Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đất đai nói chung và đất ở nói riêng là loại tài nguyên đặc biệt của quốc gia, đồng thời là nguồn lực quan trọng phục vụ phát triển kinh tế – xã hội đã được ghi nhận tại Hiến pháp năm 2013. Đối với đời sống nhân dân, đất ở gắn liền với nhu cầu an cư lạc nghiệp và xây dựng tổ ấm gia đình. Nhằm phát huy tối đa nguồn lực đất đai, kể từ Luật Đất đai năm 1993 đến nay, Nhà nước đã cho phép các chủ thể sử dụng đất hợp pháp thực hiện quyền chuyển quyền sử dụng đất, trong đó giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở diễn ra phổ biến nhất.
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, nhu cầu về đất ở ngày càng gia tăng, kéo theo sự bùng nổ của các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, thực tiễn chuyển nhượng sôi động cũng làm phát sinh nhiều tranh chấp phức tạp, kéo dài. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ này dù đã được quan tâm xây dựng nhưng vẫn bộc lộ những bất cập, chưa theo kịp thực tế, tồn tại sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các luật (như Luật Đất đai, Bộ luật Dân sự, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản). Thực trạng này dẫn đến việc áp dụng pháp luật gặp vướng mắc, Tòa án gặp khó khăn trong quá trình xét xử, đồng thời tiềm ẩn nhiều rủi ro cho các bên tham gia giao dịch.
Để giải quyết các vấn đề nêu trên, khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở (khái niệm, đặc điểm, phân biệt với các hợp đồng chuyển quyền khác, lịch sử phát triển quy định pháp luật từ Luật Đất đai năm 1987 đến nay và ý nghĩa pháp lý - thực tiễn).
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở (đối tượng, điều kiện, chủ thể, hình thức, hiệu lực, nội dung, trình tự thủ tục, hợp đồng vô hiệu và hậu quả pháp lý).
- Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật, chỉ ra những kết quả đạt được, khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân; từ đó đề xuất các định hướng, giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật tại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống quy định pháp luật dân sự, pháp luật đất đai, pháp luật kinh doanh bất động sản, pháp luật nhà ở về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở và thực tiễn thực hiện các quy định này. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam trong khung khổ pháp lý từ thời điểm Luật Đất đai năm 1987 đến các văn bản pháp luật hiện hành tính đến năm 2023.
Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong quá trình triển khai, tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để mổ xẻ các điều luật, quy phạm pháp lý trong Bộ luật Dân sự và Luật Đất đai qua các thời kỳ.
- Phương pháp so sánh luật học: Phân biệt hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở với các loại hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất khác (chuyển đổi, tặng cho, cho thuê); so sánh sự tương thích giữa các văn bản luật hiện hành.
- Phương pháp logic và hệ thống hóa: Phân loại các điều kiện có hiệu lực, các trường hợp hợp đồng vô hiệu, quy trình thực hiện thủ tục hành chính.
- Phương pháp nghiên cứu số liệu thống kê: Đánh giá số liệu diện tích đất ở và khối lượng giao dịch từ báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Hệ thống cơ sở pháp lý và văn bản quy phạm được tác giả sử dụng trong khóa luận gồm:
- Hiến pháp năm 2013.
- Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 (các Điều 74, 101, 115, 123–133, 158, 167, 168, 189, 212, 385, 398, 407, 418, 500, 501, 502).
- Luật Đất đai qua các thời kỳ: năm 1987, năm 1993 (sửa đổi năm 2001), năm 2003, năm 2013 (các Điều 3, 55, 105, 114, 125, 128, 143, 144, 167, 169, 186, 188, 189, 192).
- Pháp lệnh Nhà ở năm 1991, Luật Nhà ở năm 2014 (các Điều 7, 118, 119, 159).
- Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 (các Điều 37, 38, 39, 40, 41).
- Luật Công chứng năm 2014 (Điều 42), Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 (sửa đổi năm 2013).
