Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận BCTC ngành BĐS & XD
Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp kế toán kiểm toán nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thông tin lợi nhuận trên bctc của, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải
Trường đại học
Học Viện Ngân HàngChuyên ngành
Kế toán - Kiểm toánNgười đăng
Ẩn danhThể loại
Khóa luận tốt nghiệpPhí lưu trữ
30 PointMục lục chi tiết
Tóm tắt
I. Tổng Quan Điều Chỉnh Lợi Nhuận BCTC BĐS XD 2024
Trong bối cảnh thị trường tài chính ngày càng phức tạp, việc đảm bảo tính minh bạch và chính xác của thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) trở nên vô cùng quan trọng. Điều chỉnh lợi nhuận (ĐCLN) là một vấn đề nhức nhối, đặc biệt trong các ngành có tính chu kỳ cao và yêu cầu vốn lớn như bất động sản (BĐS) và xây dựng (XD). Hành vi này, dù vô tình hay cố ý, có thể làm sai lệch bức tranh thực tế về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyết định của nhà đầu tư, các bên liên quan và sự ổn định của thị trường. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, các nguyên tắc áp dụng nhằm đo lường lợi nhuận gồm: Nguyên tắc cơ sở dồn tích; Nguyên tắc hoạt động luyên tục; Nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí; Nguyên tắc thận trọng. Nghiên cứu này tập trung phân tích các động cơ, kỹ thuật, và phương pháp nhận diện ĐCLN trong ngành BĐS và XD, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính và giảm thiểu rủi ro gian lận kế toán.
1.1. Khái niệm Lợi nhuận Kế toán và Hành vi ĐCLN
Theo Lev (1989), lợi nhuận là chỉ tiêu thể hiện lượng giá trị tăng thêm sau một kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, tác động trực tiếp đến giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc áp dụng các chuẩn mực kế toán linh hoạt có thể tạo ra cơ hội cho việc điều chỉnh thông tin kế toán. Hành vi ĐCLN, theo Healy và Wahen (1999), là việc nhà quản trị (NQT) sử dụng đánh giá chủ quan để trình bày thông tin, tạo ra các giao dịch nhằm đánh lừa các bên liên quan hoặc tác động đến các hợp đồng. Hay nói cách khác, ĐCLN là hành vi làm sai lệch thông tin trên BCTC nhằm phục vụ mục đích của cá nhân trong phạm vi chuẩn mực kế toán quy định. Điều này vi phạm tính trung thực và hợp lý trên BCTC.
1.2. Động cơ ĐCLN phổ biến trong Ngành BĐS XD
Các động cơ chính thúc đẩy hành vi ĐCLN trong ngành BĐS và XD bao gồm: (1) Kêu gọi thêm vốn đầu tư trên sàn chứng khoán: Bằng cách “làm đẹp” BCTC, doanh nghiệp có thể thuyết phục nhà đầu tư rót vốn, tiết kiệm chi phí. (2) Giảm thiểu chi phí thuế TNDN: Tránh khai báo LNKT ở mức cao để giảm lợi nhuận chịu thuế qua đó giảm số thuế phải nộp. DN muốn tránh các chính sách điều tiết kết quả của DN nhằm tiếp tục hưởng những ưu đãi thuế. (3) Phục vụ lợi ích của cổ đông và NQT: Đạt được chỉ tiêu kinh doanh, tăng giá cổ phiếu khi có ý định bán cổ phiếu. Các chủ DN sẵn sàng điều chỉnh KQKD nhằm mục đích về kỳ vọng hay mục tiêu của DN.
1.3. Tổng quan Ngành BĐS và XD tại Việt Nam hiện nay
Ngành BĐS Việt Nam năm 2019 gặp nhiều khó khăn do chính sách Nhà nước siết tín dụng, đầu tư dự án BT, ngưng xây chung cư cao tầng tại trung tâm, khó khăn trong phê duyệt pháp lý. Ngành XD tăng trưởng khoảng 9 – 9,2% so với năm 2018, tỷ lệ đô thị hóa đạt khoảng 39,2%. Phân khúc XD công nghiệp bùng nổ mạnh mẽ nhờ nguồn vốn FDI ổn định và làn sóng dịch chuyển sản xuất vào Việt Nam. Xu hướng đô thị hóa thúc đẩy hoạt động XD các dự án cơ sở hạ tầng giao thông, các dự án XD cao tốc, đường trên cao, công trình cầu cảnh, nhà máy lọc hoá dầu, khu công nghiệp. Cụ thể, tổng giá trị sản xuất toàn ngành XD đạt 358,684 tỷ đồng, đóng góp 5,94% cơ cấu GDP cả nước.
