Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh. Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh tại Công ty Cổ phần Đá Núi Nhỏ. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần Đá Núi Nhỏ. SVTH: Trịnh Thị Dương Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) lOMoARcPSD|18351890 Khóa luận tốt nghiệp 4 GVHD: ThS.
Nguyễn Quỳnh Tứ Ly CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH 1. Những vấn đề chung về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh 1. Một số khái niệm liên quan Thành phẩm: là những sản phẩm đã kết thúc giai đoạn chế biến cuối cùng của quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm ở Doanh nghiệp (sản xuất chính, sản xuất phụ hoặc thuê ngoài gia công), đã qua kiểm tra chất lƣợng sản phẩm và đƣợc xác nhận phù hợp với tiêu chuẩn chất lƣợng quy định, đã đƣợc nhập kho thành phẩm hoặc giao trực tiếp cho khách hàng. Bán hàng (hay tiêu thụ): là quá trình đƣa các loại sản phẩm mà Doanh nghiệp đã sản xuất ra ngoài thị trƣờng lƣu thông để thực hiện giá trị của nó thông qua các phƣơng thức bán hàng.
Sản phẩm mà Doanh nghiệp bán cho ngƣời mua có thể là thành phẩm, bán thành phẩm hay lao vụ đã hoàn thành của bộ phận sản xuất chính hay bộ phận sản xuất phụ của Doanh nghiệp. Tiêu thụ tốt sản phẩm là một vấn đề có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình tái sản xuất của Doanh nghiệp và là điều kiện cơ bản để thực hiện hạch toán kinh tế: thu, chi, lãi, lỗ. Điều kiện ghi nhận doanh thu Doanh thu bán hàng đƣợc ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn 5 điều kiện sau: Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sỡ hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho ngƣời mua. Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa nhƣ ngƣời sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa.
Doanh thu đƣợc xác định tƣơng đối chắc chắn. Doanh nghiệp đã thu đƣợc hoặc sẽ thu đƣợc lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng. Xác định đƣợc chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. Phương thức bán hàng 1.
Phương thức bán buôn: Theo phƣơng thức này, doanh nghiệp bán trực tiếp cho ngƣời mua, do bên mua trực tiếp đến nhận hàng tại kho của doanh nghiệp bán hoặc tại địa điểm mà doanh nghiệp đã quy định. Thời điểm bán hàng là SVTH: Trịnh Thị Dương Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) lOMoARcPSD|18351890 Khóa luận tốt nghiệp 5 GVHD: ThS. Nguyễn Quỳnh Tứ Ly thời điểm ngƣời mua đã ký nhận hàng, còn thời điểm thanh toán tiền bán hàng phụ thuộc vào điều kiện thuận lợi của hợp đồng. Cụ thể bán buôn có hai hình thức: Bán buôn qua kho gồm bán trực tiếp và bán chuyển hàng Bán buôn vận chuyển thẳng gồm thanh toán luôn và nợ lại.
Phương thức bán lẻ: Khách hàng mua hàng tại công ty, cửa hàng giao dịch của công ty và thanh toán ngay cho nên sản phẩm hàng hoá đƣợc ghi nhận doanh thu của đơn vị một cách trực tiếp. Phương thức bán hàng trả góp: Là phƣơng thức bán hàng thu tiền nhiều lần và ngƣời mua thƣờng phải chịu một phần lãi suất trên số trả chậm. Và thực chất, quyền sở hữu chỉ chuyển giao cho ngƣời mua khi họ thanh toán hết tiền, nhƣng về mặt hạch toán, khi hàng chuyển giao cho ngƣời mua thì đƣợc coi là tiêu thụ. Số lãi phải thu của bên mua đƣợc ghi vào thu nhập hoạt động tài chính, còn doanh thu bán hàng vẫn tính theo giá bình thƣờng.
Phương thức bán hàng thông qua đại lý: Là phƣơng thức bên chủ hàng xuất hàng giao cho bên nhận đại lý, ký gửi để bán và thanh toán thù lao bán hàng dƣới hình thức hoa hồng đại lý. Bên đại lý sẽ ghi nhận hoa hồng đƣợc hƣởng vào doanh thu tiêu thụ. Hoa hồng đại lý có thể đƣợc tính trên tổng giá thanh toán hay giá bán (không có VAT) của lƣợng hàng tiêu thụ. Khi bên mua thông báo đã bán đƣợc số hàng đó thì tại thời điểm đó kế toán xác định là thời điểm bán hàng.
Phương thức bán hàng theo hợp đồng thương mại: Theo phƣơng thức này bên bán chuyển hàng đi để giao cho bên mua theo địa chỉ ghi trong hợp đồng. Hàng chuyển đi vẫn thuộc quyền sở hữu của bên bán, chỉ khi nào ngƣời mua chấp nhận (một phần hay toàn bộ) mới đƣợc coi là tiêu thụ, bên bán mất quyền sở hữu về toàn bộ số hàng này. Phương thức bán hàng theo hình thức hàng đổi hàng: Để thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh đồng thời giải quyết lƣợng hàng tồn kho, nhiều doanh nghiệp đã thực hiện việc trao đổi sản phẩm hàng hoá của mình để nhận các loại sản phẩm khác. Sản phẩm khi bàn giao cho khách hàng đƣợc chính thức coi là tiêu thụ và đơn vị xác định doanh thu.
