MỞ ĐẦU Mang thai và làm mẹ là trọng trách thiêng liêng của người phụ nữ. Sự mang thai xảy ra khi giao tử của nữ là noãn bào kết hợp với giao tử của nam là tinh trùng trong quá trình thụ tinh. Theo Hướng dẫn quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản, quá trình mang thai thường diễn ra từ 37 đến 41 tuần tính từ ngày kinh cuối cùng [3]. Phụ nữ khi mang thai thường xuất hiện các vấn đề về sức khoẻ, có thể bị thiếu máu, thiếu các chất dinh dưỡng, gặp phải một số tình trạng nghiêm trọng liên quan đến thai nghén như: sảy thai, thai lưu, đẻ non, chửa trứng, chửa ngoài tử cung, rau tiền đạo, tiền sản giật,… và thai nhi cũng có nhiều nguy cơ như dị tật, thai suy dinh dưỡng, suy thai, thai mắc bệnh trong tử cung… Nếu thai phụ và thai nhi được thăm khám và quản lý thai nghén tốt khi xuất hiện những bất thường, đặc biệt được các nhân viên y tế chăm sóc và tư vấn tận tình, chu đáo sẽ giảm thiểu được những nguy cơ trên.
Trong các chế độ chăm sóc cho thai phụ, sử dụng thuốc và các vi chất dinh dưỡng là một trong những vấn đề quan trọng giúp thai phụ và thai nhi khỏe mạnh. Khi thai phụ đến khám thai, các nhân viên y tế sẽ hướng dẫn cho họ sử dụng một số thuốc thiết yếu, những khoáng chất, vitamin cần thiết cho quá trình hình thành và phát triển. Trong trường hợp phát hiện các vấn đề bất thường về sức khoẻ của người mẹ hoặc thai nhi, thai phụ sẽ được tư vấn, yêu cầu sử dụng thuốc. Hiện nay, các chế phẩm thuốc cho phụ nữ mang thai xuất hiện ngày càng nhiều trên thị trường.
Thai phụ có thể tiếp cận những thông tin về sử dụng thuốc từ nhiều nguồn khác nhau. Nếu họ không được tư vấn đúng và không được trang bị những kiến thức cơ bản về sử dụng thuốc ở đối tượng phụ nữ mang thai sẽ dẫn đến việc sử dụng thuốc hoặc các chất dinh dưỡng sai mục đích, gây nên những hậu quả khó lường. Ngoài ra, nền tảng văn hóa có thể có tác động quan trọng đến nhận thức và thái độ đối với việc dùng thuốc. Nhận thức của phụ nữ mang thai về rủi ro liên quan đến thuốc đã được nghiên cứu trước đây.
Thực tế là hầu hết phụ nữ có nhận thức đúng về nguy cơ dị tật thai nhi, họ có tâm lý phải tránh dùng thuốc quá mức. Các nghiên cứu cũng đã ghi nhận rằng nhận thức sai về nguy cơ có thể ảnh hưởng đến việc tuân thủ một loại thuốc cần thiết cho sức khỏe của mẹ và thai nhi, chẳng hạn việc phụ nữ tự ý mua thuốc không cần kê đơn là rát phổ biến vì họ cho rằng thuốc không cần kê đơn là thuốc an toàn. Vào năm 2019, một nghiên cứu của Thụy Điển đã chỉ ra rằng khoảng 19,4% số người được hỏi (n = 160/824) là người sử dụng thường xuyên (sử dụng thuốc hàng ngày đến vài lần một tuần) và 28,4% (n = 234/824) là người sử dụng thuốc mỗi tuần một lần đến một tháng [28]. Trong một nghiên cứu khác của Francesco 1 Lapi cùng các cộng sự vào năm 2017 cho thấy phần lớn các đối tượng (68%) cho biết đã sử dụng một hoặc nhiều thuốc thay thế (được định nghĩa là các sản phẩm được sản xuất từ thảo mộc hoặc có nguồn gốc thiên nhiên) trong suốt cuộc đời của họ, 48% phụ nữ mang thai cho biết đã dùng ít nhất một thuốc thay thế trước đây và trong khi mang thai hiện tại nhưng có tới 59,1% đối tượng không thể xác định chính xác loại thuốc thay thế mà họ đang sử dụng [19].