II. Các Kỹ Thuật ĐCLN Phổ Biến Bí Quyết Thủ Thuật Tinh Vi
Việc điều chỉnh lợi nhuận có thể được thực hiện thông qua nhiều kỹ thuật kế toán khác nhau, từ việc vận dụng các phương pháp kế toán đến việc khai thác sự khác biệt giữa kế toán và thuế. NQT có thể điều chỉnh doanh thu, giá vốn, chi phí, và khấu hao tài sản để tạo ra BCTC theo ý muốn. Vận dụng phương pháp kế toán (Điều chỉnh thời điểm ghi nhận doanh thu, thay đổi chính sách lập dự phòng giảm giá, Thay đổi thời điểm ghi nhận chi phí, Thay đổi chính sách kế toán TSCĐ,...). Vận dụng sự khác nhau giữa kế toán và thuế (Ghi nhận doanh thu và chi phí theo quan điểm của kế toán và cơ quan thuế, thay đổi lợi nhuận qua chính sách giá và tín dụng, Cắt giảm một số khoản chi phí trong kỳ, Giảm chi phí bằng cách “vốn hóa”).
2.1. Vận dụng Phương Pháp Kế Toán để Thao Túng BCTC
NQT có thể điều chỉnh thời điểm ghi nhận doanh thu thông qua việc thay đổi thời gian trên hóa đơn hoặc sử dụng phương pháp phần trăm hoàn thành trong hợp đồng đối với các doanh nghiệp xây dựng. Việc lựa chọn cách tính giá thành sản phẩm và phương pháp đánh giá "Sản phẩm dở dang" cũng có thể làm thay đổi giá vốn hàng bán. NQT có thể chuyển một số chi phí của kỳ này sang kỳ sau hoặc ngược lại sẽ làm thay đổi chi phí của kỳ hiện tại qua đó lợi nhuận được điều chỉnh. Ngoài ra, việc thay đổi phương pháp phân bổ CCDC xuất dùng trong nhiều kỳ, phân bổ chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, thay đổi mức trích trước chi phí bảo hành, chi phí tiền lương công nhân sản xuất nghỉ phép.
2.2. Khai Thác Sự Khác Nhau Giữa Kế Toán và Thuế Chiêu Thức Tinh Vi
Kế toán ghi nhận doanh thu dựa trên chuẩn mực kế toán là tính hợp lý, thận trọng, cơ sở dồn tích, khác với kế toán cơ quan thuế đánh giá việc ghi nhận doanh thu dựa trên tính hợp pháp và hợp lý. Điều này dẫn đến sự khác biệt giữa doanh thu theo kế toán và doanh thu theo thuế trong một số khoản mục. Chi phí theo kế toán là toàn bộ những khoản chi phí phát sinh thực tế có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Theo quan điểm của cơ quan thuế, chi phí chỉ được ghi nhận khi nó mang tính hợp pháp và hợp lệ. Do đó giữa chi phí ghi nhận theo kế toán và chi phí ghi nhận theo thuế có sự khác nhau và tác động làm thay đổi thông tin lợi nhuận kế toán trong kỳ.
2.3. Thay đổi Lợi nhuận qua Chính sách Giá và Tín dụng
Thông qua việc nới lỏng chính sách bán hàng trả chậm hoặc giảm giá hàng bán qua đó tăng lượng hàng xuất kho bán trong kỳ làm tăng doanh thu. Các khác là chuyển lợi nhuận của năm sau về kỳ hiện tại qua việc tăng giá bán đầu năm. DN tăng lợi nhuận qua việc cắt giảm các khoản chi phí không cần thiết như chi phí nghiên cứu, chi phí quảng cáo. Xác định thời điểm vốn hóa, thời điểm tạm dừng vốn hóa, thời điểm dừng vốn hóa cũng tác động lên chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC.
