Luận văn: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Cty Phú Quý

Nghiên cứu chuyên sâu kế toán chi phí và giá thành sản phẩm xây lắp. Cung cấp giải pháp nâng cao quản lý, tối ưu lợi nhuận cho doanh nghiệp xây dựng.

Chuyên ngành

Kế toán - Kiểm toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

112
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về kế toán chi phí sản xuất và giá thành xây lắp

Trong bối cảnh kinh tế hội nhập, ngành xây dựng đóng vai trò xương sống cho sự phát triển cơ sở hạ tầng. Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp xây lắp phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt, không chỉ về chất lượng mà còn về giá cả. Yếu tố cốt lõi quyết định đến khả năng cạnh tranh và lợi nhuận chính là công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp. Quản lý chi phí hiệu quả giúp doanh nghiệp đưa ra giá dự thầu hợp lý, tối ưu hóa lợi nhuận và đảm bảo sức khỏe tài chính. Một hệ thống kế toán chi phí khoa học, chính xác không chỉ cung cấp thông tin kịp thời cho ban lãnh đạo ra quyết định mà còn là công cụ kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng vật tư, lao động, và máy móc thi công. Ngành xây lắp có những đặc thù riêng biệt: sản phẩm có giá trị lớn, thời gian thi công kéo dài, mang tính đơn chiếc và gắn liền với địa điểm cụ thể. Những đặc điểm này ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức hạch toán chi phí. Việc xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí và phương pháp tính giá thành là nền tảng để phản ánh trung thực kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó, nghiên cứu và hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất tại các doanh nghiệp như Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Phú Quý không chỉ mang ý nghĩa lý luận mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị và năng lực cạnh tranh trên thị trường.

1.1. Đặc điểm cốt lõi của ngành và sản phẩm xây lắp

Sản phẩm của ngành xây lắp là các công trình, hạng mục công trình có những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật riêng biệt. Thứ nhất, sản phẩm mang tính chất đơn chiếc, mỗi công trình có thiết kế, dự toán và điều kiện thi công khác nhau. Thứ hai, sản phẩm xây lắp có giá trị lớn và thời gian thi công kéo dài, đôi khi qua nhiều kỳ kế toán. Điều này đòi hỏi vốn lưu động lớn và công tác quản lý tài chính chặt chẽ. Thứ ba, sản phẩm gắn liền với địa điểm cố định, không thể di chuyển, trong khi máy móc, thiết bị, lao động phải di chuyển theo công trình. Cuối cùng, quá trình thi công chịu ảnh hưởng lớn từ các yếu tố bên ngoài như thời tiết, địa chất. Những đặc điểm này chi phối trực tiếp đến việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất.

1.2. Vai trò và nhiệm vụ của kế toán chi phí trong doanh nghiệp

Công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm giữ vai trò trung tâm trong hệ thống quản lý của doanh nghiệp xây lắp. Vai trò chính là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời về toàn bộ chi phí phát sinh, giúp ban lãnh đạo kiểm soát tình hình thực hiện dự toán, phát hiện các lãng phí, và đề ra biện pháp tiết kiệm. Nhiệm vụ cụ thể bao gồm: xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí; phản ánh đầy đủ chi phí thực tế; kiểm tra việc thực hiện các định mức vật tư, nhân công; tính toán chính xác giá thành công trình hoàn thành; và đánh giá đúng đắn khối lượng thi công dở dang. Hoàn thành tốt các nhiệm vụ này là cơ sở để định giá bán, xác định kết quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả hoạt động.

1.3. Mối quan hệ biện chứng giữa chi phí và giá thành sản phẩm

Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật thiết nhưng không đồng nhất. Chi phí sản xuất là toàn bộ hao phí phát sinh trong một kỳ kế toán, không phân biệt sản phẩm đã hoàn thành hay chưa. Trong khi đó, giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất tính cho một khối lượng sản phẩm đã hoàn thành. Mối quan hệ này được thể hiện qua công thức: Tổng giá thành = Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ + Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ - Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ. Như vậy, chi phí sản xuất là cơ sở để tính giá thành, và việc quản lý tốt chi phí sẽ trực tiếp làm giảm giá thành, từ đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

