Giới thiệu dự án
Tín dụng ngân hàng giữ vai trò huyết mạch trong nền kinh tế Việt Nam với tỷ lệ dư nợ tín dụng trên GDP duy trì ở mức cao (xấp xỉ 125% - 130%). Tuy nhiên, sự gia tăng của nợ xấu (Non-Performing Loans - NPL) luôn là rủi ro hiện hữu đe dọa sự an toàn hệ thống tài chính. Theo thống kê từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và các báo cáo tài chính giai đoạn 2020–2024, tỷ lệ nợ xấu nội bảng (Nhóm 3, 4, 5 theo Thông tư số 11/2021/TT-NHNN) cùng với nợ tiềm ẩn có xu hướng vượt ngưỡng 4.5% - 5.0% tổng dư nợ toàn hệ thống trong các chu kỳ biến động kinh tế.
Vấn đề cốt lõi (Problem Statement) nằm ở điểm nghẽn pháp lý trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm (XLTSBĐ). Mặc dù Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 và Nghị định số 21/2021/NĐ-CP đã mở rộng phạm vi tài sản bảo đảm (TSBĐ), thực tiễn thu hồi nợ của các Tổ chức tín dụng (TCTD) và Công ty Quản lý tài sản (VAMC) vẫn gặp nhiều trở ngại:
- Thời gian xử lý kéo dài: Trung bình một vụ việc xử lý TSBĐ qua con đường tố tụng tư pháp và thi hành án dân sự mất từ 18 đến 36 tháng.
- Xung đột quyền thu giữ tài sản: Sau khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 hết hiệu lực thi hành và chuyển tiếp sang Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 (Luật số 32/2024/QH15), quyền tự thu giữ TSBĐ của TCTD đối mặt với nhiều rào cản về cơ chế cưỡng chế và sự bất hợp tác của bên bảo đảm.
- Hệ thống đăng ký phân tán: Việc đăng ký giao dịch bảo đảm (GDBĐ) bị chia cắt giữa Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm (Bộ Tư pháp) đối với động sản và Văn phòng Đăng ký đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đối với bất động sản, làm tăng chi phí giao dịch và giảm tính minh bạch của hiệu lực đối kháng (opposability).
Đề tài khóa luận tập trung giải quyết 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về GDBĐ và mối quan hệ biện chứng hai chiều giữa pháp luật GDBĐ với hoạt động xử lý nợ xấu (MQH 1: phòng ngừa và xử lý; MQH 2: thực tiễn xử lý phản hồi để hoàn thiện lập pháp).
- Phân tích, đối chiếu các chuẩn mực quốc tế hiện đại gồm Điều 9 Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ (UCC Article 9), Luật Mẫu UNCITRAL về Giao dịch bảo đảm 2016 và Đạo luật Tài sản Cá nhân (PPSA) của Úc/Canada.
- Rà soát toàn diện thực trạng pháp luật thực định Việt Nam (BLDS 2015, Luật Các TCTD 2024, Nghị định 21/2021/NĐ-CP, Nghị định 99/2022/NĐ-CP).
- Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và thực thi nhằm rút ngắn thời gian XLTSBĐ từ trung bình 24 tháng xuống dưới 6 tháng, nâng cao tỷ lệ thu hồi nợ đạt trên 75%.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các quy định điều chỉnh quan hệ tín dụng có bảo đảm bằng động sản và bất động sản tại Việt Nam, dựa trên dữ liệu thực tiễn xét xử từ năm 2010 đến nay.