- Các Nghị định và Thông tư hướng dẫn: Nghị định số 17/1999/NĐ-CP, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP, Nghị định số 148/2020/NĐ-CP, Nghị định số 02/2022/NĐ-CP, Nghị định số 10/2023/NĐ-CP; Thông tư số 08/2007/TT-BTNMT, Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT, Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT, Thông tư số 27/2018/TT-BTNMT; Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở
Chương này tập trung làm sáng tỏ các khái niệm nền tảng, bản chất pháp lý và sự tiến triển của chế định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong lịch sử lập pháp Việt Nam:
- Khái niệm cơ bản: Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 143 và Khoản 1 Điều 144 Luật Đất đai năm 2013 cùng Thông tư số 27/2018/TT-BTNMT, đất ở thuộc nhóm đất phi nông nghiệp, gồm đất ở tại nông thôn và đất ở tại đô thị, dùng để xây dựng nhà ở, các công trình phục vụ đời sống, vườn, ao gắn liền trong cùng một thửa đất thuộc khu dân cư. Quyền sử dụng đất ở là quyền tài sản trị giá được bằng tiền (Điều 115, Điều 158, Điều 189 BLDS năm 2015). Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở (HĐCNQSDĐ ở) là sự thỏa thuận giữa bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng, theo đó bên chuyển giao đất và quyền sử dụng đất ở nhận một khoản tiền tương ứng từ bên nhận chuyển giao (Điều 385, Điều 500 BLDS năm 2015).
- Đặc điểm pháp lý của HĐCNQSDĐ ở:
- Là hợp đồng song vụ: Mỗi bên đều có quyền và nghĩa vụ tương ứng đối với nhau và phải tuân thủ các nghĩa vụ pháp lý đối với Nhà nước (đại diện chủ sở hữu đất đai).
- Là hợp đồng có đền bù: Thể hiện qua khoản tiền thanh toán tương ứng với giá trị quyền sử dụng đất và thửa đất nhận chuyển nhượng.
- Nhằm mục đích chuyển giao quyền tài sản: Làm chấm dứt quyền sử dụng đất của bên chuyển nhượng và xác lập quyền sử dụng đất ổn định lâu dài (hoặc có thời hạn) cho bên nhận chuyển nhượng.
- Chịu sự điều chỉnh đồng thời của nhiều ngành luật: BLDS, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Công chứng.
- So sánh HĐCNQSDĐ ở với các giao dịch chuyển quyền khác:
| Tiêu chí |
HĐ Chuyển nhượng QSDĐ ở |
HĐ Chuyển đổi QSDĐ |
HĐ Tặng cho QSDĐ ở |
HĐ Cho thuê QSDĐ ở |
| Bản chất |
Chuyển giao toàn bộ quyền sử dụng để nhận khoản tiền đền bù. |
Hoán đổi đất cho nhau nhằm thuận tiện canh tác, sản xuất. |
Chuyển giao quyền mang tính tự nguyện, phi thương mại. |
Chuyển giao quyền khai thác, sử dụng tạm thời trong một thời hạn. |
| Phạm vi áp dụng |
Đất ở và quyền sử dụng đất ở. |
Chỉ áp dụng đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trong cùng xã. |
Đất ở giữa các chủ thể có quan hệ nhân thân hoặc hỗ trợ xã hội. |
Các loại đất theo thỏa thuận hợp pháp. |
| Tính chất đền bù |
Luôn có đền bù bằng tiền hoặc tài sản quy đổi thành tiền. |
Mang tính hiện vật là chủ yếu; thanh toán phần chênh lệch giá trị (nếu có). |
Không có đền bù. |
Có đền bù định kỳ hoặc một lần (tiền thuê đất). |
| Tư cách chủ thể sau giao dịch |
Chấm dứt hoàn toàn tư cách người sử dụng đất đối với diện tích chuyển nhượng. |
Thay đổi vị trí thửa đất sử dụng giữa các bên. |
Chấm dứt quyền sử dụng đất của bên tặng cho. |
Bên cho thuê vẫn giữ tư cách người sử dụng đất trước Nhà nước. |
- Lịch sử lập pháp từ năm 1987 đến nay:
- Giai đoạn 1988 – 1993: Luật Đất đai năm 1987 và Pháp lệnh Nhà ở năm 1991 chưa công nhận quyền chuyển nhượng đất đai; đất đai không phải là đối tượng mua bán.
- Giai đoạn 1993 – 2003: Luật Đất đai năm 1993 ghi nhận quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ban hành mẫu hợp đồng thống nhất; thẩm quyền làm thủ tục chuyển từ UBND cấp xã sang UBND cấp huyện (từ năm 2001).
