Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất qua thực tiễn giải quyết tại các Toà án nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội" do sinh viên Nguyễn Thị Loan (Lớp K20DCQ045, Trường Đại học Luật Hà Nội) thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Thị Giang vào năm 2023. Công trình thuộc chuyên ngành Luật học, mang tính chất nghiên cứu lý luận pháp lý kết hợp với phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật và thực tiễn xét xử.

Về bối cảnh thực tiễn, theo quy định tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013, đất đai là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; các cá nhân, hộ gia đình và tổ chức được Nhà nước trao quyền sử dụng đất (QSDĐ). QSDĐ là tài sản có giá trị lớn, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống của mỗi cá nhân và hộ gia đình. Nhằm đáp ứng nhu cầu giao lưu dân sự và phát triển kinh tế, QSDĐ được các chủ thể đưa vào lưu thông thông qua nhiều hình thức giao dịch, trong đó hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (HĐCNQSDĐ) là loại giao dịch thông dụng và phổ biến nhất. Khung pháp lý hiện hành điều chỉnh HĐCNQSDĐ chủ yếu dựa trên Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 và Luật Đất đai (LĐĐ) năm 2013. Mặc dù hệ thống quy định đã tương đối đầy đủ, thực tiễn vẫn bộc lộ nhiều bất cập như: điều kiện chuyển nhượng chưa chặt chẽ, tư cách chủ thể (đặc biệt là hộ gia đình sử dụng đất) còn xung đột giữa các văn bản luật, quy định về hình thức và thời điểm phát sinh hiệu lực còn tồn tại nhiều quan điểm trái chiều. Thành phố Hà Nội là một trong những trung tâm đô thị có mật độ và số lượng giao dịch chuyển nhượng QSDĐ cao nhất cả nước, kéo theo số lượng tranh chấp về HĐCNQSDĐ không ngừng gia tăng, đặt ra nhiều vướng mắc trong công tác xét xử tại các Tòa án nhân dân (TAND).

Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích các vấn đề lý luận về HĐCNQSDĐ, đánh giá thực trạng quy định pháp luật hiện hành và khảo sát thực tiễn áp dụng tại TAND trên địa bàn thành phố Hà Nội; từ đó đề xuất các định hướng, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm tạo lập môi trường pháp lý an toàn, minh bạch cho các bên tham gia giao dịch.

Phạm vi nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể trên ba phương diện:

  • Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận, quy định pháp luật về HĐCNQSDĐ chủ yếu trong LĐĐ năm 2013 và BLDS năm 2015, cùng thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở.
  • Phạm vi không gian: Thực tiễn áp dụng pháp luật và công tác xét xử tranh chấp tại hệ thống TAND các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật và các vụ án tranh chấp đất đai tại Hà Nội chủ yếu từ năm 2013 đến thời điểm hoàn thành khóa luận (năm 2023).

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết và pháp lý, tác giả xây dựng công trình dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, trọng tâm là:

  • Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013 (đặc biệt là Điều 53 Hiến pháp 2013 về chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai).
  • Các đạo luật chuyên ngành và luật chung: Luật Đất đai các năm 1987, 1993, 2003, 2013; Bộ luật Dân sự các năm 1995, 2005, 2015; Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014; Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
  • Các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản chỉ đạo trong lịch sử: Sắc lệnh số 90/SL (1945), Sắc lệnh số 85/SL (1952), Luật Cải cách ruộng đất năm 1953, Chỉ thị số 772 (1959) của TAND Tối cao, Thông tư số 73/TTg (1962), Thông tư số 48/TTg (1963), Nghị quyết số 125/CP (1971), Quyết định số 201-CP (1980), Thông tư số 02/TC-RĐ (1981), Thông tư số 55/ĐKTK (1981), Nghị định số 01/NĐ-75 (1975), Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991, Nghị định số 17/1999/NĐ-CP, Nghị định số 79/2001/NĐ-CP, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin làm kim chỉ nam. Trong quá trình triển khai, khóa luận kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý cụ thể:

  • Phương pháp phân tích: Được sử dụng xuyên suốt để mổ xẻ nội dung các điều luật điều chỉnh điều kiện, chủ thể, quyền, nghĩa vụ và hình thức của HĐCNQSDĐ.
  • Phương pháp lịch sử: Dùng để phân kỳ và đánh giá sự tiến hóa của chế định HĐCNQSDĐ từ năm 1945 đến nay qua ba giai đoạn lịch sử.
  • Phương pháp tổng hợp và so sánh: Dùng để đối chiếu các quy định giữa BLDS 2015 và LĐĐ 2013, làm rõ sự thiếu thống nhất trong quy định về chủ thể hộ gia đình và điều kiện chuyển nhượng.
  • Phương pháp bình luận và thống kê: Dùng để đánh giá các bản án, vụ việc tranh chấp thực tế tại TAND trên địa bàn Hà Nội.

Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm: các văn bản luật, nghị định, thông tư; các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp HĐCNQSDĐ tại TAND thành phố Hà Nội; cùng hệ thống tài liệu thứ cấp gồm các luận án tiến sĩ (Nguyễn Thị Hồng Nhung, 2012), luận văn thạc sĩ luật học (Nguyễn Xuân Hà, Nguyễn Thị Nhung, Lương Ngọc Hoan, Đào Việt Long, Phan Thị Ngọc Dung, Phạm Văn Oanh, Đặng Thúy Quỳnh, Hà Văn Tiền), sách chuyên khảo (Nguyễn Ngọc Điệp, 1996) và các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Thanh tra.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Chương 1 tập trung làm sáng tỏ các khái niệm nền tảng, bản chất pháp lý, đặc điểm và lược sử hình thành của chế định HĐCNQSDĐ tại Việt Nam.

1. Khái niệm và đặc điểm của quyền sử dụng đất: QSDĐ là quyền năng mà Nhà nước trao cho người sử dụng đất. Dưới góc độ tài sản, QSDĐ là quyền tài sản trị giá được bằng tiền, thuộc nhóm bất động sản theo khoản 4 Điều 5 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014. Người có QSDĐ không có toàn quyền định đoạt tuyệt đối như chủ sở hữu tài sản thông thường mà chỉ có các quyền năng trong phạm vi pháp luật quy định. QSDĐ mang ba đặc điểm chính:

  • Là quyền năng phái sinh từ quyền sở hữu tối cao của Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân.
  • Là một loại quyền tài sản được lưu thông trong giao dịch dân sự có sự kiểm soát của Nhà nước.
  • Là một loại bất động sản đưa vào kinh doanh đối với các loại đất được phép chuyển nhượng theo quy định.

2. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Bản chất HĐCNQSDĐ là sự thỏa thuận giữa các bên, làm chấm dứt quyền sử dụng đất của bên chuyển nhượng và xác lập quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng. HĐCNQSDĐ mang các đặc điểm pháp lý:

  • Là hợp đồng song vụ: Quyền của bên chuyển nhượng (yêu cầu thanh toán đúng hạn, đúng phương thức) tương ứng với nghĩa vụ của bên nhận chuyển nhượng; quyền của bên nhận chuyển nhượng (yêu cầu bàn giao đất đúng diện tích, vị trí, hiện trạng và giấy tờ) tương ứng với nghĩa vụ của bên chuyển nhượng.
  • Là hợp đồng có đền bù: Bên nhận chuyển nhượng phải trả cho bên chuyển nhượng một khoản tiền tương ứng với giá trị QSDĐ được chuyển giao.
  • Là hợp đồng ưng thuận có điều kiện về hiệu lực: Hiệu lực pháp luật của hợp đồng không phát sinh ngay tại thời điểm giao kết hay thời điểm bàn giao đất, mà phát sinh từ thời điểm đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (cơ quan đăng ký đất đai).

3. Lược sử pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Tác giả chia lịch sử phát triển của pháp luật về HĐCNQSDĐ thành 3 giai đoạn cụ thể:

Giai đoạn lịch sử Văn bản pháp lý chủ yếu Đặc điểm và nội dung điều chỉnh cốt lõi
1945 – 1980 Sắc lệnh 90/SL (1945), Hiến pháp 1946, Sắc lệnh 85/SL (1952), Luật Cải cách ruộng đất 1953, Hiến pháp 1959, Thông tư 73/TTg, Thông tư 48/TTg, Nghị quyết 125/CP. Pháp luật thừa nhận hình thức sở hữu tư nhân về đất đai; cho phép mua bán, chuyển nhượng nhà cửa, ruộng đất nhưng bắt buộc phải lập văn tự có xác nhận của Ủy ban hành chính và phải làm thủ tục trước bạ để sang tên.
1980 – 1992 Hiến pháp 1980 (Điều 19), Quyết định 201-CP (1980), Thông tư 02/TC-RĐ (1981), Thông tư 55/ĐKTK (1981), LĐĐ 1987 (Điều 17), Pháp lệnh Hợp đồng dân sự 1991. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý; nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, chuyển nhượng đất đai. Chuyển quyền sử dụng đất chỉ được thực hiện trong 4 trường hợp hẹp theo Điều 17 LĐĐ 1987; giao dịch mua bán đất bị coi là vô hiệu toàn bộ.
1992 đến nay Hiến pháp 1992 (Điều 17, 18), LĐĐ 1993, BLDS 1995, LĐĐ 2003, BLDS 2005, LĐĐ 2013, BLDS 2015. Hiến pháp 1992 và LĐĐ 1993 lần đầu công nhận "đất có giá" và cho phép chuyển nhượng QSDĐ; BLDS 1995, 2005, 2015 và LĐĐ 2003, 2013 từng bước hoàn thiện chế định HĐCNQSDĐ, coi QSDĐ là hàng hóa đặc biệt trong nền kinh tế thị trường.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành điều chỉnh các yếu tố cấu thành HĐCNQSDĐ:

1. Đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Theo Điều 188 LĐĐ năm 2013, để trở thành đối tượng của HĐCNQSDĐ, QSDĐ phải đáp ứng đầy đủ 4 điều kiện:

  • Có Giấy chứng nhận (GCN) quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (trừ trường hợp thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 và trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận thừa kế tại khoản 3 Điều 186). Tác giả chỉ ra bất cập: Việc bắt buộc phải có GCN mới được giao dịch là quá cứng nhắc và hành chính hóa, gây cản trở quyền định đoạt hợp pháp của những người có đủ giấy tờ hợp lệ theo Điều 100 LĐĐ 2013 nhưng chưa được cơ quan nhà nước cấp GCN.
  • Đất không có tranh chấp: Tác giả chỉ rõ 2 điểm hạn chế lớn: Thứ nhất, điểm b khoản 1 Điều 188 LĐĐ 2013 dùng từ "tranh chấp đất" là chưa chuẩn xác với Điều 53 Hiến pháp 2013 (phải là "QSDĐ không có tranh chấp"). Thứ hai, luật và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP chưa đưa ra tiêu chí cụ thể thế nào là đất có tranh chấp, dẫn đến thực tế cơ quan quản lý chỉ cần nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp là đình chỉ hoặc từ chối thực hiện giao dịch của người sử dụng đất.
  • QSDĐ không bị kê biên để bảo đảm thi hành án: Căn cứ quy định tại Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
  • Trong thời hạn sử dụng đất: Đối với đất sử dụng có thời hạn, bên chuyển nhượng chỉ được thực hiện quyền khi thời hạn sử dụng ghi trên giấy tờ còn hiệu lực.

2. Chủ thể của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Khóa luận phân tích điều kiện tham gia của bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng:

  • Đối với cá nhân: Phân tích theo các nhóm năng lực hành vi dân sự theo BLDS 2015, bao gồm: người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi (phải có người đại diện theo pháp luật đồng ý); người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi (tự mình xác lập nhưng riêng giao dịch QSDĐ và bất động sản phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật); người bị hạn chế năng lực hành vi; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; và người mất năng lực hành vi dân sự / người dưới 6 tuổi (bắt buộc do người đại diện xác lập, thực hiện).
  • Xung đột pháp lý về tư cách chủ thể "Hộ gia đình": LĐĐ năm 2013 (khoản 29 Điều 3, Điều 54, 55, 56, Điều 167) vẫn công nhận hộ gia đình là chủ thể có quyền sử dụng đất và được chuyển nhượng QSDĐ (nếu là tài sản chung của hộ phải có sự đồng ý của tất cả thành viên thành niên theo khoản 2 Điều 212 BLDS 2015). Ngược lại, khoản 1 Điều 101 BLDS năm 2015 bãi bỏ tư cách chủ thể độc lập của hộ gia đình trong quan hệ dân sự, quy định chỉ các thành viên của hộ mới là chủ thể tham gia xác lập. Sự thiếu thống nhất này gây lúng túng lớn cho các cơ quan công chứng, cơ quan đăng ký đất đai và Tòa án khi xử lý giao dịch.
  • Trường hợp chuyển nhượng có điều kiện: Phân tích các giới hạn theo Điều 192 LĐĐ năm 2013 đối với hộ gia đình, cá nhân sinh sống trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng; khu vực rừng phòng hộ; và đất giao cho hộ gia đình, cá nhân dân tộc thiểu số theo chính sách hỗ trợ (chỉ được chuyển nhượng sau 10 năm kể từ ngày có quyết định giao đất).
  • Đối với pháp nhân: Được tham gia giao kết HĐCNQSDĐ khi đáp ứng điều kiện có tư cách pháp nhân hợp pháp và có GCN theo Điều 168 LĐĐ năm 2013.