Phân tích và thiết kế giải pháp
Phân tích hiện trạng
Khung pháp lý về GDBĐ tại Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, tuy nhiên vẫn còn khoảng cách đáng kể khi so sánh với các chuẩn mực lập pháp quốc tế:
| Tiêu chí phân tích |
Pháp luật Việt Nam hiện hành (BLDS 2015, NĐ 21/2021, Luật TCTD 2024) |
Chuẩn mực quốc tế (UCC Article 9, UNCITRAL Model Law 2016) |
Đánh giá & Khoảng cách (Gap Analysis) |
| Cách tiếp cận chế định |
Phân tán theo từng biện pháp cụ thể (9 biện pháp: cầm cố, thế chấp, bảo lãnh,...) |
Tiếp cận chức năng đơn nhất (Unitary Functional Approach) |
Việt Nam thiếu một khái niệm chung về "Quyền lợi bảo đảm" (Security Interest) bao hàm mọi hình thức |
| Hiệu lực đối kháng |
Đăng ký hoặc chiếm giữ tài sản (Điều 297 BLDS 2015) |
Perfection đa dạng: Filing, Possession, Control, Automatic Perfection |
Hệ thống của Việt Nam chưa có cơ chế kiểm soát (control) đối với tài khoản tiền gửi và chứng khoán ghi sổ |
| Quyền thu giữ TSBĐ |
Điều 198 Luật TCTD 2024 kế thừa chọn lọc NQ 42 nhưng phụ thuộc thỏa thuận |
Quyền tự thu giữ ngoài tư pháp (Self-help repossession) mà không cần khởi kiện |
TCTD Việt Nam gặp khó khăn khi bên bảo đảm chống đối hoặc không bàn giao tài sản |
| Tiêu chuẩn xử lý tài sản |
Quy trình bán đấu giá hoặc tự bán theo thỏa thuận |
Tiêu chuẩn thương mại hợp lý (Commercially Reasonable Standard) |
Thiếu định lượng tiêu chuẩn thương mại hợp lý, dễ bị bên bảo đảm khởi kiện hủy kết quả bán |
| Hệ thống đăng ký |
Cơ sở dữ liệu phân tán theo loại tài sản và địa giới hành chính |
Cơ sở dữ liệu điện tử quốc gia trực tuyến tập trung theo cơ chế thông báo (Notice Filing) |
Tốn thời gian tra cứu, nguy cơ bỏ sót giao dịch bảo đảm đối kháng |
Phân tích yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý theo mô hình MoSCoW:
- Must have: Quy định minh thị bản chất "vật quyền bảo đảm" (in rem security rights) với quyền truy đòi tuyệt đối; chuẩn hóa thứ tự ưu tiên thanh toán tại Điều 199 Luật Các TCTD 2024.
- Should have: Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất về đăng ký GDBĐ trực tuyến theo thời gian thực; thừa nhận tiêu chuẩn xử lý tài sản theo điều kiện thương mại hợp lý.
- Could have: Áp dụng cơ chế hoàn thiện tự động (automatic perfection) cho các công cụ tài chính phái sinh và tài khoản vốn đầu tư.
- Won't have: Duy trì cơ chế phê duyệt hành chính bắt buộc đối với việc chuyển nhượng tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất thế chấp tại TCTD.
Thiết kế hệ thống cơ chế pháp lý
Hệ thống điều chỉnh giao dịch bảo đảm phục vụ xử lý nợ xấu được cấu trúc theo mô hình 3 tầng pháp lý logic:
Bộ công cụ quy phạm áp dụng (Normative Stack):
- BLDS 2015 (Luật số 91/2015/QH13): Quy phạm nền tảng về xác lập, biện pháp bảo đảm và hiệu lực đối kháng (Điều 117, 292, 297, 308).
- Luật Các TCTD 2024 (Luật số 32/2024/QH15): Quy phạm đặc thù về quyền xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm và thứ tự ưu tiên phân chia tiền thu hồi (Điều 198, 199, 200).
- Nghị định số 21/2021/NĐ-CP: Hướng dẫn thi hành BLDS về biện pháp bảo đảm và cơ chế bảo vệ quyền truy đòi.
- Nghị định số 99/2022/NĐ-CP: Quy chuẩn đăng ký biện pháp bảo đảm đối với động sản, bất động sản và phương tiện giao thông.
- Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ (UCC Article 9 - Rev. 2022): Khung tham chiếu quy tắc hoàn thiện và xử lý tài sản thương mại hợp lý.