II. Thách thức chính trong kế toán chi phí sản xuất ngành xây lắp

Công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp luôn đối mặt với nhiều thách thức đặc thù. Thách thức lớn nhất đến từ việc xác định đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành. Do tính phức tạp và quy mô của công trình, việc lựa chọn tập hợp chi phí theo từng công trình, hạng mục công trình, hay tổ đội thi công cần được cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo thông tin quản trị hữu ích mà không làm phức tạp hóa bộ máy kế toán. Một khó khăn khác là việc đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ. Vì thời gian thi công kéo dài, khối lượng công việc dở dang thường rất lớn. Việc áp dụng các phương pháp như đánh giá theo chi phí thực tế, theo sản lượng hoàn thành tương đương hay theo chi phí định mức đòi hỏi sự chính xác cao trong khâu đo lường và thống kê. Sai sót trong bước này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành công trình và kết quả kinh doanh của kỳ. Bên cạnh đó, việc lựa chọn phương pháp tính giá thành phù hợp (giản đơn, tỷ lệ, hệ số) cũng là một bài toán. Mỗi phương pháp có ưu nhược điểm riêng và phải phù hợp với đặc điểm của từng loại công trình. Cuối cùng, việc phân bổ các chi phí gián tiếp, đặc biệt là chi phí sản xuất chung, cho các đối tượng một cách hợp lý luôn là vấn đề nan giải, có thể dẫn đến sai lệch trong giá thành của từng hạng mục.

2.1. Khó khăn trong việc xác định đối tượng tập hợp chi phí

Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi giới hạn để gom góp chi phí, có thể là toàn bộ công trình, từng hạng mục, tổ đội thi công hoặc giai đoạn công nghệ. Lựa chọn sai đối tượng sẽ khiến thông tin chi phí trở nên mơ hồ, khó kiểm soát và phân tích. Đối với các công trình phức tạp, việc chia nhỏ đối tượng giúp quản lý chi tiết hơn nhưng lại làm tăng khối lượng công việc kế toán. Ngược lại, gộp chung quá nhiều hạng mục sẽ che lấp sự hiệu quả hay yếu kém của từng bộ phận.

2.2. Vấn đề cốt lõi khi đánh giá sản phẩm xây dựng dở dang

Đánh giá sản phẩm dở dang (SPDD) là một trong những nghiệp vụ phức tạp nhất trong kế toán xây lắp. Khối lượng công trình chưa hoàn thành vào cuối kỳ cần được định giá chính xác để tính giá thành cho phần đã hoàn thành. Các phương pháp phổ biến bao gồm: đánh giá theo chi phí thực tế phát sinh (áp dụng cho công trình bàn giao một lần), đánh giá theo sản lượng hoàn thành tương đương, hoặc theo chi phí định mức. Mỗi phương pháp đòi hỏi hệ thống đo lường và kiểm soát tiến độ thi công chặt chẽ. Tại Công ty Phú Quý, việc đánh giá SPDD được thực hiện theo chi phí thực tế phát sinh cho từng công trình.

2.3. Lựa chọn phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp tối ưu

Có nhiều phương pháp tính giá thành khác nhau, và việc lựa chọn phương pháp nào phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất. Phương pháp giản đơn (trực tiếp) áp dụng khi đối tượng tập hợp chi phí trùng với đối tượng tính giá thành. Phương pháp tỷ lệ hoặc hệ số được dùng khi một quy trình tạo ra nhiều hạng mục sản phẩm khác nhau. Phương pháp tổng cộng chi phí phù hợp với các công trình lớn, phức tạp, bao gồm nhiều bộ phận. Việc lựa chọn đúng phương pháp giúp đảm bảo giá thành được tính toán chính xác, phản ánh đúng bản chất kinh tế của hoạt động thi công.

III. Hướng dẫn hạch toán chi phí nguyên vật liệu và nhân công

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp là hai khoản mục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí sản xuất của ngành xây lắp. Việc hạch toán chi phí hai khoản mục này một cách chính xác là yêu cầu bắt buộc. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (TK 621) bao gồm giá trị thực tế của các vật liệu chính (sắt, thép, xi măng) và vật liệu phụ cấu thành nên thực thể sản phẩm. Kế toán cần tập hợp chi phí này trực tiếp cho từng công trình, hạng mục dựa trên các chứng từ gốc như phiếu xuất kho, hóa đơn mua hàng. Trường hợp vật liệu dùng chung cho nhiều đối tượng, cần có tiêu thức phân bổ hợp lý. Đối với chi phí nhân công trực tiếp (TK 622), đây là toàn bộ tiền lương, phụ cấp phải trả cho công nhân trực tiếp thi công. Việc tập hợp chi phí này dựa trên bảng chấm công, bảng thanh toán lương. Cần lưu ý, trong doanh nghiệp xây lắp, các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp (BHXH, BHYT, KPCĐ) thường được hạch toán vào chi phí sản xuất chung, thay vì chi phí nhân công trực tiếp. Quy trình hạch toán phải đảm bảo tính kịp thời, đầy đủ và đúng đối tượng, làm cơ sở cho việc kiểm soát định mức và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