Ở Việt Nam, các cuộc khảo sát cụ thể điều tra thái độ của phụ nữ mang thai đối với việc sử dụng thuốc vẫn còn thiếu cả về độ rộng lẫn chiều sâu. Các nghiên cứu trên thế giới không phù hợp với đặc điểm xã hội ở trong nước nên tính ứng dụng không cao. Trong khi nguồn thông tin cũng như hiểu biết của thai phụ còn nhiều hạn chế [23]. Trên cơ sở đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Khảo sát kiến thức sử dụng thuốc của thai phụ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021 và các yếu tố liên quan” với các mục tiêu chính sau: 1.
Mô tả kiến thức sử dụng thuốc của thai phụ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức sử dụng thuốc của thai phụ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021. Tổng quan quá trình mang thai 1. Đại cương Việc mang thai xảy ra khi giao tử của nữ là noãn bào kết hợp với giao tử của nam là tinh trùng trong “quá trình thụ tinh” hay thông thường còn gọi là “thụ thai”.
Thời gian mang thai bình thường kéo dài 280 ngày từ ngày đầu của kỳ kinh cuối, hay 266 ngày kể từ ngày thụ thai. Như vậy, việc sinh nở thường xảy ra sau khi thụ tinh 38 tuần, tức là khoảng 40 tuần kể từ ngày bắt đầu chu kỳ kinh cuối [2]. Những thay đổi giải phẫu ở phụ nữ mang thai 1. Thay đổi ở bộ phận sinh dục - Khi có thai thân tử cung mỗi ngày một to ra.
Niêm mạc tử cung biến thành ngoại sản mạc. Cơ tử cung mềm ra, giảm trương lực. Các mạch máu nuôi dưỡng tử cung cũng tăng sinh. Cơ ở thân tử cung đặc biệt phát triển mạnh ở lớp giữa là lớp cơ có các sợi đan chéo nhau.
- Tại cổ tử cung: chất nhày ở ống cổ tử cung đặc lại, bịt kín ống này giống như một cái nút chai gọi là nút nhầy cổ tử cung. - Âm đạo mềm, dài ra và có khả năng dãn rộng cho thai nhi chui ra khi sinh nở. - Dịch âm đạo tăng nhiều hơn, có mầu trắng đục và độ pH toan [2]. Thay đổi ở các cơ quan ngoài bộ phận sinh dục Thay đổi tại vú Vú căng và mỗi ngày một to ra do các tuyến sữa và các ống dẫn sữa phát triển.
Quầng vú, núm vú thẫm màu. Tại quầng vú nổi các hạt như hạt kê. Các mạch máu ở vú cũng tăng sinh, dãn rộng. Gần đến ngày đẻ trong vú đã có sữa non [2].
Thay đổi ở da, cân, cơ và xương khớp - Xuất hiện các vết xạm trên mặt ở vùng trán, gò má, cổ; vết rạn trên bụng. Các cơ nhất là cơ thành bụng cũng mềm và dãn ra. - Hệ thống xương cũng bị ngấm nước nên hơi mềm ra. Có thể gặp tình trạng loãng xương do lượng canxi được huy động ra nhiều để tạo xương cho thai nhi.
3 - Những tháng cuối của thai nghén có thể gặp hiện tượng đau, tê bì, mỏi yếu của các chi [2]. Thay đổi ở bộ máy hô hấp Nhịp thở của thai phụ tăng. Khi hô hấp, mức di động của cơ hoành tăng lên và rộng hơn [2]. Thay đổi ở bộ máy tiết niệu Thận hơi to ra.
Niệu quản người có thai dài ra, giảm trương lực, lại bị tử cung to, nặng đè vào nên bị ứ đọng nước tiểu, dễ gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu (viêm thận-bể thận). Đến gần tháng đẻ, ngôi thai xuống thấp lại đè vào bàng quang gây đái rắt [2]. Thay đổi ở bộ máy tiêu hoá Khi thai đã lớn, dạ dày bị tử cung to đẩy lên, nằm ngang ra nên hay ợ hơi hoặc ợ chua do chảy ngược dịch vị lên thực quản. Răng dễ bị sâu do tình trạng thiếu canxi và từ đó dễ viêm lợi, viêm miệng [2].