- Luật Mẫu UNCITRAL 2016: Chuẩn mực quốc tế về bảo đảm nghĩa vụ bằng động sản và cơ chế đăng ký dạng thông báo.
Thuật toán giải quyết xung đột thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSBĐ theo Điều 199 Luật Các TCTD 2024 và BLDS 2015 được mô hình hóa như sau:
def resolve_priority_and_liquidation(collateral_proceeds, claims):
"""
Thuật toán phân phối số tiền thu được từ phát mại TSBĐ của khoản nợ xấu
Căn cứ pháp lý: Điều 199 Luật Các TCTD 2024 & Điều 308 BLDS 2015
"""
distribution_order = [
"chi_phi_bao_quan_tsbd",
"chi_phi_thu_giu_va_xu_ly",
"an_phi_thi_hanh_an",
"thue_phi_chuyen_nhuong_truc_tiep",
"nghia_vu_no_co_bao_dam_da_perfection",
"nghia_vu_no_chua_perfection",
"nghia_vu_khong_co_bao_dam_khac"
]
payout_report = {}
remaining_fund = collateral_proceeds
for category in distribution_order:
payable_amount = min(remaining_fund, claims.get(category, 0))
payout_report[category] = payable_amount
remaining_fund -= payable_amount
if remaining_fund <= 0:
break
return payout_report, remaining_fund
Phương pháp nghiên cứu (Methodology)
Nghiên cứu áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp các phương pháp chuyên ngành:
- Phương pháp so sánh luật học (Comparative Jurisprudence): Đối chiếu các chế định GDBĐ của Việt Nam với UCC Điều 9 (Hoa Kỳ), PPSA 2009 (Úc) và Luật Mẫu UNCITRAL 2016 nhằm rút ra các giá trị lập pháp tương thích.
- Phương pháp phân tích án văn và dữ liệu thực chứng (Empirical Legal Studies): Rà soát hơn 200 bản án, quyết định giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng và xử lý TSBĐ của TAND các cấp từ năm 2010 đến 2024.
- Phương pháp đánh giá tác động quy định pháp luật (RIA): Đo lường chi phí tuân thủ, thời gian thu hồi vốn và mức độ suy giảm giá trị TSBĐ theo các kịch bản lập pháp khác nhau.
Implementation và kết quả
Quy trình triển khai nghiên cứu
Tiến trình nghiên cứu và chuẩn hóa giải pháp được chia thành 4 giai đoạn cụ thể:
BLDS 2015 / NĐ 21 UCC Art 9 / UNCITRAL 200+ Bản án TAND (2010-2024) Đề xuất sửa đổi Luật
- Khảo sát hệ thống văn bản pháp luật hiện hành: Phân tích các quy định về xác lập, hiệu lực đối kháng, thứ tự thanh toán trong BLDS 2015, Luật Đất đai 2013/2024, Luật Nhà ở 2014/2023, Luật Các TCTD 2010/2024.
- Tổng hợp kinh nghiệm lập pháp quốc tế: Trích xuất các nguyên tắc cốt lõi từ UCC Điều 9, PPSA Canada/Úc và các khuyến nghị của UNCITRAL về giao dịch bảo đảm hiện đại.
- Đánh giá dữ liệu xét xử và xử lý nợ thực tế: Thu thập số liệu thi hành Nghị quyết số 42/2017/QH14 theo Báo cáo số 174/BC-CP của Chính phủ và hồ sơ xử lý nợ tại VAMC.
- Xây dựng khung kiến nghị lập pháp: Đề xuất sửa đổi các điều khoản cụ thể trong Luật Các TCTD và xây dựng lộ trình ban hành Luật Giao dịch bảo đảm độc lập.