- Giai đoạn 2003 – 2013: Luật Đất đai năm 2003 và BLDS năm 2005 (dành riêng Chương XXVIII) hoàn thiện cơ sở pháp lý, xác lập rõ điều kiện cấp Giấy chứng nhận và bảo vệ quyền lợi các bên.
- Giai đoạn 2013 đến nay: BLDS năm 2015 quy định khung chung về hợp đồng quyền sử dụng đất (Mục 7 Chương XV), kết hợp đồng bộ với Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014.
Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở
Chương này đi sâu phân tích toàn diện các quy định thực định điều chỉnh hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở:
- Đối tượng và điều kiện chuyển nhượng (Điều 188 Luật Đất đai năm 2013):
- Có Giấy chứng nhận: Là điều kiện bắt buộc chứng minh tính hợp pháp của quyền sử dụng đất. Ngoại lệ duy nhất là người nhận thừa kế là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam (Điều 186 Luật Đất đai năm 2013) vẫn được quyền chuyển nhượng mà không cần đứng tên trên Giấy chứng nhận.
- Đất không có tranh chấp: Tác giả chỉ rõ bất cập khi Tòa án thường coi mọi dạng tranh chấp (kể cả tranh chấp lối đi, bất động sản liền kề) là lý do cản trở quyền chuyển nhượng; tác giả đề xuất chỉ coi đất có tranh chấp khi đã có đơn yêu cầu giải quyết chính thức gửi cơ quan có thẩm quyền.
- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án: Tác giả phát hiện sự không tương thích giữa Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 (chỉ quy định kê biên thi hành án) và Điểm c Khoản 1 Điều 118 Luật Nhà ở năm 2014 (quy định cả kê biên chấp hành quyết định hành chính).
- Đất trong thời hạn sử dụng: Đất ở của hộ gia đình, cá nhân có thời hạn sử dụng ổn định lâu dài (Điều 125, Điều 128 Luật Đất đai năm 2013); dự án nhà ở xác định theo thời hạn dự án (50 hoặc 70 năm).
- Điều kiện tài sản gắn liền với đất: Nhà ở chuyển nhượng phải có Giấy chứng nhận, không có khiếu nại/tranh chấp sở hữu, không bị kê biên và không có thông báo thu hồi, giải tỏa phá dỡ (Điều 118 Luật Nhà ở năm 2014); công trình xây dựng phải được tạo lập hợp pháp và đúng quy hoạch (Điều 189 Luật Đất đai năm 2013).
- Chủ thể của hợp đồng:
- Bên chuyển nhượng: Hộ gia đình, cá nhân được giao đất có thu tiền, công nhận quyền hoặc nhận chuyển quyền hợp pháp; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức kinh tế trong nước và doanh nghiệp FDI có quyền sử dụng đất hợp pháp. Điều 192 Luật Đất đai năm 2013 đặt ra hạn chế chuyển nhượng đối với đất ở xen kẽ trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt/phục hồi sinh thái rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, hoặc đất giao theo chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số (chỉ được chuyển nhượng sau 10 năm).
- Bên nhận chuyển nhượng: Cá nhân, hộ gia đình (trừ trường hợp không cư trú trong vùng rừng phòng hộ/đặc dụng theo Điều 169); người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở; tổ chức kinh tế, doanh nghiệp FDI nhận chuyển nhượng vốn đầu tư là giá trị quyền sử dụng đất.
- Điều kiện năng lực và tự nguyện: Cá nhân phải đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; tổ chức phải đáp ứng Điều 74 BLDS năm 2015. Định đoạt quyền sử dụng đất của hộ gia đình phải có sự đồng ý bằng văn bản có công chứng/chứng thực của tất cả thành viên thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (Điều 212 BLDS năm 2015, Điều 64 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP).
- Hình thức và thời điểm có hiệu lực:
- Hợp đồng bắt buộc phải lập thành văn bản (Điều 502 BLDS năm 2015) và phải được công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc chứng thực tại UBND cấp xã nơi có đất (Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013, Điều 42 Luật Công chứng năm 2014, Điều 5 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP). Miễn công chứng, chứng thực bắt buộc khi một bên là doanh nghiệp kinh doanh bất động sản.