3.1. Quy trình kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp NVLTT

Quy trình hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bắt đầu từ khi có yêu cầu vật tư. Dựa trên phiếu xuất kho hoặc hóa đơn mua ngoài giao thẳng cho công trình, kế toán ghi Nợ TK 154 (chi tiết theo công trình) và Có các TK liên quan như 152, 111, 112, 331. Cần theo dõi chi tiết giá trị vật liệu xuất dùng cho từng công trình. Cuối kỳ, giá trị vật liệu thừa hoặc phế liệu thu hồi sẽ được ghi giảm chi phí bằng cách ghi Có TK 154. Tại Công ty Phú Quý, quy trình này được thực hiện chặt chẽ qua các chứng từ như Phiếu yêu cầu vật tư, Hóa đơn GTGT, Phiếu nhập/xuất kho.

3.2. Phương pháp tập hợp chi phí nhân công trực tiếp NCTT

Việc tập hợp chi phí nhân công trực tiếp được thực hiện hàng tháng. Dựa vào Bảng chấm công và Bảng thanh toán lương, kế toán tính ra tổng số tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp thi công của từng công trình. Sau đó, tiến hành hạch toán Nợ TK 154 (chi tiết theo công trình) và Có TK 334. Các khoản tạm ứng lương hoặc thanh toán lương được ghi nhận qua các bút toán đối ứng với TK 141 hoặc TK 111, 112. Việc theo dõi chi phí nhân công theo từng công trình giúp doanh nghiệp đánh giá hiệu quả sử dụng lao động và kiểm soát quỹ lương.

IV. Bí quyết kế toán chi phí máy thi công và sản xuất chung

Bên cạnh chi phí trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi côngchi phí sản xuất chung là hai yếu tố quan trọng cấu thành nên giá thành công trình. Quản lý và hạch toán hiệu quả hai khoản mục này là bí quyết để kiểm soát tổng chi phí. Chi phí sử dụng máy thi công (TK 623) bao gồm các chi phí liên quan đến hoạt động của máy móc như lương công nhân điều khiển, nhiên liệu, khấu hao, sửa chữa. Tùy thuộc vào hình thức quản lý (máy tự có, đi thuê, hay có đội máy thi công riêng), phương pháp hạch toán sẽ khác nhau. Nếu thuê ngoài, toàn bộ chi phí thuê được hạch toán trực tiếp vào TK 154. Nếu máy tự có, chi phí được tập hợp trên TK 154 (chi tiết cho máy thi công) rồi phân bổ cho các công trình. Trong khi đó, chi phí sản xuất chung (TK 627) là các chi phí phục vụ sản xuất tại đội, công trường như lương nhân viên quản lý đội, khấu hao tài sản cố định dùng chung, chi phí dịch vụ mua ngoài, và các khoản trích theo lương của công nhân. Các chi phí này được tập hợp chung, sau đó cuối kỳ sẽ phân bổ cho từng công trình, hạng mục theo một tiêu thức hợp lý (ví dụ: theo chi phí nhân công trực tiếp, hoặc chi phí vật liệu trực tiếp). Việc lựa chọn tiêu thức phân bổ ảnh hưởng lớn đến độ chính xác của giá thành.

4.1. Cách hạch toán chi phí sử dụng máy thi công SDMTC

Chi phí sử dụng máy thi công có thể phát sinh từ việc thuê ngoài hoặc sử dụng máy móc của chính doanh nghiệp. Tại Công ty Phú Quý, trường hợp thuê máy thi công từ bên ngoài là phổ biến. Kế toán sẽ căn cứ vào hóa đơn GTGT của bên cho thuê để hạch toán Nợ TK 154 (chi tiết công trình), Nợ TK 133 và Có các TK 111, 112, 331. Toàn bộ chi phí này được tính trực tiếp vào giá thành của công trình sử dụng máy. Cách hạch toán này khá đơn giản và trực tiếp, giúp xác định chi phí một cách rõ ràng.