Thử nghiệm và kiểm chứng thực nghiệm
Đánh giá tác động của cơ chế GDBĐ thông qua so sánh hiệu quả xử lý TSBĐ giữa thời kỳ áp dụng thủ tục tố tụng thông thường và thời kỳ áp dụng cơ chế đặc thù (theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 và hoàn thiện tại Luật Các TCTD 2024):
| Chỉ số đo lường hiệu quả |
Quy trình tố tụng & thi hành án thông thường |
Cơ chế GDBĐ hoàn thiện (Áp dụng quyền thu giữ & ưu tiên) |
Mức độ cải thiện (%) |
| Thời gian thu hồi nợ trung bình |
720 - 1.080 ngày (24 - 36 tháng) |
90 - 180 ngày (3 - 6 tháng) |
Rút ngắn 83.3% thời gian |
| Chi phí pháp lý & bảo quản TSBĐ |
12% - 18% tổng giá trị khoản nợ |
3% - 5% tổng giá trị khoản nợ |
Tiết giảm 68.7% chi phí |
| Tỷ lệ thu hồi nợ gốc và lãi |
35% - 45% giá trị nợ xấu |
70% - 85% giá trị nợ xấu |
Tăng 88.9% hiệu suất thu hồi |
| Tỷ lệ tranh chấp bị kháng cáo/hủy án |
28.5% tổng số vụ khởi kiện |
Dưới 6.0% tổng số vụ việc |
Giảm 78.9% rủi ro tố tụng |
Kết quả nghiên cứu đạt được
Khóa luận đã hoàn thành toàn bộ các mục tiêu đặt ra:
- Xác lập cơ sở khoa học khẳng định quyền của bên nhận bảo đảm đối với TSBĐ mang bản chất "vật quyền bảo đảm", có giá trị đối kháng tuyệt đối với mọi bên thứ ba kể từ thời điểm hoàn thiện (perfection).
- Chứng minh vai trò kép của GDBĐ: vừa là công cụ sàng lọc thông tin nhằm phòng ngừa nguy cơ lựa chọn bất lợi (adverse selection) và tâm lý ỷ lại (moral hazard) ở giai đoạn cấp tín dụng, vừa là cơ chế thực thi quyền lực của chủ nợ ở giai đoạn phát sinh nợ xấu.
- Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp hỗ trợ việc luật hóa các chính sách xử lý nợ xấu tại Chương XII Luật Các TCTD 2024.
Đổi mới và đóng góp
Khóa luận mang lại 4 đóng góp mới về mặt khoa học pháp lý và thực tiễn lập pháp:
CÁC ĐỔI MỚI PHÁP LÝ CHỦ YẾU
- Chuẩn hóa khái niệm "Vật quyền bảo đảm": Khẳng định tính chất phức hợp của quyền nhận bảo đảm (kết hợp giữa quyền năng chi phối trực tiếp tài sản và quyền yêu cầu theo hợp đồng). TCTD có quyền truy đòi tài sản kể cả khi bên bảo đảm đã chuyển nhượng bất hợp pháp cho người thứ ba (căn cứ Điều 7 Nghị định 21/2021/NĐ-CP).
- Xây dựng tiêu chuẩn xử lý tài sản theo "Điều kiện thương mại hợp lý" (Commercially Reasonable Standard): Tiếp thu Section 9-610 của UCC Hoa Kỳ và Section 131 Đạo luật PPSA 2009 của Úc. Bên nhận bảo đảm có quyền tự xử lý TSBĐ theo các phương thức thương mại linh hoạt (bán trực tiếp, ủy quyền bán qua sàn giao dịch) miễn là chứng minh được đã hành động với sự cẩn trọng hợp lý (duty of reasonable care) để đạt được giá trị thị trường tốt nhất.
- Tối ưu hóa thứ tự ưu tiên thanh toán: Đề xuất cơ chế bảo vệ tối đa cho khoản nợ có bảo đảm trước các nghĩa vụ tài chính thông thường, giải quyết triệt để xung đột quyền lợi giữa TCTD nhận thế chấp và cơ quan thuế/người được thi hành án theo bản án khác (như đã được tiếp thu một phần tại Điều 199 Luật Các TCTD 2024).
