Pháp luật và thực tiễn chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế tại tỉnh Thái Nguyên

Chuyên khảo luật học phân tích Pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế và thực tiễn thi hành tại tỉnh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Trường đại học

Trường Đại Học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2023

214
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA TỔ CHỨC KINH TẾ VÀ VỀ PHÁP LUẬT CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA TỔ CHỨC KINH TẾ

1.1. Lý luận về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

1.1.1. Khái niệm và đặc điểm chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

1.1.2. Khái niệm tổ chức kinh tế và tổ chức kinh tế sử dụng đất

1.1.3. Ý nghĩa chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

1.2. Lý luận về pháp luật chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

1.2.1. Yêu cầu điều chỉnh và cơ sở xây dựng pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

1.2.2. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

1.2.3. Cấu trúc pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

1.2.4. Các điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

1.3. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA TỔ CHỨC KINH TẾ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

2.1. Thực trạng pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

2.1.1. Nguyên tắc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

2.1.2. Chủ thể tổ chức kinh tế trong quan hệ pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất

2.1.2.1. Khái niệm chủ thể tổ chức kinh tế trong quan hệ pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất
2.1.2.2. Tổ chức kinh tế chuyển nhượng quyền sử dụng đất
2.1.2.3. Chủ thể không được chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất

2.1.3. Đối tượng là quyền sử dụng đất trong quan hệ pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

2.1.3.1. Điều kiện chung của quyền sử dụng đất được chuyển nhượng
2.1.3.2. Điều kiện riêng của quyền sử dụng đất được chuyển nhượng

2.1.4. Thời điểm được quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

2.1.5. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

2.1.6. Hình thức pháp lý và hiệu lực của giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

2.1.6.1. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế
2.1.6.2. Hiệu lực của giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất

2.1.7. Trình tự, thủ tục và thẩm quyền quản lý Nhà nước về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế

2.1.8. Tài chính và giá đất liên quan đến giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

2.1.9. Xử lý vi phạm pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

2.1.10. Đánh giá những ưu điểm và những bất cập, hạn chế của pháp luật và việc thực hiện pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế

2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế tại tỉnh Thái Nguyên

2.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Thái Nguyên và sự tác động đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

2.2.2. Kết quả đạt được từ các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

2.3. Kết luận Chương 2

3. CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC KINH TẾ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế và nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Thái Nguyên

3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế tại tỉnh Thái Nguyên

3.3. Kết luận Chương 3

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khái niệm và Đặc điểm Chuyển Nhượng Quyền Sử dụng Đất

Phần này tập trung vào chuyển nhượng quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) nói chung và CNQSDĐ của tổ chức kinh tế nói riêng. Định nghĩa pháp lý về CNQSDĐ được làm rõ, nhấn mạnh vào đặc điểm của giao dịch này trong bối cảnh kinh tế thị trường Việt Nam. Các khía cạnh quan trọng như chủ thể, đối tượng, và hình thức pháp lý của giao dịch được phân tích kỹ lưỡng. Luận điểm chính sẽ tập trung vào sự khác biệt giữa CNQSDĐ giữa các tổ chức kinh tế với cá nhân, nhấn mạnh vào quy mô, giá trị kinh tế, và mục đích kinh doanh. Văn bản pháp luật liên quan, đặc biệt là Luật Đất đai, sẽ được trích dẫn và phân tích để làm sáng tỏ khái niệm và đặc điểm của CNQSDĐ.

1.1 Khái niệm tổ chức kinh tế và tổ chức kinh tế sử dụng đất

Định nghĩa tổ chức kinh tế được trình bày rõ ràng, dựa trên các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam. Sự phân biệt giữa các loại hình tổ chức kinh tế (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần,...) và vai trò của chúng trong thị trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất được làm rõ. Các đặc điểm pháp lý liên quan đến quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế trong việc sử dụng đất, bao gồm cả quyền được chuyển nhượng quyền sử dụng đất, được phân tích chi tiết. Văn bản pháp luật liên quan đến việc cấp phép, quản lý, và sử dụng đất của các tổ chức kinh tế sẽ được trích dẫn và phân tích để làm rõ hơn khái niệm này. Chủ thể tổ chức kinh tế trong quan hệ pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất đóng vai trò then chốt trong phân tích. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các tổ chức kinh tế có nhu cầu sử dụng đất với quy mô lớn, giá trị kinh tế cao, nhằm mục đích kinh doanh.