4.2. Kỹ thuật phân bổ chi phí sản xuất chung SXC hiệu quả

Chi phí sản xuất chung là các chi phí gián tiếp, liên quan đến nhiều công trình. Việc tập hợp ban đầu được thực hiện trên TK 154 (chi tiết SXC). Các chi phí này bao gồm lương nhân viên quản lý đội, các khoản trích theo lương của công nhân xây lắp, chi phí công cụ dụng cụ, khấu hao TSCĐ tại công trường, và các chi phí bằng tiền khác. Cuối kỳ, tổng chi phí sản xuất chung sẽ được phân bổ cho các công trình, hạng mục. Tiêu thức phân bổ cần được lựa chọn một cách nhất quán và hợp lý để đảm bảo giá thành được tính toán công bằng, ví dụ như phân bổ theo tỷ lệ với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp hoặc chi phí nhân công trực tiếp.

V. Thực trạng công tác kế toán chi phí tại Công ty Phú Quý

Nghiên cứu thực tế tại Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Phú Quý cho thấy công ty đã xây dựng được một quy trình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tương đối bài bản. Công ty áp dụng chế độ kế toán cho doanh nghiệp vừa và nhỏ theo Quyết định 48/2006/QĐ-BTC, hình thức kế toán Nhật ký - Sổ cái. Bộ máy kế toán được tổ chức gọn nhẹ, phân công nhiệm vụ rõ ràng. Đối tượng tập hợp chi phí và tính giá thành được xác định là từng công trình, hạng mục công trình. Công ty áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên đối với hàng tồn kho và tính giá xuất kho theo phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO). Về cơ bản, quy trình hạch toán các khoản mục chi phí như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công và chi phí sản xuất chung tuân thủ theo các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành. Việc sử dụng hệ thống chứng từ, sổ sách khá đầy đủ, làm cơ sở cho việc tập hợp chi phí. Phân tích cụ thể qua công trình “Tuyến kè và tuyến đường số 1 và số 3 xã Đỉnh Sơn” cho thấy các nghiệp vụ được phản ánh rõ ràng, từ khâu mua vật tư đến thanh toán lương và chi phí thuê máy.

5.1. Tổ chức bộ máy và chính sách kế toán tại công ty

Bộ máy kế toán của Công ty Phú Quý bao gồm Kế toán trưởng, Kế toán thanh toán, Kế toán công trình và Thủ quỹ. Công ty áp dụng chế độ kế toán theo Quyết định 48, kỳ kế toán năm, đơn vị tiền tệ là VNĐ. Phương pháp khấu hao TSCĐ theo đường thẳng, phương pháp tính thuế GTGT là phương pháp khấu trừ. Việc tổ chức này phù hợp với quy mô và đặc điểm hoạt động của một doanh nghiệp xây lắp vừa và nhỏ, đảm bảo công tác hạch toán chi phí được thực hiện tương đối hiệu quả.

5.2. Phân tích quy trình kế toán chi phí công trình thực tế

Qua khảo sát công trình “Tuyến kè và tuyến đường số 1 và số 3 xã Đỉnh Sơn”, quy trình tập hợp chi phí được thực hiện như sau: Chi phí NVLTT được tập hợp dựa trên Hóa đơn GTGT và Phiếu xuất kho. Chi phí NCTT được tính toán dựa trên Bảng chấm công và Bảng thanh toán lương hàng tháng. Chi phí sử dụng máy thi công chủ yếu là chi phí thuê ngoài, hạch toán dựa trên hóa đơn của nhà cung cấp. Chi phí SXC được tập hợp và phân bổ vào cuối kỳ. Toàn bộ chi phí được ghi nhận vào bên Nợ của TK 154, chi tiết cho công trình này.

5.3. So sánh giá thành thực tế và giá thành dự toán công trình

Một trong những thước đo hiệu quả quản lý chi phí là việc so sánh giá thành thực tế với giá thành dự toán. Đối với công trình được nghiên cứu, Công ty Phú Quý đã thực hiện việc so sánh này (Bảng 2.6 trong khóa luận). Kết quả cho thấy có sự chênh lệch giữa thực tế và dự toán ở một số khoản mục. Phân tích sự chênh lệch này giúp nhà quản lý xác định nguyên nhân (do biến động giá vật tư, do sử dụng lao động, máy móc hiệu quả hoặc kém hiệu quả) và từ đó có những điều chỉnh trong công tác lập dự toán và quản lý thi công cho các dự án sau.

