CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Một số khái niệm và định nghĩa trong nghiên cứu CSSKSS Sức khoẻ sinh sản “Sức khỏe sinh sản là sự thoải mái toàn diện, không chỉ về thể chất, tinh thần mà cả về xã hội. Đây không chỉ là tình trạng bộ máy sinh sản không có bệnh tật, không bị bất lực mà còn là tiến trình hoạt động của bộ máy này với đầy đủ chức năng. Do đó, SKSS cũng có nghĩa là con người có thể sinh hoạt tình dục tự do và an toàn, tự do quyết định khi nào có con và khoảng cách giữa các lần sinh [12]. Làm mẹ an toàn Là tất cả các phụ nữ đều nhận được sự chăm sóc cần thiết để được hoàn toàn khoẻ mạnh trong suốt thời gian mang thai, sinh đẻ và và sau đẻ.
Làm mẹ an toàn là một lĩnh vực ưu tiên trong CSSKSS của các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển [6]. Chuẩn quốc gia về dịch vụ Chăm sóc sức khỏe sinh sản Là tiêu chí cho các cơ sở và người cung cấp dịch vụ tự phấn đấu vươn lên để đạt những tiêu chuẩn về chuyên môn, kỹ thuật, đảm bảo chất lượng dịch vụ cung cấp, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của nhân dân [7]. Khái niệm về Dịch vụ chăm sóc trước sinh Chăm sóc trước sinh là những dịch vụ đáp ứng việc chăm sóc sản khoa cho người phụ nữ tính từ thời điểm có thai cho đến trước khi đẻ nhằm đảm bảo cho quá trình mang thai được an toàn, sinh con khoẻ mạnh và thai nhi được chuẩn bị nuôi dưỡng tốt.2 Nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản theo chuẩn quốc gia về y tế xã (chuẩn VI) [3]. Chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn 2001-2010 đã đưa ra chuẩn CSSKSS gồm 7 nội dung chính: 6 1.
Tất cả các phụ nữ mang thai được khám thai ít nhất một lần, trong đó tỷ lệ phụ nữ vùng đồng bằng và trung du được khám thai từ 3 lần trở lên đúng lịch đạt từ 75% trở lên. Tỷ lệ phụ nữ có thai được được tiêm phòng uốn ván đủ liều trước sinh tại vùng đồng bằng và trung du đạt từ 95% trở lên. Tỷ lệ phụ nữ khi sinh con có nhân viên y tế được đào tạo chuyên đỡ đẻ tại vùng đồng bằng và trung du đạt từ 95% trở lên. Tỷ lệ phụ nữ sinh con tại cơ sở tế tại vùng đồng bằng và trung du đạt từ 90% trở lên.
Tỷ lệ bà mẹ được nhân viên y tế chăm sóc ít nhất 1 lần trong tuần đầu sau sinh tại vùng đồng bằng và trung du đạt từ 90% trở lên. Tỷ lệ bà mẹ được nhân viên y tế chăm sóc 2 lần trong 42 ngày sau sinh tại vùng đồng bằng và trung du đạt từ 90% trở lên. Tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng biện pháp tránh thai hiện đại tại vùng đồng bằng và trung du đạt từ 70% trở lên. Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi được khám phụ khoa/năm tại vùng đồng bằng và trung du đạt từ 30% trở lên.
Để phục vụ việc phân tích cho mục tiêu đầu của nghiên cứu, chúng tôi sử dụng 4 nội dung đầu về chăm sóc sức khỏe sinh sản theo chuẩn quốc gia về y tế xã trên vì những nội dung này liên quan đến công tác chăm sóc bà mẹ trước sinh. Nghiên cứu để so sánh nội dung này với việc triển khai công tác chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trước sinh tại 2 TYT xã Vân Côn và Tiền Yên năm 2009.3 Chuân quôc gia vê sức khỏe sinh sản Theo Chuẩn Quốc gia về SKSS của Bộ Y tế qui định, nội dung chăm sóc trước sinh bao gồm: khám thai, tiêm phòng uốn ván, tư vấn chế độ dinh dưỡng, uống viên sắt phòng thiếu máu, chế độ lao động nghỉ ngơi hợp lý. 7 Khám thai Khám thai là một việc hết sức quan trọng trong thời kỳ thai nghén. Ở giai đoạn này, có thể có những nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến những vấn đề sức khoẻ trầm trọng như bệnh tật, ♦ tử vong mà bất kỳ phụ nữ nào cũng có thể mắc phải trong thời gian mang thai.