1.2 Đặc điểm chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

Phần này sẽ tập trung vào những đặc điểm riêng biệt của CNQSDĐ đối với tổ chức kinh tế. Khác biệt so với CNQSDĐ của cá nhân sẽ được làm rõ. Các yếu tố như quy mô giao dịch, giá trị kinh tế, mục đích sử dụng đất sẽ được phân tích. Điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với tổ chức kinh tế sẽ được xem xét một cách kỹ lưỡng, bao gồm cả các điều kiện chung và điều kiện riêng. Quy trình chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ được mô tả chi tiết, bao gồm các bước, thủ tục, và giấy tờ cần thiết. Văn bản pháp luật liên quan, bao gồm cả Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành, sẽ được trích dẫn và phân tích. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) sẽ được đề cập đến như một yếu tố quan trọng trong quá trình CNQSDĐ.

II. Pháp Luật Chuyển Nhượng Quyền Sử dụng Đất cho Tổ chức Kinh tế tại Thái Nguyên

Phần này tập trung vào pháp luật chuyển nhượng quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) tại Việt Nam nói chung và tại Thái Nguyên nói riêng. Các văn bản pháp luật chính liên quan đến CNQSDĐ được phân tích, bao gồm Luật Đất đai, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành. Nguyên tắc CNQSDĐ, các điều kiện, và thủ tục hành chính sẽ được đề cập. Luận điểm chính sẽ tập trung vào việc đánh giá sự phù hợp và hiệu quả của pháp luật CNQSDĐ hiện hành trong thực tiễn, đặc biệt tại Thái Nguyên. Thực tiễn giải quyết tranh chấp chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng sẽ được đề cập.

2.1 Thực trạng pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

Phân tích pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiện hành tại Việt Nam. Nhấn mạnh vào những điểm mạnh và điểm yếu của khung pháp lý này, đặc biệt liên quan đến tổ chức kinh tế. Điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất, các thủ tục hành chính, và cơ chế giám sát nhà nước được phân tích. Luận điểm tập trung vào việc đánh giá tính hiệu quả và khả thi của các quy định pháp luật trong thực tiễn. Các trường hợp vi phạm pháp luật và các biện pháp xử lý sẽ được đề cập. Văn bản pháp luật liên quan, bao gồm Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành, sẽ được trích dẫn và phân tích. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch CNQSDĐ sẽ được phân tích rõ ràng.

2.2 Thực tiễn chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Thái Nguyên

Phân tích tình hình thực tiễn chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Thái Nguyên. Dữ liệu thực tế về số lượng giao dịch, quy mô đất đai, và các vấn đề phát sinh sẽ được trình bày. Kết quả nghiên cứu sẽ cho thấy sự phù hợp giữa thực tiễnpháp luật tại địa phương này. Những thách thức và khó khăn trong việc thực hiện CNQSDĐ tại Thái Nguyên sẽ được phân tích. Kinh tế Thái Nguyên, quy hoạch đất Thái Nguyên, và các yếu tố liên quan sẽ được xem xét để đánh giá tác động đến thực tiễn chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Rủi ro chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ được phân tích.

III. Đánh giá và Kiến nghị

Phần này tổng hợp kết quả nghiên cứu, đưa ra đánh giá tổng quan về pháp luật và thực tiễn chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho tổ chức kinh tế tại Thái Nguyên. Những điểm mạnh, điểm yếu, hạn chế và bất cập của hệ thống pháp luật hiện hành được chỉ rõ. Các giải phápkiến nghị cụ thể để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước được đề xuất. Tư vấn pháp luậtdịch vụ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng sẽ được đề cập.

3.1 Đánh giá ưu điểm và hạn chế

Tổng kết những ưu điểm và hạn chế của pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiện hành. Những quy định pháp luật có tính khả thi cao và những quy định cần được sửa đổi, bổ sung được làm rõ. Những điểm mạnh và điểm yếu của thực tiễn chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Thái Nguyên được phân tích. Tranh chấp chuyển nhượng quyền sử dụng đất và các phương pháp giải quyết tranh chấp cũng được đề cập. Bất cập trong việc thực hiện pháp luật được chỉ ra cụ thể.