3. Hình thức và thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng: Khóa luận phân tích tính bắt buộc của hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực; đồng thời phân tích quy định thời điểm có hiệu lực của việc chuyển nhượng là thời điểm đăng ký vào sổ địa chính tại Văn phòng đăng ký đất đai.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại các Tòa án nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Chương 3 tổng kết thực tiễn xét xử và kiến nghị giải pháp:

  • Phân tích đặc điểm đất đai thành phố Hà Nội: Mật độ dân cư đông đúc, tốc độ đô thị hóa nhanh, giá trị thương mại của đất ở rất lớn, nguồn gốc và hồ sơ địa chính qua nhiều thời kỳ có tính chất phức tạp.
  • Đánh giá kết quả đạt được của TAND các cấp tại Hà Nội trong việc thụ lý, phân loại và xét xử các vụ án tranh chấp HĐCNQSDĐ, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các bên đương sự và ổn định thị trường bất động sản.
  • Chỉ rõ các hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn xét xử: Xử lý các hợp đồng chuyển nhượng viết tay không qua công chứng/chứng thực; tranh chấp phát sinh do giá đất biến động mạnh dẫn đến bên bán bội tín, không bàn giao đất hoặc không hợp tác làm thủ tục sang tên; tranh chấp liên quan đến việc xác định thành viên hộ gia đình có quyền đối với thửa đất tại thời điểm cấp GCN; và tranh chấp quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn.
  • Đưa ra các nhóm kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về HĐCNQSDĐ và nâng cao chất lượng xét xử tại Tòa án.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Loan đạt được các kết quả cụ thể và đóng góp học thuật sau:

  • Hệ thống hóa toàn diện các giai đoạn phát triển của pháp luật Việt Nam về chuyển nhượng QSDĐ từ năm 1945 đến nay, chỉ rõ sự chuyển biến từ cơ chế quản lý mệnh lệnh hành chính sang cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
  • Phát hiện và phân tích sâu sắc các "điểm nghẽn" và xung đột lập pháp giữa hai đạo luật trụ cột: Luật Đất đai năm 2013 và Bộ luật Dân sự năm 2015, điển hình là sự mâu thuẫn về tư cách chủ thể của "Hộ gia đình sử dụng đất" (giữa Điều 101 BLDS 2015 và Điều 3, Điều 167 LĐĐ 2013).
  • Phân tích bất cập trong việc áp dụng điều kiện chuyển nhượng tại khoản 1 Điều 188 LĐĐ 2013, chỉ rõ việc lạm dụng "đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp" trên thực tế để ngăn chặn quyền chuyển nhượng chính đáng của người sử dụng đất.
  • Đưa ra các đề xuất, kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về điều kiện chuyển nhượng, hình thức hợp đồng, cơ chế công chứng - đăng ký quyền sử dụng đất và phương hướng nâng cao hiệu quả xét xử các vụ án tranh chấp HĐCNQSDĐ tại TAND thành phố Hà Nội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về dung lượng và nguồn số liệu của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, đề tài chỉ tập trung khảo sát thực tiễn xét xử các vụ án tranh chấp HĐCNQSDĐ ở phạm vi địa bàn thành phố Hà Nội và chủ yếu dựa trên các quy định của Luật Đất đai năm 2013 cùng Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm năm 2023.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh thực tiễn giải quyết tranh chấp HĐCNQSDĐ tại các địa phương có tốc độ đô thị hóa tương đồng; tiếp tục nghiên cứu đối chiếu các nội dung này dưới góc độ các dự thảo sửa đổi Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành mới.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Kinh tế thuộc các cơ sở đào tạo luật học trên cả nước.
  • Người nghiên cứu về hợp đồng dân sự và pháp luật đất đai, đặc biệt là phần lược sử lập pháp chi tiết giai đoạn 1945 – 1992 và phần luận giải xung đột pháp lý giữa BLDS 2015 và LĐĐ 2013.
  • Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư, Công chứng viên và cán bộ cơ quan đăng ký đất đai trong việc nghiên cứu các vướng mắc pháp lý thường gặp khi xử lý giao dịch hoặc giải quyết tranh chấp HĐCNQSDĐ trên thực tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo tác giả, quy định bắt buộc phải có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới được chuyển nhượng tại Điều 188 LĐĐ 2013 bộc lộ bất cập gì? Quy định này bị xem là cứng nhắc và mang tính "hành chính hóa" giao dịch dân sự. Trên thực tế, có số lượng lớn người sử dụng đất có đủ các loại giấy tờ hợp lệ theo Điều 100 LĐĐ năm 2013 đã được pháp luật thừa nhận quyền sử dụng đất hợp lệ nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận. Việc cấm họ chuyển nhượng đã tước bỏ quyền định đoạt tài sản chính đáng của chủ sử dụng đất.