Trong trƣờng hợp này doanh nghiệp vừa là ngƣời bán hàng lại vừa là ngƣời mua hàng. Khi doanh nghiệp xuất hàng đi trao đổi SVTH: Trịnh Thị Dương Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) lOMoARcPSD|18351890 Khóa luận tốt nghiệp 6 GVHD: ThS. Nguyễn Quỳnh Tứ Ly và nhận hàng mới về, trị giá của sản phẩm nhận về do trao đổi sẽ trở thành hàng hoá của đơn vị. Phương thức tiêu thụ nội bộ: Là việc mua hàng hoá, sản phẩm, lao vụ, dịch vụ giữa đơn vị chính với đơn vị phụ thuộc hay giữa các đơn vị thực thuộc với nhau hay trong cùng một tập đoàn, tổng công ty, liên hiệp… Ngoài ra tiêu thụ nội bộ còn bao gồm giá trị sản phẩm hàng hoá, dịch vụ xuất trả lƣơng, biếu tặng, quảng cáo, tiếp thị, xuất dùng cho sản xuất kinh doanh.
Kế toán doanh thu, thu nhập khác 1. Kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 1. Khái niệm: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là tổng giá trị mà doanh nghiệp đã thu đƣợc hoặc sẽ thu đƣợc trong một kỳ kế toán của hoạt động sản xuất kinh doanh thông thƣờng của doanh nghiệp góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu.
Tài khoản sử dụng: TK 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” có 6 tài khoản cấp 2: TK 5111 “Doanh thu bán hàng hóa” TK 5112 “Doanh thu bán thành phẩm” TK 5113 “Doanh thu cung cấp dịch vụ” TK 5114 “Doanh thu trợ cấp, trợ giá” TK 5117 “Doanh thu kinh doanh BĐS đầu tƣ” TK 5118 “Doanh thu khác” 1. Kết cấu nội dung TK 511. SVTH: Trịnh Thị Dương Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) lOMoARcPSD|18351890 Khóa luận tốt nghiệp 7 GVHD: ThS. Nguyễn Quỳnh Tứ Ly TK 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” - Số thuế tiêu thụ đặc biệt, hoặc thuế - Doanh thu bán sản phẩm, hàng xuất khẩu phải nộp tính trên doanh hóa, bất động sản đầu tƣ và cung thu bán hàng thực tế của sản phẩm, cấp dịch vụ của doanh nghiệp thực hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp cho hiện trong kỳ kế toán.
khách hàng và đã đƣợc xác định là bán trong kỳ kế toán. - Số thuế GTGT phải nộp của doanh nghiệp nộp thuế theo phƣơng pháp trực tiếp. - Cuối kỳ, kết chuyển giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, chiết khấu thƣơng mại sang tài khoản 511. - Kết chuyển doanh thu thuần vào TK 911 “Xác định kết quả kinh doanh” (Tài khoản 511 không có số dư cuối kỳ) 1.
Nguyên tắc hạch toán. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ đƣợc xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu đƣợc tiền, hoặc sẽ thu đƣợc tiền từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu nhƣ bán sản phẩm, hàng hoá, bất động sản đầu tƣ, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có). Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thuần mà doanh nghiệp thực hiện đƣợc trong kỳ kế toán có thể thấp hơn doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ ghi nhận ban đầu do các nguyên nhân: Doanh nghiệp chiết khấu thƣơng mại, giảm giá hàng đã bán cho khách hàng hoặc hàng đã bán bị trả lại (do không đảm bảo điều kiện về quy cách, phẩm chất ghi trong hợp đồng kinh tế), và doanh nghiệp phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu, thuế GTGT theo phƣơng SVTH: Trịnh Thị Dương Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) lOMoARcPSD|18351890 Khóa luận tốt nghiệp 8 GVHD: ThS. Nguyễn Quỳnh Tứ Ly pháp trực tiếp đƣợc tính trên doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thực tế mà doanh nghiệp đã thực hiện trong một kỳ kế toán.
Tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” chỉ phản ánh doanh thu của khối lƣợng sản phẩm, hàng hoá, bất động sản đầu tƣ đã bán; dịch vụ đã cung cấp đƣợc xác định là tiêu thụ trong kỳ không phân biệt doanh thu đã thu tiền hay sẽ thu đƣợc tiền. Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tƣợng chịu thuế GTGT tính theo phƣơng pháp khấu trừ, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là giá bán chƣa có thuế GTGT. Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ không thuộc đối tƣợng chịu thuế GTGT, hoặc thuộc đối tƣợng chịu thuế GTGT tính theo phƣơng pháp trực tiếp thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là tổng giá thanh toán. Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tƣợng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, hoặc thuế xuất khẩu thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là tổng giá thanh toán (Bao gồm cả thuế tiêu thụ đặc biệt, hoặc thuế xuất khẩu).
Trƣờng hợp bán hàng theo phƣơng thức trả chậm, trả góp thì doanh nghiệp ghi nhận doanh thu bán hàng theo giá bán trả ngay và ghi nhận vào doanh thu chƣa thực hiện về phần lãi tính trên khoản phải trả nhƣng trả chậm phù hợp với thời điểm ghi nhận doanh thu đƣợc xác định. Tài khoản 511 phản ánh cả phần doanh thu bán hàng hoá, sản phẩm và cung cấp dịch vụ cho công ty mẹ, công ty con trong cùng tập đoàn. Tài khoản 511 phải đƣợc kế toán chi tiết phần doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ cho công ty mẹ, công ty con để phục vụ lập báo cáo tài chính hợp nhất của tập đoàn. Những sản phẩm, hàng hoá đƣợc xác định là đã bán nhƣng vì lý do về chất lƣợng, về qui cách kỹ thuật,.