3.2 Kiến nghị và giải pháp

Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Những sửa đổi, bổ sung cần thiết cho các văn bản pháp luật hiện hành được đề xuất. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chuyển nhượng quyền sử dụng đất được đưa ra. Tập trung vào việc tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức kinh tế tiếp cận đất đai, thúc đẩy phát triển kinh tế, đồng thời đảm bảo tính công bằng và minh bạch. Mẫu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có thể được đề xuất.

31/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của Luận án. Một số vấn đề lý luận về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế và về pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế Chương 3. Thực trạng pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Thái nguyên.

Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế và nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Thái Nguyên. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Đất đai là yếu tố đầu vào không thể thiếu được của mọi hoạt động đầu tư, sản xuất - kinh doanh, dịch vụ, nếu không có đất đai thì tổ chức kinh tế không thể tiến hành hoạt động sản xuất - kinh doanh, dịch vụ. Trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, việc tiếp cận đất đai của tổ chức kinh tế được thực hiện thông qua hai kênh chủ yếu: Một là, được Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ (tiếp cận đất đai thông qua thị trường QSDĐ sơ cấp); Hai là, chuyển nhượng và nhận CNQSDĐ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân (tiếp cận đất đai thông qua thị trường QSDĐ thứ cấp).

Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên hữu hạn song nhu cầu SDĐ của con người nói chung và của tổ chức kinh tế nói riêng ngày càng tăng. Để đảm bảo việc tiếp cận đất đai thuận tiện, SDĐ tiết kiệm, đúng mục đích và ngăn ngừa tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm v.v, các quy định về CNQSDĐ của tổ chức kinh tế ra đời. Kể từ khi ra đời, chế định pháp luật này nhận được sự quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu của giới luật học; bởi lẽ, việc thực thi có hiệu quả pháp luật về CNQSDĐ của tổ chức kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến tính hấp dẫn của môi trường đầu tư kinh doanh. Để nhận diện được “bức tranh” tổng quát về tình hình nghiên cứu, Chương này đi sâu tìm hiểu về các nội dung cụ thể sau: 1.

Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 1. Các công trình nghiên cứu về quyền SDĐ (i) Ko Saihong, Land and Land Use Rights Ownership in China (tạm dịch Quyền sở hữu đất và quyền sử dụng đất ở Trung Quốc), 6 Asia Pac. 103 (1998) Trong tác phẩm với tiêu đề tạm dịch là đất đai, các quyền sở hữu và SDĐ đai ở Trung Quốc; tác giả Ko Saihong nghiên cứu quá trình phát triển của pháp luật đất đai Trung Quốc về quyền sở hữu và QSDĐ. Theo đó, đất đai ở Trung Quốc chia thành hai loại: Một là, đất nông thôn thuộc sở hữu tập thể nông thôn; Hai là, đất đô thị thuộc sở hữu Nhà nước.

Từ năm 1988, pháp luật Trung Quốc cho phép CNQSDĐ, thừa nhận tổ chức kinh tế được quyền sử dụng, kinh doanh phát triển đất đai với thời hạn 40 năm. QSDĐ là tài sản quan trọng nhất ở Trung Quốc. Tuy nhiên, các vấn đề như quyền của chủ sở hữu QSDĐ trong đất tập thể và bản chất pháp lý của QSDĐ đã được phân bổ trong khu vực thành phố vẫn chưa được quy định rõ ràng. Theo tác giả, những hạn chế này cần phải được giải quyết để QSDĐ phát triển hơn nữa ở Trung Quốc.

Thông qua việc tiếp cận tác phẩm này, NCS tham khảo được kết quả nghiên cứu về cơ sở lý luận của việc ra đời QSDĐ và kinh doanh QSDĐ của tổ chức kinh tế ở Trung Quốc; những khó khăn, vướng mắc khi thực thi các quy định về kinh doanh QSDĐ của tổ chức kinh tế ở Trung Quốc… trong quá trình nghiên cứu Chương 2 và Chương 3 Luận án về cơ sở lý luận pháp luật về CNQSDĐ của tổ chức kinh tế và đánh giá thực trạng thi hành tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa; bao gồm, người SDĐ được CNQSDĐ trong thời hạn được cấp giới hạn; Nhà nước có quyền hủy bỏ tối đa, không giới hạn về thời gian v. Kết quả nghiên cứu của Bài viết này được NCS tham khảo khi so sánh, đánh giá với các quy định về quyền CNQSDĐ của tổ chức kinh tế ở Việt Nam tại Chương 3 Luận án. Thực trạng pháp luật về CNQSDĐ của tổ chức kinh tế tham chiếu từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Thái Nguyên.