2. Sự xung đột giữa BLDS năm 2015 và LĐĐ năm 2013 về tư cách chủ thể của "Hộ gia đình" được phân tích như thế nào? Khoản 29 Điều 3 và Điều 167 LĐĐ năm 2013 vẫn công nhận hộ gia đình là chủ thể độc lập có quyền sử dụng đất và quyền chuyển nhượng. Trong khi đó, khoản 1 Điều 101 BLDS năm 2015 đã bãi bỏ tư cách chủ thể độc lập của hộ gia đình trong quan hệ dân sự, quy định chỉ các cá nhân thành viên của hộ mới là chủ thể xác lập giao dịch. Điều này tạo ra sự lúng túng trong việc xác định chủ thể ký kết hợp đồng và thụ lý giải quyết tranh chấp.

3. Thuật ngữ "đất không có tranh chấp" tại điểm b khoản 1 Điều 188 LĐĐ năm 2013 có những điểm hạn chế nào? Khóa luận chỉ ra hai hạn chế: (1) Dùng thuật ngữ "tranh chấp đất" là chưa chuẩn xác, vì đất đai thuộc sở hữu toàn dân nên đối tượng tranh chấp và chuyển nhượng phải là "quyền sử dụng đất"; (2) Cả LĐĐ 2013 và Nghị định 43/2014/NĐ-CP đều chưa quy định rõ thế nào là đất đang có tranh chấp, dẫn đến tình trạng cơ quan quản lý chỉ dựa vào việc có đơn khiếu nại/yêu cầu giải quyết tranh chấp để đình chỉ quyền chuyển nhượng của người sử dụng đất.

4. Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có quyền tự mình ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không? Theo quy định của BLDS năm 2015 được phân tích trong khóa luận, người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự, trừ giao dịch liên quan đến bất động sản (như QSDĐ, nhà ở) hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu thì bắt buộc phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật.

5. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phát sinh hiệu lực pháp luật từ thời điểm nào? HĐCNQSDĐ là hợp đồng ưng thuận có điều kiện đặc thù về hiệu lực. Hợp đồng không phát sinh hiệu lực tại thời điểm các bên ký kết hay thời điểm bàn giao đất trên thực địa, mà chỉ chính thức phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan đăng ký đất đai (Văn phòng đăng ký đất đai).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Loan là một công trình nghiên cứu chuyên khảo có cấu trúc chặt chẽ, kết hợp hài hòa giữa cơ sở lý luận, lược sử lập pháp và thực tiễn thi hành pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tác giả đã làm rõ các thuộc tính pháp lý đặc thù của quyền sử dụng đất, chỉ ra những mâu thuẫn cốt lõi giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013 về điều kiện giao dịch và tư cách chủ thể hộ gia đình. Đồng thời, qua việc phân tích thực trạng xét xử tại TAND thành phố Hà Nội, công trình cung cấp những luận cứ thực tiễn quan trọng, đóng góp nhiều đề xuất có giá trị cho quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai và nâng cao hiệu quả xét xử tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Việt Nam.