật

  • Hướng dẫn định lượng ranh giới tội phạm đối với Điều 193 và Điều 194 BLHS năm 2015: Hội đồng Thẩm phán TANDTC cần ban hành Nghị quyết quy định tiêu chí định lượng tối thiểu (theo trọng lượng kg, thể tích lít hoặc giá trị hàng giả tương đương hàng thật) để phân định giữa vi phạm hành chính và tội phạm đối với nhóm hàng hóa lương thực, thực phẩm, thuốc phòng bệnh, chữa bệnh, chấm dứt việc áp dụng tùy tiện căn cứ vào "tính chất nguy hiểm không đáng kể".
  • Quy tắc định tội danh đối với hành vi phức hợp: Hướng dẫn thống nhất xử lý trường hợp một người vừa sản xuất hàng giả vừa đem bán chính số hàng đó vào một tội danh duy nhất là "Tội sản xuất, buôn bán hàng giả", đồng thời áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc hơn trường hợp đơn hành vi. Đối với đồng phạm làm thuê (pha chế, đóng gói, vận hành máy) nhưng nhận thức rõ mục đích sản xuất để bán thì phải chịu trách nhiệm đồng phạm về tội sản xuất, buôn bán hàng giả.
  • Thiết lập công thức lượng hình phân tầng theo tình tiết tăng nặng: Nhằm xóa bỏ tình trạng tùy nghi áp dụng Điều 54 BLHS để xử phạt dưới khung hoặc cho hưởng án treo không đúng quy định, đề tài đề xuất mô hình phân chia áp dụng cho khung hình phạt (ví dụ khoản 2 Điều 192 từ 5 năm đến 10 năm tù):
    • Nhóm 1 (tập trung từ 1 đến 4 tình tiết tăng nặng): Áp dụng mức phạt từ 5 năm đến dưới 7 năm tù.
    • Nhóm 2 (tập trung từ 5 đến 8 tình tiết tăng nặng): Áp dụng mức phạt từ 7 năm đến dưới 9 năm tù.
    • Nhóm 3 (có từ 9 tình tiết tăng nặng trở lên): Áp dụng mức phạt từ 9 năm đến 12 năm tù.
    • Chỉ cho phép áp dụng Điều 54 xử phạt dưới 5 năm tù khi vụ án thuộc Nhóm 1 và có từ 6 tình tiết giảm nhẹ trở lên (trong đó có ít nhất 2 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51).
  • Tăng cường áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính: Vì tội phạm hàng giả mang tính chất vụ lợi kinh tế, cần chuyển hướng ưu tiên phạt tiền để đánh trực tiếp vào lợi ích vật chất thay vì lạm dụng án phạt tù hoặc án treo.
  • Hướng dẫn truy cứu TNHS pháp nhân thương mại: Phân định rõ trách nhiệm cá nhân của Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc với trách nhiệm của pháp nhân; cụ thể hóa các khung phạt tiền tương ứng với giá trị hàng hóa và quy mô chi nhánh, văn phòng đại diện vi phạm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của công trình: Dữ liệu thực nghiệm tập trung phân tích các bản án xét xử theo BLHS năm 1999 trong giai đoạn 2012 - 2016. Do BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) mới được thông qua tại thời điểm hoàn thành đề tài (tháng 11/2017), công trình chưa có điều kiện khảo sát thực chứng về các bản án áp dụng chế tài hình sự đối với pháp nhân thương mại cũng như các vụ việc phân tách theo Điều 193 và Điều 194 mới.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục theo dõi thực tiễn áp dụng BLHS năm 2015 trong việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử pháp nhân thương mại phạm tội về hàng giả; đánh giá tính tương thích của các mức phạt tiền mới và sự chuyển biến trong hoạt động định tội danh đối với các loại phụ gia thực phẩm độc hại trên thị trường.

Giá trị tham khảo

Công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo học thuật và thực tiễn trực tiếp đối với:

  • Giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Luật: Cung cấp tư liệu chuyên sâu về lịch sử lập pháp hình sự từ năm 1945 đến 2017, phương pháp phân tích cấu thành tội phạm và mô hình so sánh luật hình sự quốc tế.
  • Cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan quản lý: Cung cấp nguồn án lệ thực nghiệm, các số liệu thống kê chi tiết của TANDTC và Bộ Công an giai đoạn 2012 - 2016, cùng hệ thống giải pháp định lượng giúp Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên và lực lượng Quản lý thị trường giải quyết các vướng mắc trong phân loại hàng giả và quyết định hình phạt.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ xử lý hình sự đối với các vụ việc sản xuất, buôn bán hàng giả trong giai đoạn 2010 - 2015 là bao nhiêu?
Theo số liệu thống kê của cơ quan Công an được nêu trong đề tài, trong giai đoạn 2010 - 2015 có 1.875 vụ sản xuất, buôn bán hàng giả với 2.520 đối tượng bị phát hiện, nhưng chỉ có 346 vụ với 382 đối tượng bị xử lý hình sự, chiếm tỷ lệ 18% về số vụ và 15% về số đối tượng.

2. Điểm khác biệt căn bản trong việc quy định hình phạt cao nhất giữa BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 đối với hàng giả là lương thực, thực phẩm là gì?
Theo Điều 157 BLHS năm 1999, hành vi làm hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh có thể bị áp dụng mức hình phạt cao nhất là tử hình. Đến BLHS năm 2015, nhóm hành vi này được tách riêng: hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193) chỉ còn mức hình phạt cao nhất là tù chung thân; hình phạt tử hình chỉ duy trì duy nhất đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194).

3. Tác giả đề xuất tiêu chí kỹ thuật nào để phân biệt hàng giả về chất lượng và hàng kém chất lượng?
Tác giả đề xuất căn cứ vào ngưỡng 70% tiêu chuẩn chất lượng. Nếu hàng hóa do cơ sở hợp pháp sản xuất có chất lượng không đạt như đăng ký nhưng vẫn đạt từ 70% trở lên so với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thì coi là hàng kém chất lượng. Nếu chất lượng thực tế đạt dưới 70% tiêu chuẩn kỹ thuật nhà nước quy định thì phải coi là hàng giả về chất lượng.

4. Kết quả khảo sát 126 bản án giai đoạn 2011 - 2017 cho thấy loại hàng giả nào bị xét xử nhiều nhất?
Nhóm hàng giả là lương thực, thực phẩm, rượu ngoại, nước ngọt, thuốc chữa bệnh và thực phẩm chức năng (xét xử theo Điều 157 BLHS năm 1999) chiếm tỷ lệ lớn nhất với 64/126 vụ (chiếm 50,8% số vụ) và 114/240 bị cáo (chiếm 47,5% tổng số bị cáo).

5. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo BLHS năm 2015 không?
Theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với bất kỳ tội danh nào trong nhóm tội sản xuất, buôn bán hàng giả (các điều 192, 193, 194, 195), kể cả trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.


Kết luận

Đề tài nghiên cứu khoa học "Các tội phạm về hàng giả theo pháp luật hình sự Việt Nam" đã hệ thống hóa toàn diện lịch sử lập pháp từ năm 1945 đến năm 2017 và phân tích chuyên sâu thực tiễn xét xử 126 vụ án hình sự giai đoạn 2012 - 2016. Công trình làm rõ các vướng mắc lý luận và thực tiễn trong phân định ranh giới tội phạm, sự mất cân đối trong lượng hình, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học về những điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015. Các kiến nghị về định lượng ranh giới truy cứu hình sự, mô hình phân tầng hình phạt và cơ chế áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại là nguồn tư liệu có giá trị phục vụ công tác hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp hình sự tại Việt Nam.