- Thời điểm có hiệu lực: Hợp đồng có hiệu lực theo thỏa thuận hoặc khi công chứng/chứng thực, nhưng việc chuyển quyền sử dụng đất chỉ phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính (Khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013).
- Nội dung hợp đồng và mâu thuẫn pháp luật:
- Bao gồm đối tượng (tham khảo Mẫu số 06 Phụ lục Nghị định số 02/2022/NĐ-CP), giá chuyển nhượng (theo thỏa thuận, thanh toán bằng Đồng Việt Nam theo Pháp lệnh Ngoại hối), quyền và nghĩa vụ các bên, phương thức thanh toán, bàn giao đất và đăng ký, giải quyết tranh chấp, phạt vi phạm (Điều 418 BLDS năm 2015) và bồi thường thiệt hại.
- Mâu thuẫn lập pháp: Khoản 5 Điều 40 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định bên nhận chuyển nhượng có quyền sử dụng đất kể từ thời điểm nhận bàn giao đất, mâu thuẫn trực tiếp với Khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 (quy định hiệu lực chuyển quyền phát sinh từ khi đăng ký vào sổ địa chính).
- Trình tự, thủ tục thực hiện (Nghị định số 43/2014/NĐ-CP):
- Đối với cá nhân, hộ gia đình (Điều 60, 61, 79): Nộp 01 bộ hồ sơ tại Văn phòng đăng ký đất đai (gồm hợp đồng, bản gốc Giấy chứng nhận, văn bản đồng ý/hồ sơ tách thửa); cơ quan đăng ký gửi thông tin thuế, xác nhận biến động hoặc trình cấp mới Giấy chứng nhận, chỉnh lý cơ sở dữ liệu địa chính. Thời gian giải quyết không quá 10 ngày.
- Đối với dự án phát triển nhà ở (Điều 72 sửa đổi bởi Nghị định số 148/2020/NĐ-CP và Nghị định số 10/2023/NĐ-CP): Chủ đầu tư nộp hồ sơ hoặc cung cấp cho bên mua tự nộp.
- HĐCNQSDĐ ở vô hiệu và hậu quả pháp lý:
- Căn cứ vô hiệu: Vi phạm điều cấm của luật/trái đạo đức xã hội (như thanh toán bằng ngoại tệ); chủ thể không đủ năng lực hành vi hoặc vi phạm ý chí tự nguyện; do nhầm lẫn; do lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; do giả tạo (che giấu hợp đồng vay tiền hoặc trốn tránh nghĩa vụ thuế); vi phạm hình thức (không lập văn bản, thiếu công chứng/chứng thực). Tuy nhiên, Điều 129 BLDS năm 2015 quy định ngoại lệ: nếu hợp đồng vi phạm hình thức nhưng một bên hoặc các bên đã thực hiện từ 2/3 nghĩa vụ trở lên thì Tòa án công nhận hiệu lực hợp đồng.
- Hậu quả pháp lý (Điều 131 BLDS năm 2015): Hợp đồng vô hiệu từ thời điểm xác lập, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bên có lỗi phải bồi thường thiệt hại (tính cả khoản tiền khôi phục đất, cải tạo đất, chênh lệch giá thị trường theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP). Bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay tình theo Điều 133, Điều 167, Điều 168 BLDS năm 2015 khi tài sản đã đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật tại Việt Nam
Chương 3 tổng kết các kết quả thực tế dựa trên số liệu quản lý nhà nước, nhận diện những vướng mắc và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật:
- Số liệu thống kê thực tiễn:
- Theo Quyết định số 719/QĐ-BTNMT ngày 24/03/2023 của Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt kết quả thống kê diện tích đất đai năm 2021: Tổng diện tích đất ở của cả nước là 759.545 ha (trong đó đất ở tại nông thôn là 564.451 ha, đất ở tại đô thị là 195.094 ha).