III. Nhận Diện Thao Túng BCTC Phương Pháp Dấu Hiệu Báo Động
Việc nhận biết hành vi thao túng lợi nhuận là vô cùng quan trọng để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và đảm bảo tính minh bạch của thị trường. Các dấu hiệu báo động đỏ có thể được phát hiện thông qua phân tích BCTC, so sánh các chỉ số tài chính, và xem xét các hoạt động bất thường của doanh nghiệp. Cần xem xét trên các khía cạnh: Dựa trên một số chỉ tiêu khi phân tích BCTC, Xem xét các chỉ tiêu trên BCĐKT, xem xét các chỉ tiêu khi phân tích BCLCTT.
3.1. Phân Tích BCTC Tìm Kiếm Dấu Hiệu Bất Thường
Các chỉ tiêu khi phân tích BCTC sẽ liên quan tới bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Trong quá trình phân tích các chỉ tiêu có thể thấy dấu hiệu đầu tiên là lợi nhuận vượt qua một mốc quan trọng. Có sự chênh lệch đáng kể giữa lợi nhuận chịu thuế và lợi nhuận kế toán. Xem xét các chỉ tiêu trên BCĐKT có các khoản mục bất thường xuất hiện như: Bán máy móc thiết bị còn giá trị và thời gian sử dụng dài.
3.2. Phân Tích BCLCTT Khám Phá Vấn Đề Tiềm Ẩn
Có vấn đề về phân loại dòng tiền như có sự giống nhau giữa các khoản tiền và tương đương tiền trong dòng tiền từ HĐKD và các khoản đầu tư ngắn hạn trong mục dòng tiền từ hoạt động đầu tư. Để tăng được lợi nhuận trong năm, một khoản chi phí đầu tư dễ bị che dấu đó là chi phí cho hoạt động đầu tư có thể bị cắt giảm. Tuy nhiên, điều này cũng làm ảnh hưởng đến dòng tiền thu được trong tương lai . Nếu dòng tiền thuần từ HĐKD của DN bị âm, mà kết quả kinh doanh trên BCKQHĐKD lại tốt thì đây là một dấu hiệu bất thường.
3.3. Dấu hiệu từ Thay Đổi Kiểm Toán và Quản Lý Cấp Cao
Khi DN muốn phát hành thêm cổ phiếu thì sẽ có xu hướng điều chỉnh tăng LNBC. Bởi đây là một trong những nhân tố quan trọng được nhà đầu tư quan tâm, và việc tăng LNBC giúp vị thế hay kỳ vọng của của nhà đầu tư vào DN là lớn. DN thay đổi công ty kiểm toán, tư vấn thuế (khi không phải do yêu cầu của luật ) hoặc nhà quản lý bậc cao.
IV. Mô Hình ĐCLN Phân Tích Đo Lường Mức Độ Thao Túng
Các mô hình đo lường ĐCLN được sử dụng để ước tính phần giá trị dồn tích có thể điều chỉnh (DA), từ đó đánh giá mức độ thao túng lợi nhuận của doanh nghiệp. Một số mô hình phổ biến bao gồm mô hình Healy (1985), DeAngelo (1986), và Jones (1991). Tuy nhiên, mỗi mô hình đều có những ưu điểm và hạn chế riêng. Các mô hình đo lường phần tổng giá trị dồn tích bao gồm: Phần dồn tích không thể điều chỉnh (Non-discretionary accruals), Phần dồn tích có thể điều chỉnh (Discretionary accruals).
4.1. Mô Hình Healy 1985 Ưu Điểm Hạn Chế và Ứng Dụng
Healy (1985) kiểm định giả thuyết tối đa hóa tiền thưởng của hành vi quản trị. Nghiên cứu cho thấy khi chịu sự chi phối của kế hoạch thưởng, chính sách sử dụng các biến dồn tích trong quy trình kế toán của nhà quản lý có liên hệ với việc điều chỉnh tăng lợi nhuận. NDA và DA đều là hai biến khó quan sát vì vậy nhà nghiên cứu buộc phải giả định với một biến. NDA của năm sự kiện được tính toán là phần TA trung bình của kỳ ước tính. Công thức tính phần dồn tích có thể điều chỉnh DAit = (TAit / Ait-1) - NDAit. Ưu điểm: đơn giản, dễ tính toán. Nhược điểm: NDA được giả định là không đổi theo thời gian nhưng thực tế thì ngược lại.