(iii) Ronit Levine-Schnur; Avigail Ferdman, On the Just Distribution of Land Use Rights (tạm dịch “Về việc phân phối hợp lý quyền sử dụng đất”), 28 The Canadian Journal of Law & Jurisprudence July, 317 (2015) Bài viết nghiên cứu về cách phân bổ đúng QSDĐ trên cơ sở đấu thầu. Các tác giả cho rằng pháp luật hiện hành về Luật SDĐ của Canada không minh bạch và tạo điều kiện cho thiên vị và tham nhũng cá nhân, làm tăng khả năng bất bình đẳng; đặc biệt là do sự miễn cưỡng cho phép tư pháp can thiệp vào quá trình xem xét ra quyết định. Giải pháp là cơ chế đấu giá để khắc phục những vấn đề này; theo đó, chính quyền địa phương sẽ quyết định trao QSDĐ cho nhà thầu cao nhất mà các đề xuất sẽ được kiểm tra minh bạch dưới sự đóng góp của nhà thầu tốt nhất vào lợi ích cho xã hội. Cơ chế đó đảm bảo tính minh bạch, công bằng và chống lại chủ nghĩa cá nhân hoặc sự tùy tiện.

Từ kết quả nghiên cứu của Bài viết này, NCS nhận thấy, ở Canada, việc phân bổ QSDĐ đai công khai, bình đẳng phải được thực hiện thông qua cơ chế đấu giá công khai, minh bạch. Kết quả này được NCS tiếp thu và vận dụng trong Chương 4 của Luận án khi đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về CNQSDĐ của tổ chức kinh tế và nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Thái Nguyên. Stein, The Chinese Land Use Right Is It Property (tạm dịch “Quyền sử dụng đất ở Trung Quốc có phải là một loại bất động sản”), 21 Prob. 22 (2007) Đây là nghiên cứu cung cấp tổng quan về thị trường BĐS Trung Quốc - tiếp cận từ việc mua lại QSDĐ trên thực tế, từ góc độ pháp lý và kinh doanh.

Theo đó, đất đai thuộc sở hữu của Chính phủ hoặc chính quyền địa phương, Chính phủ có quyền bán QSDĐ có thời hạn thông qua đấu thầu. Tuy nhiên, theo tác giả, lĩnh vực này cũng có nhiều “khe hở” pháp lý tạo cơ hội cho tham nhũng và chưa thực sự công bằng, minh bạch trong đấu thầu. Người mua QSDĐ phải trả toàn bộ chi phí cho Chính phủ; đồng thời, phải SDĐ đúng mục đích và phải hoàn thành ít nhất 25% công trình được đề xuất mới có thể bán 19 cho bên thứ ba. Ở Trung Quốc, chủ sở hữu QSDĐ được sở hữu tòa nhà xây dựng trên khu đất đó.

Tác giả Bài viết đánh giá Trung Quốc đã có những thành công trong việc thu được những lợi ích kinh tế từ đất đai, thông qua việc kiểm soát và bán QSDĐ. Dẫu vậy, cải cách pháp luật ở Trung Quốc chưa thực sự hoàn thành, thị trường BĐS Trung Quốc chưa thực sự phát triển và hoàn thiện, biện pháp thế chấp vẫn còn trong giai đoạn “trứng nước”, có nhiều tranh chấp về xây dựng từ các dự án phát triển BĐS, Chính phủ thao túng lãi suất và thuế suất chuyển nhượng… Những tồn tại này cho thấy thị trường BĐS Trung Quốc không được tự do và cởi mở; trong khi lãnh đạo Trung Quốc muốn nhận được sự tin tưởng của các nhà ĐTNN. Những thành công và tồn tại về đấu giá QSDĐ trong thị trường BĐS của Trung Quốc là gợi mở bổ ích cho tác giả trong quá trình đánh giá việc thực thi pháp luật về CNQSDĐ của tổ chức kinh tế ở Việt Nam tại Chương 3 Luận án.1 (2015) Các tác giả nghiên cứu so sánh về QSDĐ dưới khía cạnh phương pháp luận và tiêu chuẩn hóa trên cơ sở nghiên cứu về pháp luật một số quốc gia Châu Âu. Mặc dù, công trình này không liên quan trực tiếp đến đề tài Luận án song kết quả nghiên cứu được NCS tham khảo trên hai phương diện: Một là, nghiên cứu của các tác giả cung cấp thông tin, cơ sở pháp luật về QSDĐ của một số quốc gia Châu Âu.