- Theo Báo cáo số 88/BC-BTNMT ngày 03/08/2022 của Bộ Tài nguyên và Môi trường: Từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực, cả nước đã ghi nhận 3.177.936 giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất với tổng diện tích trên 23.292,46 nghìn ha (chiếm 26,28% tổng số giao dịch đất đai), chủ yếu tập trung vào thị trường đất phi nông nghiệp (chiếm 13,7%).
| Chỉ tiêu thống kê |
Số liệu công bố |
Căn cứ văn bản |
| Tổng diện tích đất ở cả nước (2021) |
759.545 ha |
Quyết định 719/QĐ-BTNMT (24/03/2023) |
| Diện tích đất ở nông thôn |
564.451 ha |
Quyết định 719/QĐ-BTNMT (24/03/2023) |
| Diện tích đất ở đô thị |
195.094 ha |
Quyết định 719/QĐ-BTNMT (24/03/2023) |
| Tổng số giao dịch chuyển nhượng QSDĐ |
3.177.936 giao dịch |
Báo cáo 88/BC-BTNMT (03/08/2022) |
| Tổng diện tích QSDĐ chuyển nhượng |
> 23.292,46 nghìn ha (26,28%) |
Báo cáo 88/BC-BTNMT (03/08/2022) |
| Tỷ trọng chuyển nhượng đất phi nông nghiệp |
13,7% |
Báo cáo 88/BC-BTNMT (03/08/2022) |
- Khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn:
- Xung đột thời điểm phát sinh quyền sử dụng đất giữa Luật Đất đai năm 2013 (tính từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính) và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 (tính từ thời điểm bàn giao đất).
- Bất cập trong việc xác định điều kiện "đất không có tranh chấp", dẫn đến việc nhiều chủ thể lợi dụng việc gửi đơn khiếu nại không có căn cứ nhằm cản trở quyền chuyển nhượng của người sử dụng đất hợp pháp.
- Hiện tượng xác lập hợp đồng giả tạo (ký hợp đồng chuyển nhượng để bảo đảm cho hợp đồng vay tiền, hoặc ghi giá chuyển nhượng thấp hơn thực tế để trốn thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ).
- Quy định về sự đồng thuận của tất cả thành viên trong hộ gia đình tại thời điểm giao kết hợp đồng gây khó khăn trong việc xác định thành viên hộ gia đình tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận và chứng minh chữ ký.
- Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành:
- Sửa đổi Khoản 5 Điều 40 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 để bảo đảm tính thống nhất với BLDS năm 2015 và Khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 về thời điểm chuyển quyền sở hữu/sử dụng.
- Bổ sung quy định chi tiết về khái niệm "đất đang có tranh chấp", chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn giao dịch khi tranh chấp đã được thụ lý giải quyết theo thủ tục tố tụng hoặc hành chính chính thức.
- Hoàn thiện cơ chế xác định giá trị quyền sử dụng đất tính thuế sát với giá thị trường nhằm hạn chế tình trạng hợp đồng hai giá.
- Tăng cường liên thông cơ sở dữ liệu công chứng và cơ sở dữ liệu đăng ký đất đai quốc gia nhằm ngăn ngừa tình trạng một thửa đất chuyển nhượng cho nhiều người hoặc lập hợp đồng che giấu giao dịch vay nợ.
Kết quả và đóng góp
- Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện các luận cứ lý luận và pháp lý về chế định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong hệ thống pháp luật Việt Nam qua 4 giai đoạn lập pháp (1987, 1993, 2003, 2013).
- Chỉ ra cụ thể các điểm xung đột và thiếu đồng bộ giữa các đạo luật then chốt: Khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 đối chiếu với Khoản 5 Điều 40 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014; Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 đối chiếu với Điểm c Khoản 1 Điều 118 Luật Nhà ở năm 2014.
- Cung cấp bức tranh thực tiễn có chứng cứ số liệu xác thực từ Quyết định số 719/QĐ-BTNMT (tổng diện tích đất ở 759.545 ha) và Báo cáo số 88/BC-BTNMT (3.177.936 giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất).
- Đề xuất hệ thống các giải pháp lập pháp và thực thi cụ thể nhằm tháo gỡ điểm nghẽn trong hoạt động công chứng, đăng ký đất đai và giải quyết tranh chấp hợp đồng vô hiệu tại Tòa án.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận được hoàn thành vào năm 2023, tập trung phân tích khung khổ pháp lý của Luật Đất đai năm 2013, BLDS năm 2015 và các đạo luật liên quan tại thời điểm đó. Do giới hạn về mặt thời gian và phạm vi nghiên cứu chuyên ngành Pháp luật Dân sự, khóa luận chưa thể đánh giá toàn diện các điểm mới của Luật Đất đai năm 2024, Luật Nhà ở năm 2023 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 sau khi các luật này được thông qua và có hiệu lực thi hành.
Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài là đánh giá tác động của các đạo luật mới đối với việc chuẩn hóa nội dung mẫu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở, cơ chế thanh toán qua ngân hàng, quy định bỏ khung giá đất và việc liên thông cơ sở dữ liệu đất đai số quốc gia trong các giao dịch dân sự.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học ngành Luật (đặc biệt là chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Kinh doanh Bất động sản) tham khảo về cấu trúc nghiên cứu lý luận, phương pháp so sánh hợp đồng và kỹ thuật rà soát xung đột pháp luật.
- Các cá nhân, văn phòng công chứng, luật sư và cán bộ địa chính nghiên cứu phục vụ hoạt động thẩm định điều kiện chuyển nhượng, xác lập văn bản hợp đồng chuyển nhượng đất ở của hộ gia đình và xử lý rủi ro pháp lý đối với hợp đồng vô hiệu.
- Phần đáng tham khảo nhất là bảng so sánh các hình thức chuyển quyền sử dụng đất (Chương 1) và phần phân tích chi tiết điều kiện chuyển nhượng, các căn cứ tuyên bố hợp đồng vô hiệu kèm hướng dẫn tính toán bồi thường thiệt hại theo Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP (Chương 2).
Câu hỏi thường gặp
1. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở có hiệu lực từ thời điểm nào theo quy định pháp luật?
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở có hiệu lực theo thỏa thuận của các bên hoặc từ thời điểm được công chứng, chứng thực. Tuy nhiên, việc chuyển quyền sử dụng đất chỉ chính thức phát sinh hiệu lực pháp lý đối với các bên và người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký biến động vào sổ địa chính tại Văn phòng đăng ký đất đai theo quy định tại Khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013.
2. Người nhận thừa kế quyền sử dụng đất ở là người nước ngoài có được đứng tên chuyển nhượng đất ở không?
Căn cứ Điều 186 Luật Đất đai năm 2013, người nhận thừa kế quyền sử dụng đất ở là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam sẽ không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng vẫn được phép đứng tên với tư cách là bên chuyển nhượng trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở để nhận giá trị bằng tiền.
3. Đất ở của hộ gia đình khi chuyển nhượng cần chữ ký của những ai?
Căn cứ Khoản 2 Điều 212 BLDS năm 2015 và Điều 64 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, việc định đoạt quyền sử dụng đất ở của hộ gia đình bắt buộc phải có sự đồng ý bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực của tất cả các thành viên trong gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Người đứng tên trên Giấy chứng nhận chỉ được ký hợp đồng khi đã có văn bản chấp thuận này hoặc có văn bản ủy quyền hợp pháp.
4. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở vi phạm điều kiện về hình thức có bị Tòa án tuyên vô hiệu trong mọi trường hợp không?
Không. Căn cứ theo quy định tại Điều 129 BLDS năm 2015, trong trường hợp hợp đồng vi phạm quy định bắt buộc về lập văn bản hoặc công chứng, chứng thực nhưng một bên hoặc các bên đã thực hiện được từ 2/3 nghĩa vụ trở lên (như đã thanh toán từ 2/3 số tiền hoặc đã bàn giao đất và thực hiện 2/3 nghĩa vụ) thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của hợp đồng đó.
5. Cơ quan nào có thẩm quyền chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở?
Theo quy định tại Điểm d Khoản 2 và Khoản 6 Điều 5 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP, thẩm quyền chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở thuộc về Ủy ban nhân dân cấp xã (xã, phường, thị trấn) nơi có thửa đất chuyển nhượng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hồng Sơn là công trình nghiên cứu chuyên khảo có chất lượng học thuật tốt thuộc chuyên ngành Pháp luật Dân sự, giải quyết đồng bộ từ nền tảng lý luận đến thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở. Tác giả đã chỉ rõ những điểm mâu thuẫn then chốt giữa Luật Đất đai năm 2013, BLDS năm 2015, Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, đồng thời gắn kết với số liệu giao dịch và hiện trạng đất đai thực tế từ Bộ Tài nguyên và Môi trường. Các kiến nghị hoàn thiện quy phạm và cơ chế thực thi được luận giải chặt chẽ, đóng góp giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp, hoạt động xét xử và nghiên cứu pháp lý.