Ở Việt Nam theo qui định của Bộ Y tế trong thời kỳ thai nghén phụ nữ mang thai phải khám thai ít nhất 3 lần vào 3 giai đoạn là: 3 tháng đầu, 3 tháng giữa và 3 tháng cuối. Khám thai định kỳ để theo dõi sự phát triển của thai và phát hiện những nguy cơ cho cả thai nhi và bà mẹ. Khám thai còn bao gồm tư vấn sức khoẻ, nuôi con bằng sữa mẹ, chăm sóc trẻ sơ sinh, các biện pháp kế hoạch hoá gia đình và hướng dẫn chọn nơi sinh an toàn nhất. Trong mỗi lần khám thai cán bộ y tế phải tuân thủ 9 bước như sau [4].
Bước 1: Hỏi Hỏi: Cán bộ y tế hỏi các thông tin về cá nhân, về tình trạng sức khoẻ, về tiền sử gia. đình, hoạt động tình dục, về tiền sử kinh nguyệt, tiền sử sản khoa, sử dụng các biện pháp tránh thai trước khi có thai lần này. Ở 3 tháng giữa, cán bộ y tể hỏi thêm về các dấu hiệu thai máy, thai đạp và các dấu hiệu sụt bụng. Bước 2:Khám toàn thân Đo chiều cao, cân nặng, kiểm tra mạch, huyết áp, khám phù, khám da, niêm mạc, khám vú và nghe tim phổi.
Bước 3: Khám sản khoa Nắn bụng tìm đáy tử cung. Đặt mỏ vịt quan sát khi có chỉ định. Chỉ khám âm đạo khi thấy dấu hiệu bất thường. Khi thai ở giai đoạn 3 tháng giữa, cán bộ y tế cần đo chiều cao tử cung, nghe tim thai; ở giai đoạn 3 tháng cuối, cán bộ y tế đo thêm’ vòng bụng, xác định ngôi thai và,số lượng thai.
Bước 4:Xét nghiệm Một số xét nghiệm cơ bản khi phụ nữ mang thai cần làm đó là các xét nghiệm máu (thử Hemoglobin, hematocrit, HIV, giang mai ở những nơi có đủ trang thiết bị) và xét nghiệm nước tiểu (dùng que thử hoặc đốt nóng nước tiểu). Bước 5: Tiêm phòng uốn ván. 8 Trong lần khám ở 3 tháng đầu, cán bộ y tể sẽ hẹn phụ nữ mang thai ngày tiêm vào 3 tháng giữa của chu kỳ thai nghén. Ở 3 tháng cuối, cán bộ y tế kiểm tra lại xem bà mẹ đã tiêm đủ mũi theo qui định chưa.
Bước 6: Cung cấp viên sắt Cung cấp viên sắt càng sớm càng tốt khi biết phụ nữ có thai cho đến khi sau đẻ ít nhất 4 tuần, cán bộ y tế nên nhắc nhở bà mẹ uống viên sắt đều đặn và thường xuyên trong những lần khám thai. Ở những vùng có sốt rét lưu hành cán bộ y tế cung cấp thuốc phòng sốt rét khi cần thiết. Bước 7: Hướng dẫn bà mẹ vệ sinh thai nghén Cán bộ y tế hướng dẫn bà mẹ chế độ ăn uống, lao động nghỉ ngơi hợp lý, mặc quần áo thoáng, hợp vệ sinh trong suốt quá trình mang thai. Bước 8: Ghi chép Sau mỗi lần khám, cán bộ y tế phải ghi phiếu, vào sổ, điền bảng quản lý thai nghén.