VI. Một số giải pháp hoàn thiện công tác kế toán và tính giá thành

Dựa trên phân tích thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Phú Quý, có thể thấy hệ thống hiện tại có nhiều ưu điểm như tuân thủ chế độ, sổ sách rõ ràng. Tuy nhiên, vẫn còn một số điểm có thể cải thiện để nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý. Việc hoàn thiện công tác kế toán không chỉ giúp thông tin tài chính chính xác hơn mà còn hỗ trợ đắc lực cho việc ra quyết định kinh doanh. Một số giải pháp được đề xuất tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình tập hợp và phân bổ chi phí, ứng dụng công nghệ thông tin và nâng cao chất lượng phân tích chi phí. Cụ thể, công ty có thể xem xét việc xây dựng hệ thống định mức chi phí chi tiết hơn cho từng loại công việc, làm cơ sở cho việc kiểm soát và đánh giá hiệu quả. Đồng thời, việc lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí sản xuất chung cần được rà soát lại để đảm bảo tính hợp lý cao nhất. Áp dụng phần mềm kế toán chuyên dụng cho ngành xây dựng sẽ giúp tự động hóa nhiều quy trình, giảm sai sót và cung cấp báo cáo quản trị nhanh chóng. Cuối cùng, tăng cường công tác phân tích biến động chi phí so với dự toán sẽ giúp ban lãnh đạo có cái nhìn sâu sắc hơn về hoạt động của doanh nghiệp.

6.1. Đánh giá ưu điểm và hạn chế trong công tác kế toán hiện tại

Ưu điểm lớn nhất tại Công ty Phú Quý là việc tổ chức hạch toán tuân thủ chặt chẽ các quy định của nhà nước, hệ thống chứng từ sổ sách đầy đủ, rõ ràng. Tuy nhiên, hạn chế còn tồn tại ở việc phân bổ chi phí sản xuất chung còn mang tính tương đối, chưa có sự phân tích sâu về nguyên nhân gây ra chênh lệch giữa giá thành thực tế và dự toán. Công tác kế toán chủ yếu vẫn dừng lại ở mức độ ghi chép, phản ánh, chưa phát huy mạnh mẽ vai trò là công cụ cung cấp thông tin cho quản trị.

6.2. Các giải pháp đề xuất nhằm tối ưu hóa quy trình kế toán

Để hoàn thiện, công ty nên xây dựng các định mức kinh tế - kỹ thuật chi tiết hơn làm cơ sở kiểm soát chi phí. Cần lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí chung khoa học hơn, ví dụ như dựa trên số giờ máy hoạt động hoặc chi phí nhân công trực tiếp, tùy thuộc vào bản chất của chi phí. Việc đầu tư vào một phần mềm kế toán hiện đại, có khả năng theo dõi chi phí theo từng dự án, hạng mục một cách tự động là cần thiết. Cuối cùng, phòng kế toán nên định kỳ lập các báo cáo phân tích chi phí, chỉ ra các điểm bất hợp lý và đề xuất giải pháp cho ban giám đốc, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chi phí.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

06/10/2025
Khóa luận tốt nghiệp kế toán kiểm toán thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty tnhh xây dựng và thương mại phú quý

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP 1. Tổng quan về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp 1. Đặc điểm sản xuất xây lắp Theo giáo trình Kế toán chi phí 2010 của TS. Huỳnh Lợi: “Xây lắp là một ngành sản xuất vật chất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là quá trình xây dựng mới, xây dựng lại, cải tạo nhà cửa, cầu đường, nhà máy,…Sản phẩm xây lắp chính là những công trình, hạng mục công trình được kết cấu bởi những vật tư, thiết bị xây lắp do tác động của lao động xây lắp và gắn liền với những địa điểm nhất định như mặt đất, mặt nước, không gian”.