4.2. Mô Hình DeAngelo 1986 Nghiên Cứu Mua Lại Cổ Phần
DeAngelo (1986) tiến hành nghiên cứu 64 công ty cổ phần trong tình huống các NQT quyết định mua lại toàn bộ cổ phần. DA được sử dụng để kiểm chứng xem liệu NQT có điều chỉnh giảm lợi nhuận trong giai đoạn trước khi mua lại toàn bộ cổ phần hay không?. Mô hình DeAngelo (1986) giả định rằng DA của năm trước năm đầu tiên trong kỳ ước tính bằng 0 nghĩa là DN không điều chỉnh lợi nhuận. Cũng giống Healy (1985), phần NDA được giả định rằng sẽ không đổi theo thời gian. NDAit = TAit-1/Ait-1-TAit-2/Ait-2. Ưu điểm: đơn giản, dễ tính toán. Nhược điểm: Với giả định NDA không đổi theo thời gian và giả định năm liền trước năm đầu tiên của kỳ ước tính không có hành động ĐCLN, mô hình này không tính đến sự thay đổi trong mức độ hoạt động kinh doanh của DN.
4.3. Mô Hình Jones 1991 Tính Đến Mức Độ Hoạt Động
Khắc phục nhược điểm của các mô hình trước đó của Healy (1985), DeAngelo (1986), Jones (1991) XD mô hình mới trong đó tính đến sự ảnh hưởng của mức độ hoạt động kinh doanh của đơn vị tới NDA. TAit = α1(1/Ait-1) + α2(∆REVit/Ait-1) + α3(PPEit/Ait-1) + ɛit. NDAit = α1(1/Ait-1) + α2(∆REVit/Ait-1) + α3(PPEit/Ait-1). Hạn chế của mô hình Jones (1991) đó là doanh thu được xem là đại diện cho phần dồn tích không thể điều chỉnh, điều này ngược với thực tế vì việc thay đổi thời điểm ghi nhận doanh thu về trước hay sau kỳ kế toán nhằm thay đổi lợi nhuận là có thể được thực hiện bởi NQT.
V. Ứng Dụng OLS Phân Tích Ảnh Hưởng ĐCLN BĐS XD
Để kiểm định giả thuyết về ĐCLN theo OLS có thể sử dụng nhiều mô hình khác nhau. Tuy nhiên, tác giả tập trung vào hai mô hình chính là mô hình tác động cố định (FIXED EFECTS MODEL) và mô hình tác động ngẫu nhiên (RANDOM EFFECTS MODEL). Hướng tiếp cận này đã từng được sử dụng trong các nghiên cứu trước đây, như trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hà Linh (năm 2017). Hai mô hình được sử dụng trong việc phân tích dữ liệu bảng. Để có thể có đầu vào INPUT cho mô hình cần thu nhập thông tin dữ liệu trong nhiều năm với nhiều đối tượng. Ưu điểm của mô hình này là dữ liệu bảng cho ước tính tin cậy về kết quả của các tham số trong mô hình và dữ liệu bảng giúp đo lường được những tác động không thể đo lường xác định khi dử dụng chéo hoặc dữ liệu theo thời gian. Mô hình bao gồm: Mô hình tác động cố định (FIXED EFECTS MODEL), Mô hình tác động ngẫu nhiên (RAMDOM EFFECTS MODEL).
5.1. Mô hình tác động cố định FIXED EFECTS MODEL
Mô hình tác động cố định FEM với ngành XD cho kết quả: giá của cổ phiếu càng cao thì NQT có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận trước thuế. tỷ lệ sinh lời trên tài sản càng cao thì NQT có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận trước thuế, thuế TNDN không có mối liên hệ ý nghĩa với LNTT, vốn chủ sở hữu có mối quan hệ thuận chiều với LNTT. Với giá trị R2=92,7% chứng tỏ các biến độc lập trong mô hình tác động đến 92,7% sự thay đổi của biến phụ thuộc LNTT. Kết quả mô hình tác động cố định FEM với ngành BĐS: Gía cổ phiếu càng cao thì NQT có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận trước thuế; tỷ lệ sinh lời trên tài sản càng cao thì NQT có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận trước thuế; thuế TNDN càng tăng thì LNTT có xu hướng được điều chỉnh giảm; vốn chủ sở hữu có mối quan hệ thuận chiều với LNTT và Giá trị R2=98,53%.