Bước 9: Thông báo kết quả Thông báo kết quả khám với bà mẹ, dặn dò và hẹn đến cơ sở y tế gần nhất khi cần thiết. Tiêm phòng uốn ván Bệnh uốn ván là một trong năm tai biến sản khoa thường gặp trước đây. Đây là bệnh nặng, có tỷ lệ tử vong cao cho bà mẹ và trẻ sơ sinh. Đe dự phòng tai biến này khi có thai các thai phụ cần đi khám thai sớm và khám thai định kỳ đủ 3 lần.
Thông qua khám thai cán bộ y tế sẽ tiêm phòng uốn ván cho thai phụ đồng thời kiểm tra xem việc tiêm phòng uốn ván có đầy đủ hay không. Hiện nay chương trình tiêm phòng uốn ván cho bà mẹ mang thai của bộ y tế qui định mỗi phụ nữ khi mang thai thường tiêm đủ 2 mũi phòng uốn ván, đổi với những phụ nữ có thai lần thứ hai cách lần thứ nhất là 5 năm thì chỉ cần tiêm thêm 1 mũi hoặc có thai lần 3 cách lần 2 là 3 năm thì cũng chỉ cần tiêm thêm 1 mũi là đủ. Tiêm mũi thứ nhất càng sớm càng tốt khi biết có thai, mũi thứ hai cách mũi thứ nhất là 1 tháng và tối thiểu trước khi đẻ sinh là 1 tháng. 9 Phòng chống thiếu máu cho bà mẹ mang thai Trong suốt thời kỳ mang thai nhu cầu về sắt của bà mẹ tăng để cung cấp cho thai nhi.
Để phòng chống thiếu máu, bên cạnh việc đảm bảo chế độ dinh dưỡng, chế độ làm việc hợp lý, tất cả phụ nữ có thai cần uống thêm viên sắt/axit folic. Việc dự phòng thiếu máu trong khi mang thai không những đảm bảo sức khoẻ cho người mẹ và phòng các tai biến sản khoa mà còn làm giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng bào thai (cân nặng sơ sinh thấp) và giảm nguy cơ thiếu máu cũng như giảm suy dinh dưỡng cho trẻ sau này. Nguyên tắc sử dụng viên sắt/axit folic là càng sớm càng tốt, ngày uống 1 viên trong suốt thời gian mang thai đến hết 1 tháng sau đẻ. Tối thiểu nên uống trước đẻ 90 ngày và kéo dài sau đẻ 42 ngày.
Nếu thai phụ có biểu hiện thiếu máu rõ rệt có thể tăng liều dự phòng lên liều điều trị 2-3 viên/ngày. Việc tuân thủ theo chế độ trên là rất quan trọng để dự phòng và điều trị thiếu máu. Phòng chống thiếu dinh dưỡng cho bà mẹ khi mang thai Trong thời kỳ mang thai, người phụ nữ phải ăn nhiều hơn để đảm bảo dinh dưỡng cho chính họ và bản thân đứa trẻ. Bà mẹ có dinh dưỡng tốt, cân nặng tăng từ 9 - 12kg trong suốt thai kỳ không những để đảm bảo bản thân bà mẹ khoẻ mạnh, ít phải can thiệp khi đẻ, phục hồi nhanh sau đẻ, đủ sữa cho con bú mà còn đảm bảo cho đứa trẻ sinh ra đủ tháng, khỏe mạnh và phát triển tốt.
Ngược lại nếu dinh dưỡng kém bà mẹ thường có xu hướng dễ mắc bệnh, đứa trẻ chậm phát triển về thể lực và trí tuệ. Nguyên tắc dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai là phối hợp đủ 4 nhóm thực phẩm trong một bữa ăn (bột đường, chất đạm, chất béo, rau củ và trái cây), ăn nhiều hơn bình thường cả về số lượng và chất lượng. Chế độ làm việc, nghỉ ngơi khi bà mẹ mang thai Chế độ làm việc và nghỉ ngơi không hợp lý trước sinh của các thai phụ là một trong các yếu tố nguy cơ dẫn đến tình trạng đẻ non và cân nặng của trẻ thấp khi sinh. Vì vậy, khi mang thai các bà mẹ cần thực hiện chế độ làm việc nghỉ ngơi hợp lý và duy trì cuộc sống thoải mái về tinh thần.