Điều này giúp NCS có “cái nhìn” toàn diện, đa chiều và sâu sắc hơn về QSDĐ dưới góc độ luật pháp; Hai là, NCS tiếp cận được phương pháp nghiên cứu hiện đại trong nghiên cứu luật học của các học giả ở các nước Châu Âu - những nước có nền pháp luật phát triển hơn Việt Nam - trên cơ sở đó, suy nghĩ, vận dụng sáng tạo, phù hợp trong quá trình nghiên cứu Luận án của mình. Các công trình nghiên cứu về giao dịch, chuyển nhượng quyền SDĐ (i) Gregory M. Stein, Acquiring Land Use Rights in Today's China: A Snapshot from on the Ground (tạm dịch “Mua lại quyền sử dụng đất tại Trung Quốc hiện nay: Hình ảnh từ thực địa”), 24 UCLA Pac. 1 (2006) Đây là nghiên cứu cung cấp tổng quan về thị trường BĐS Trung Quốc - tiếp cận từ việc mua lại QSDĐ trên thực tế, từ góc độ pháp lý và kinh doanh.

Theo đó, đất đai thuộc sở hữu của Chính phủ hoặc chính quyền địa phương, Chính phủ có quyền bán QSDĐ có thời hạn thông qua đấu thầu. Tuy nhiên, theo tác giả, lĩnh vực này cũng có nhiều “khe hở” pháp lý tạo cơ hội cho tham nhũng và chưa thực sự công bằng, minh bạch trong đấu thầu. Người mua QSDĐ phải trả toàn bộ chi phí cho Chính phủ; đồng thời, phải SDĐ đúng mục đích và phải hoàn thành ít nhất 25% công trình được đề xuất mới có thể bán cho bên thứ ba. Ở Trung Quốc, chủ sở hữu QSDĐ được sở hữu tòa nhà xây dựng trên khu đất đó.

Tác giả Bài viết đánh giá Trung Quốc đã có những thành công trong việc thu được 20 những lợi ích kinh tế từ đất đai, thông qua việc kiểm soát và bán QSDĐ. Dẫu vậy, cải cách pháp luật ở Trung Quốc chưa thực sự hoàn thành, thị trường BĐS Trung Quốc chưa thực sự trưởng thành, biện pháp thế chấp vẫn còn trong giai đoạn “trứng nước”, có nhiều tranh chấp về xây dựng từ các dự án phát triển BĐS, Chính phủ thao túng lãi suất và thuế suất chuyển nhượng… Những tồn tại này cho thấy thị trường BĐS Trung Quốc không được tự do và cởi mở; trong khi lãnh đạo Trung Quốc muốn nhận được sự tin tưởng của các nhà ĐTNN.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho tổ chức kinh tế tại Thái Nguyên: Pháp luật và thực tiễn" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình và các quy định pháp lý liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho các tổ chức kinh tế tại Thái Nguyên. Tác giả phân tích những thách thức và cơ hội trong thực tiễn, từ đó giúp độc giả hiểu rõ hơn về các bước cần thiết để thực hiện giao dịch này một cách hợp pháp và hiệu quả. Bài viết không chỉ mang lại kiến thức pháp lý mà còn hướng dẫn thực tiễn, giúp các tổ chức và cá nhân có liên quan nắm bắt thông tin quan trọng để tối ưu hóa quyền lợi của mình.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình cá nhân và thực tiễn thi hành tại địa bàn thành phố Lạng Sơn tỉnh Lạng Sơn, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ pháp luật về giải quyết khiếu nại đất đai và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Lào Cai sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình giải quyết khiếu nại liên quan đến đất đai. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thành phố Uông Bí cũng là một nguồn tài liệu quý giá để bạn tham khảo thêm về thực tiễn chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại một địa phương khác.