Sản phẩm xây lắp có những đặc điểm sau: - Sản phẩm xây lắp mang tính chất riêng lẽ, mỗi sản phẩm xây lắp có kết cấu kỹ, mỹ thuật, vật tư, địa điểm, nhân lực, dự toán và phương pháp thi công khác nhau; - Sản phẩm xây lắp có giá trị lớn thường vượt qua khả năng vốn lưu động của doanh nghiệp trong kỳ và quá trình thi công sản phẩm xây lắp thường kéo dài, có khi phải tiến hành nhiều năm, chịu sự chi phối rất lớn của thời tiết trong quá trình thi công; - Thời gian hữu dụng của sản phẩm xây lắp tương đối dài, thường lớn hơn một năm và đôi khi cả trăm năm nên sản phẩm xây lắp đòi hỏi những tiêu chuẩn kỹ, mỹ thuật và quá trình thi công khắt khe; - Sản phẩm xây lắp gắn liền với những địa điểm cố định trong suốt thời gian thi công và sử dụng; - Những đặc điểm kinh tế kỹ thuật trên chi phối trực tiếp chi phí, giá thành, quản lý và kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp. Ngoài ra, sản phẩm xây lắp là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng nên mỗi phương pháp nộp thuế giá trị gia tăng cũng ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp và chính những phương thức giao thầu, phương thức thanh toán cũng dẫn đến chi phí sản xuất và tính giá thành khác nhau. SVTH: Nguyễn Thị Mai Hương 5 Khóa luận tốt nghiệp 1. Vai trò và nhiệm vụ của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp 1.

Vai trò Chi phí và giá thành sản phẩm là các chỉ tiêu quan trọng trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp và có mối quan hệ mật thiết với doanh thu, kết quả (lãi, lỗ) hoạt động sản xuất kinh doanh, do vậy được chủ doanh nghiệp rất quan tâm. Tổ chức kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm một cách khoa học, hợp lý và đúng đắn có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí phát sinh ở doanh nghiệp, ở từng bộ phận, từng đối tượng, góp phần tăng cường quản lý tài sản, vật tư lao động, tiền vốn một cách tiết kiệm, có hiệu quả. Mặt khác tạo điều kiện phấn đấu tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Đó là một trong những điều kiện quan trọng tạo cho doanh nghiệp một ưu thế cạnh tranh.

Mặt khác, giá thành sản phẩm còn là cơ sở để định giá bán sản phẩm, là cơ sở để đánh giá hạch toán kinh tế nội bộ, phân tích chi phí, đồng thời còn là căn cứ để xác định kết quả kinh doanh. Nhiệm vụ Xác định chính xác đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp, thoả mãn yêu cầu quản lý đặt ra, vận dụng hạch toán chi phí sản xuất và phương pháp tính giá thành một cách khoa học, hợp lý. Đảm bảo cung cấp một cách kịp thời, chính xác, đầy đủ các số liệu cần thiết cho công tác quản lý. Cụ thể là: - Phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời toàn bộ chi phí thực tế phát sinh.

- Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức chi phí, vật tư, nhân công, sử dụng máy móc và các dự toán chi phí khác. Phát hiện kịp thời các khoản chênh lệch so với định mức, dự toán, các khoản chi phí ngoài kế hoạch, các khoản thiệt hại, mất mát, hư hỏng,… trong sản xuất để đề ra các biện pháp ngăn chặn kịp thời. - Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ hạ giá thành của doanh nghiệp theo từng công trình, từng loại sản phẩm xây lắp, vạch ra khả năng và các biện pháp hạ giá thành một cách hợp lý và có hiệu quả. SVTH: Nguyễn Thị Mai Hương 6 Khóa luận tốt nghiệp - Tính toán chính xác, kịp thời giá thành sản phẩm xây lắp các sản phẩm là lao vụ hoàn thành của doanh nghiệp.

- Xác định đúng đắn và bàn giao hạch toán kịp thời khối lượng công tác xây lắp hoàn thành. Định kỳ kiểm tra và đánh giá khối lượng thi công dở dang theo nguyên tắc quy định. - Đánh giá đúng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng công trình, hạng mục công trình. Kịp thời lập bảng báo cáo kế toán về chi phí sản xuất và giá thành công tác xây lắp.

Cung cấp chính xác, nhanh chóng các thông tin hữu dụng về chi phí sản xuất và giá thành phục vụ cho yêu cầu quản lý, của lãnh đạo doanh nghiệp. - Đồng thời kiểm tra được việc thực hiện kế hoạch giá thành và nhiệm vụ hạ giá thành. Tìm ra được nguyên nhân làm hoàn thành hoặc chưa hoàn thành, những khả năng tiềm tàng có thể khai thác và phương pháp cần phấn đấu để không ngừng hạ giá thành thực tế sản phẩm. Những vấn đề cơ bản về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp 1.

