CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE THÁM QUYEN GIẢI QUYẾT TRANH CHAP QUYEN SỬ DỤNG DAT CỦA TOÀ ÁN 1. Khái niệm về tranh chấp QSDĐ và thẩm quyền giải quyết tranh chấp QSDĐ của Toà án 1. Khái niệm về tranh chấp QSDĐ Việc nhận diện bản chất pháp lý của tranh chấp QSDĐ sẽ là tiền đề cho việc xác định thâm quyền giải quyết tranh chap QSDD của Toà án. Do vậy, tại tiêu mục này, Luận văn sẽ nghiên cứu, luận giải làm rõ khái niệm, đặc điểm của tranh chấp QSDD.
Theo nghĩa rộng thì tranh chấp đất đai là biểu hiện sự mâu thuẫn. bat đồng trong việc xác định quyền quản lý, quyền chiếm hữu. quyền sử dụng đối với đất đai, phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai. Theo nghĩa hẹp.
tranh chap đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thé tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình sử dụng đất đai. Theo Giáo trình LDD của trường Đại học Luật Hà Nội thì “Tranh chấp đất đai là sự bat đồng. mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất dai” [20. Tranh chấp dat đai bao gồm tranh chấp về chủ thể có QSDĐ, tranh chấp về các giao dịch liên quan đến QSDĐ, tranh chấp về địa giới hành chính.
Vậy tranh chấp đất đai có đồng nghĩa với tranh chấp QSDĐ hay không cũng là vấn đề cần được làm sáng tỏ về phương diện lý luận. Dưới góc độ là một quyền dân sự thì tranh chấp QSDĐ là một dạng tranh chap dân sự. biểu hiện sự mâu thuẫn, bất đồng trong việc xác định quyền quản lý, chiếm hữu. sử dụng đối với đất đai khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đất đai.
để hiểu rõ hơn về khái niệm tranh chấp QSDĐ dưới góc độ dân sự, chúng tôi tiếp cận từ khái niệm tranh chấp đất đai được xác định trong các quy định của LDD hiện hành. Qua đó đánh giá nội hàm của khái niệm này dé có cách nhìn nhận theo nghĩa đầy đủ nhất. Trong các quy định của LDD 1987 và LDD 1993 déu có dùng thuật ngữ "tranh chap vê QSDD và tài san gan liên với dat” mà không có phân giải thích thuật ngữ. Nhưng đến LDD 2003.
tại khoản 26 Điêu 4 về giải thích từ ngữ thì “Tranh chấp dat dai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ cua người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” [11. Kết hợp lập luận trên và với quy định tại Điều 136 LDD 1993 quy định tranh chấp đất dai đã được hoà giải tại UBND xa, phường. thị tran mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì thâm quyền giải quyết được xác định theo hướng: “Tranh chấp về QSDD mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì đo TAND giải quyết.” thì chúng ta có thê nhận thay có sự tương đồng giữa hai thuật ngữ “Tranh chap dat đai” và “Tranh chap về QSDbD”. nếu hiểu theo cách nhìn của Giáo trình LDD của Trường Đại học Luật Hà Nội thì tranh chấp đất đai là một thuật ngữ rộng hơn tranh chấp QSDD.
Nghiên cứu các quy định tại Điều 53 Hiến pháp 2013 cho thay “ Dat dai, tài nguyên nước. là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Tiếp theo đó, Điều 54 Hiến pháp 2013 quy định tiếp “Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất. công nhận QSDD.
Người sử dụng dat được chuyển QSDD, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật. QSDĐ được pháp luật bảo hộ” [3, tr. Nếu hiểu khái niệm tranh chấp QSDD theo nghĩa rộng thì đó là sự xung đột về thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong việc sử dụng đất. bao gồm các tranh chấp ai là người được Nhà nước giao đất.
cho thuê đất, công nhận QSDĐ; tranh chấp phát sinh khi người sử dụng chuyên QSDĐ và tranh chấp khi người sử dụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ luật quy định đôi với QSDĐ. Nếu ở góc độ phân tích độc lập khái niệm “tranh chấp QSDD” theo hướng dua trên cơ sở tách nghĩa "tranh chấp” và “ QSDĐ” chúng tôi càng nhận thấy sự hợp lý khi hiểu khái niệm này theo nghĩa rộng. Như chúng ta đã biết theo quy định pháp luật Việt Nam thì “QSDD” là quyền bị giới hạn. khi mà người sử dụng dat hợp pháp không được hoàn toàn thực hiện mọi mong muốn đề thực hiện nhu cầu hoặc mục đích mà chỉ được phép thực hiện những gì mà pháp luật cho phép.
Điều 105 LĐĐ 2003 quy định về quyền chung của người sử dụng đất “Được cấp giây chứng nhận QSDD; được hưởng thành quả lao động đầu tư từ đất; được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến QSDD hợp pháp” [11. Ngoài ra các quyên khác được quy định tại Điều 106 LDD 2003 gồm “Quyén chuyển đôi. chuyền nhượng. cho thuê, cho thuê lại.
tặng cho QSDĐ: quyền thé chap, bảo lãnh. góp von bằng QSDĐ: quyền được béi thường khi Nhà nước thu hồi đất” [11. Chi với hai điều nêu trên chúng tôi thay rang những xung đột về quyền và lợi ích của các chủ thể không chỉ nguyên vẹn là xung đột về việc ai là người được sử dụng đất. mà còn bao gồm cả những xung đột phát sinh từ việc chuyển đôi.