Sự tăng trọng lượng cơ thể Trong suốt thời kỳ thai nghén thai phụ sẽ tăng khoảng 11 đến 12 kg [2]. Những thay đổi sinh lý ở phụ nữ mang thai Thay đổi tim mạch Những thay đổi trong hệ thống tim mạch bắt đầu sớm trong thai kỳ, chẳng hạn như khi thai được 8 tuần, cung lượng tim đã tăng 20%. Yếu tố chính có thể là giãn mạch ngoại vi. Thể tích máu tuần hoàn cũng tăng lên trong thời gian này.
Giãn mạch ngoại vi dẫn đến giảm 25–30% sức cản mạch hệ thống, do đó cung lượng tim tăng khoảng 40% trong thời kỳ mang thai. Cung lượng tim tăng chủ yếu do tăng thể tích nhát bóp và một phần là sự gia tăng nhịp tim. Tăng thể tích nhát bóp có thể xảy ra do sự gia tăng sớm khối lượng cơ thành tâm thất và thể tích cuối tâm trương (nhưng không tăng áp lực cuối tâm trương). Tim được giãn ra theo cơ chế sinh lý bình thường cũng với sự tăng sức co bóp của cơ tim.
Mặc dù thể tích nhát bóp giảm dần theo thời gian thai kì, nhưng nhịp tim của người mẹ tăng lên, do đó cung lượng tim vẫn tăng lên ở mức ổn định. Cung lượng tim tối đa của người mẹ đạt được ở tuổi thai khoảng 20–28 tuần. Cung lượng tim thường trở về mức bình thường hai tuần sau khi sinh, 4 tuy nhiên trong trường hợp một số thay đổi bệnh lý (ví dụ như tăng huyết áp trong tiền sản giật), điều này có thể mất nhiều thời gian hơn [26]. Thay đổi ở thận Một trong những thay đổi sinh lý đầu tiên phải kể đến là giãn mạch thận ở mẹ xảy ra trong thai kì, do đó mà lưu lượng máu và mức lọc cầu thận (GFR) đều tăng so với mức bình thường khi không mang thai, tương ứng là 40–65 và 50–85%.
Ngoài ra, sự gia tăng thể tích huyết tương làm giảm áp lực co bóp trong cầu thận cũng dẫn đến tăng GFR [12]. Sức cản mạch giảm ở cả tiểu động mạch ra và tiểu động mạch vào thận và do đó, mặc dù lưu lượng máu qua thận tăng mạnh, áp lực thủy tĩnh ở cầu thận vẫn ổn định. Khi GFR tăng, cả nồng độ creatinin và urê huyết thanh đều giảm xuống giá trị trung bình, tương ứng là khoảng 44,2 μmol/l và 3,2 mmol/l. Lưu lượng máu đến thận tăng dẫn đến tăng kích thước thận từ 1–1,5 cm, thận đạt kích thước tối đa vào thời điểm giữa thai kỳ [12].
Ngoài ra trong thời kỳ mang thai của người mẹ còn có những thay đổi trong quá trình tái hấp thu và thải trừ một số chất. Khi không mang thai, glucose được lọc tự do ở cầu thận. Trong thời kỳ mang thai, sự tái hấp thu glucose ở ống lượn gần và ống góp kém hiệu quả hơn. Do sự gia tăng cả GFR và tính thấm mao mạch ở cầu thận đối với albumin, sự bài tiết protein cũng tăng lên.
Bài tiết acid uric cũng tăng do tăng GFR và/hoặc giảm tái hấp thu ở ống thận [12]. Thay đổi hô hấp Nhu cầu oxy của người mẹ tăng lên đáng kể trong thai kỳ. Nguyên nhân là do tỷ lệ trao đổi chất tăng 15% và lượng oxy tiêu thụ tăng 20%.