Những vấn đề cơ bản về chi phí sản xuất Theo Chuẩn mực số 01- Chuẩn mục chung (Ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính) thì chi phí được định nghĩa như sau: “ Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm các khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu.” Theo giáo trình Kế toán chi phí 2010 của TS. Huỳnh Lợi: “ Chi phí là biểu hiện bằng tiền những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá phát sinh gắn liền với quá trình hoạt động SXKD của doanh nghiệp trong một kỳ nhất định; hoặc chi phí là những tổn thất phát sinh làm giảm nguồn lợi kinh tế của doanh nghiệp kiểm soát trong kỳ gắn liền với mục đích SXKD và tác động làm giảm vốn chủ sở hữu. Những vấn đề cơ bản về giá thành sản phẩm xây lắp Theo giáo trình Kế toán chi phí 2010 của TS. Huỳnh Lợi: “Giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất tính cho một khối lượng sản phẩm SVTH: Nguyễn Thị Mai Hương 7 Khóa luận tốt nghiệp dịch vụ hoàn thành nhất định.

Giá thành sản phẩm là một thước đo giá trị và cũng là một đòn bẩy kinh tế. Giá thành sản phẩm thường mang tính khách quan và chủ quan, đồng thời nó là một loại đại lượng cá biệt, mang tính giới hạn và là một chỉ tiêu, biện pháp quản lý chi phí.” GTSP xây lắp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình sản xuất có liên quan đến khối lượng xây lắp đã hoàn thành. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thường có cùng bản chất kinh tế là hao phí lao động sống và lao động vật hóa hay phí tổn nguồn lực kinh tế khai thác trong hoạt động sản xuất nhưng khác nhau về thời kỳ, phạm vi, giới hạn. Chúng ta có thể khái quát qua biểu đồ sau: Chi phí sản xuất dỡ dang đầu kỳ Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ Giá thành sản xuất sản phẩm Chi phí thiệt Chi phí sản hại trong sản xuất dở dang xuất cuối kỳ Sơ đồ 1.1- Mối quan hệ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Khái quát qua công thức sau: Tổng giá thành Chi phí sản xuất Tổng chi phí sản xuất Chi phí sản xuất = + - sản phẩm dở dang đầu kỳ phát sinh trong kỳ dở dang cuối kỳ - Về mặt phạm vi: Chi phí sản xuất bao gồm cả chi phí chi sản xuất sản phẩm và chi phí cho quản lý doanh nghiệp và tiêu thụ sản phẩm.

Còn giá thành sản phẩm chỉ bao gồm chi phí sản xuất ra sản phẩm (chi phí sản xuất trực tiếp và chi phí sản xuất chung). Mặt khác chi phí sản xuất chỉ tính những chi phí phát sinh trong mỗi kỳ nhất định (tháng, quý, năm) không tính đến chi phí liên quan đến số lượng sản phẩm đã hoàn thành hay chưa. Còn giá thành sản phẩm là giới hạn số chi phí sản xuất liên quan SVTH: Nguyễn Thị Mai Hương 8 Khóa luận tốt nghiệp đến khối lượng sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành. Về mặt lượng: Nói đến chi phí sản xuất là xét đến các hao phí trong một thời kỳ còn giá thành sản phẩm liên quan đến chi phí của cả kỳ trước chuyển sang và số chi phí kỳ này chuyển sang kỳ sau.

Như vậy, chi phí sản xuất là cơ sở để xây dựng giá thành sản phẩm còn giá thành là cơ sở để xây dựng giá bán. Trong điều kiện nếu giá bán không thay đổi thì sự tiết kiệm hoặc lãng phí của doanh nghiệp về chi phí sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành thấp hoặc cao từ đó sẽ tác động tới lợi nhuận của doanh nghiệp. Do đó tiết kiệm chi phí, hạ thấp giá thành là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của công tác quản lý kinh tế. Nó giúp cho doanh nghiệp cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường.

Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 1. Phân loại chi phí sản xuất Theo giáo trình Kế toán chi phí 2010 của TS. Huỳnh Lợi:  Phân loại theo nội dung kinh tế ban đầu Chi phí nhân công (Labour costs) Yếu tố chi phí nhân công bao gồm các khoản tiền lương chính, phụ, phụ cấp theo lương phải trả cho người lao động và các khoản trích theo lương như kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của người lao động. Tổng chi phí nhân công là tổng quỹ lương và bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