chuyển nhượng. cho thuê lại, thừa kế. tặng cho QSDĐ: thé chap, bảo lãnh. góp vốn băng QSDD.
năm HĐXX03 đều sử dụng thuật ngữ "tranh chap về QSDĐ va tài sản găn liền với đất" thế nhưng nội hàm của khái niệm lại được giải thích khác nhau trong các văn bản hướng dẫn. TTLT 02 ngày 28/7/97 hướng dẫn giải quyết các tranh chap QSDĐ theo Khoản 3 Điều 38 LDD 1993 hoàn toàn không phân chia các dạng tranh chấp (ai là người có quyền sử dụng. các giao dịch liên quan tới QSDD: thừa kế QSDĐ) mà chi đề cập rất chung chung là tranh chấp về tài san trên đất và QSDĐ. TTLT số 01 ngày 3/1/HDXX02 thay thé Thông tư 02 nêu trên cũng không sử dụng thuật ngữ “tranh chap về QSDD va tài sản gắn liền với đất” mà sử dụng một thuật ngữ khác là các tranh chấp liên quan đến QSDĐ.
các tranh chấp liên quan đến QSDĐ được giải thích bao gồm. tranh chấp về việc ai là người có QSDĐ: Tranh chap hợp đồng chuyên đổi, chuyển nhượng, cho thuê. cho thuê lại QSDĐ và thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị QSDĐ; Thừa kế QSDĐ: Tranh chấp về tài sản gan liền với việc sử dụng đất. Xét về logic ngôn ngữ thì thuật ngữ “các tranh chấp liên quan đến QSDĐ” là một thuật ngữ có nội hàm rất rộng bao gồm cả tranh chấp về QSDĐ và tài sản gắn liền với đất.
Theo suy luận logic thì tranh chấp về QSDĐ nếu hiểu theo nghĩa rộng sẽ bao gồm 3 loại: Tranh chấp về việc ai là người có QSDĐ (thực chất là tranh chấp QSDD hay cụ thé hơn là kiện đòi dat đang bị người khác chiếm giữ, tranh chấp mốc giới): Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại QSDD và thé chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn băng giá trị QSDĐ: Tranh chấp thừa kế QSDĐ” [19, tr. Còn tranh chấp về QSDD theo nghĩa hẹp rộng chỉ bao hàm tranh chấp về việc ai là người có QSDĐ. [rong phạm vi của Luận văn này. tranh chấp QSDĐ được tiếp cận theo nghĩa rộng.
bao hàm các dang tranh chấp liên quan đến QSDD. Qua các phân tích ở trên có thê rút ra khái niệm về tranh chấp QSDD như sau: Tranh chấp QSDĐ là các tranh chap vé các quyên, nghĩa vụ sử dụng đất của người sư dụng đất theo quy định pháp luật, bao gôm tranh chap về việc ai là người có QSDĐ: tranh chấp hợp đông chuyên đồi, chuyên nhượng. cho thuê, cho thuê lại QSDĐ: thừa kế QSDĐ: thé chấp hoặc bao lãnh, góp vốn bằng giá trị QSDĐ. So với các loại tranh chấp dân sự khác.
tranh chấp về QSDĐ có một số đặc điểm riêng sau đây: - Đối tượng của tranh chấp QSDĐ là quyền quản lý, quyền sử dụng và những lợi ich phat sinh từ quá trình sử dụng dat. - Các chủ thé của tranh chấp QSDD chi là chủ thé quản lý va sử dụng đất. không có quyền so hữu đối với đất đai bởi dat đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước làm đại diện chủ sở hữu và thông nhất quản lý. - Tranh chấp QSDĐ luôn gan liền với quá trình sử dụng đất của các chủ thể nên không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia tranh chấp mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước.
Khái niệm, ý nghĩa về thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dung đất của Toà an 1. Khái niệm thâm quyên giải quyết tranh chấp quyên sử dụng của Toà án Việc nghiên cứu về thẩm quyền giải quyết tranh chấp QSDĐ của Toà án sẽ được tiếp cận từ việc nghiên cứu về thâm quyền dân sự của Toà án. Xét về thuật ngữ thì trong tiếng Anh, thuật ngữ Jurisdistion được sử dụng để chỉ thâm quyền hoặc phán quyết tức là quyền lắng nghe và phán quyết vụ kiện hay đưa ra án lệnh nào đó của Toà án hoặc vùng lãnh thé mà trong phạm vi đó thâm quyền của Toà án (Jurisdistion of Court) được thi hành. Trong tiếng Pháp.
thắm quyền “Compétence” được hiểu là quyền của cơ quan nhà nước, hành chính hay tư pháp, quan chức hành chính hay tư pháp được làm một số việc, được quyết định và ra một số van dé trong phạm vi được pháp luật cho phép. Trong tiếng Việt, thuật ngữ “tham quyền” là thuật ngữ dùng dé chỉ “quyển xem xét, kết luận và định đoạt vấn đề theo pháp luật hoặc chỉ một tư cách về chuyên môn được thừa nhận dé có ý kiến có tính chất quyết định van dé” [24, tr. Theo Từ điển Luật học thì “thẩm quyền” được hiểu là “tổng 10 hop các quyên và nghĩa vụ hành động. quyết định của các cơ quan nhà.
tô chức thuộc hệ thông bộ máy nhà nước do pháp luật quy định” [25. Còn theo cuốn Giáo trình Luật tố tụng hành chính Trường Đại học luật Hà Nội HĐXXOI thi định nghĩa “Tham quyền là quyền hạn theo pháp luật quy định ca cơ quan công quyển và công chức giữ chức vụ nhà nước nhất định” [22.