5.2. Mô hình tác động ngẫu nhiên RAMDOM EFFECTS MODEL
Mô hình tác động cố định FEM với ngành XD: Giá cổ phiếu càng cao thì NQT có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận trước thuế; tỷ lệ sinh lời trên tài sản càng cao thì NQT có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận trước thuế; thuế TNDN không có mối quan hệ ý nghĩa với biến LNTT; Vốn chủ sở hữu có mối quan hệ thuận chiều với LNTT. Với giá trị R2=68,72%. Với ngành BĐS: Giá cổ phiếu càng cao thì NQT có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận trước thuế; tỷ lệ sinh lời trên tài sản càng cao thì NQT có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận trước thuế; biến thuế TNDN có mối quan hệ ý nghĩa với biến LNTT và vốn chủ sở hữu có mối quan hệ thuận chiều với LNTT. Với giá trị R2=77,53%.
5.3. Kiểm định Hausman Đánh Giá và Lựa Chọn Mô Hình
Với ngành XD và BĐS thì mô hình FEM phù hợp hơn mô hình REM. Với ngành XD Dựa vào kiểm định Hausman cho giá trị Chi-Square. Statistic=22,63 với P-value= 0,0001. Với ngành BĐS dựa trên kết quả, nhận thấy P-value= 0,0000 với Chi- Square. Statistic=152,57.
VI. Kết luận Khuyến nghị Nâng Cao Minh Bạch Tài Chính
Nghiên cứu này khẳng định sự tồn tại của hành vi ĐCLN trong ngành BĐS và XD tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra các yếu tố tác động chính và gợi ý các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính. Để giảm thiểu rủi ro gian lận và tăng cường niềm tin của nhà đầu tư, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, kiểm toán, và bản thân doanh nghiệp. cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, kiểm toán, và bản thân doanh nghiệp.
6.1. Khuyến nghị cho Bộ Tài Chính Hoàn Thiện Chuẩn Mực
Một trong những lý do giúp cho các DN niêm yết có cơ hội điều chỉnh thông tin lợi nhuận tên BCTC là những “khoảng trống” còn thiếu sót của hệ thống BCTC và kế toán Việt Nam. Việc chỉ ra những yếu tố tác động giúp Bộ Tài chính có những điều chỉnh về hệ thống kế toán kịp thời nhằm tạo ra sự trung thực và hợp lý trong thông tin trong BCTC. Bộ cần XD chuẩn mực đầy đủ và hợp lý nhằm hạn chế sự thay đổi thông tin do sự thay đổi về chính sách kế toán tạo ra nhằm giảm cơ hội của hành vi ĐCLN.
6.2. Giải pháp cho Cơ Quan Thuế Tăng Cường Kiểm Soát
Cơ quan thuế cần có bổ sung thêm những chính sách nhằm kiểm soát nghĩa vụ về thuế của các công ty. Đặc biệt với các công ty có quy mô càng lớn cần tổ chức thanh tra thường xuyên nhằm phát hiện và chặn đứng hành vi gian lận (điều chỉnh thông tin lợi nhuận nhằm tránh thuế). Mặt khác, cần có sự phối hợp nhất quan từ cơ quan thuế - thanh tra – kiểm toán nhằm tạo cho người nộp thuế ý thức tuân thủ pháp luật cũng như nghĩa vụ của DN. Bên cạnh đó Cơ quan Thuế nên sử dụng các mô hình hồi quy theo phương pháp M-score để đánh giá tính “hoạt động luyên tục” của DN và cũng nhằm phát hiện các khuyết tật, sai sót nghi ngờ trong mô hình nhằm khoanh vùng mẫu các DN nằm trong vùng có gian lận về thuế.
6.3. Lời khuyên cho Doanh Nghiệp BĐS XD Xây Dựng Uy Tín
Đối với bản thân DN kinh doanh, dù là vô ý hay cố ý làm sai lệch thông tin trên BCTC đều dẫn đến sự mất niềm tin của nhà đầu tư vào công ty. Do đó, DN cần có chiến lược huy động vốn trong thời gian dài và bền vững qua thị trường CK tại Việt Nam. Mặc dù UBCK vẫn đang và sẽ tiếp tục hoàn thiện các quy tắc, quy định về niêm yết nhưng các DN vẫn cần lưu tâm. Giá của cổ phiếu liên quan đến cung cầu thị trường do đó khi DN tác động đến lợi nhuận nhằm thay đổi giá cũng chỉ là thời điểm ban đầu khi cung cầu thị trường cân bằng năng lực của cổ phiếu được thể hiện rõ.
Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.