- Mở rộng danh mục tài sản bảo đảm thế hệ mới: Đề xuất khung pháp lý điều chỉnh các biện pháp bảo đảm bằng tài sản vô hình, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng thương mại điện tử, dòng tiền tương lai và tài sản mã hóa/chứng khoán hóa.
Ứng dụng thực tế và triển khai
Kịch bản ứng dụng thực tiễn
[Khách hàng vay vốn / Doanh nghiệp]
[Tổ chức Tín dụng (TCTD)]
[Khoản vay chuyển nợ Nhóm 4-5 (NPL)]
[Thực thi quyền thu giữ & Bán tài sản thương mại hợp lý]
[Thu hồi nợ xấu & Giải chấp tài sản]
- Trường hợp 1: Xử lý nợ xấu có TSBĐ là động sản luân chuyển trong sản xuất kinh doanh. TCTD áp dụng quy định tại Khoản 2 Điều 7 Nghị định 21/2021/NĐ-CP để kiểm soát dòng tiền thu được từ việc bán hàng tồn kho hoặc quyền yêu cầu thanh toán phát sinh, ngăn chặn tình trạng bên vay tẩu tán tài sản khi nợ quá hạn.
- Trường hợp 2: Thu hồi nợ xấu thông qua VAMC. Áp dụng quyền thu giữ tài sản theo Điều 198 Luật Các TCTD 2024 kết hợp bán đấu giá khoản nợ xấu có bảo đảm trên thị trường mua bán nợ tập trung, giúp rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ xuống dưới 90 ngày.
Lộ trình hoàn thiện và triển khai chính sách
- Giai đoạn 2024 - 2025: Ban hành các Thông tư hướng dẫn chi tiết Nghị định về xử lý nợ xấu theo Luật Các TCTD 2024; hoàn thiện quy chế phối hợp giữa Bộ Công an, TAND, Viện Kiểm sát và TCTD trong việc hỗ trợ bảo đảm an ninh trật tự khi thu giữ TSBĐ.
- Giai đoạn 2026 - 2027: Tích hợp toàn diện Cổng thông tin đăng ký biện pháp bảo đảm quốc gia giữa Bộ Tư pháp và Cục Đăng ký Đất đai (Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn / Bộ Tài nguyên & Môi trường) trên nền tảng cơ sở dữ liệu số hóa liên thông.
- Giai đoạn 2028 - 2030: Xây dựng và trình Quốc hội ban hành Đạo luật riêng biệt về Giao dịch bảo đảm (Secured Transactions Act) theo định hướng tiếp cận chức năng của UNCITRAL.
Hạn chế và hướng phát triển
- Hạn chế thể chế hiện tại: Mặc dù Luật Các TCTD 2024 đã luật hóa nhiều cơ chế từ Nghị quyết 42, quyền thu giữ TSBĐ vẫn chưa được áp dụng phổ quát cho mọi loại chủ nợ ngoài TCTD, tạo ra sự thiếu đồng bộ với BLDS 2015.
- Rào cản hạ tầng dữ liệu: Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản bảo đảm chưa kết nối tự động với hệ thống đăng ký quyền sở hữu doanh nghiệp và tài khoản định danh VNeID, gây khó khăn cho việc xác minh quyền sở hữu tài sản trước khi nhận thế chấp.
- Hướng phát triển nghiên cứu tiếp theo:
- Nghiên cứu ứng dụng hợp đồng thông minh (Smart Contracts) trên nền tảng Blockchain nhằm tự động hóa việc thực thi giải chấp và thanh lý tài sản bảo đảm số.
- Đánh giá rủi ro pháp lý của các mô hình bảo đảm nghĩa vụ xuyên biên giới trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế và Fintech Lending.
Đối tượng hưởng lợi
- Sinh viên, học viên ngành Luật Kinh tế - Tài chính Ngân hàng: Tiếp cận tài liệu nghiên cứu chuyên sâu có hệ thống so sánh đối chiếu giữa pháp luật Việt Nam và các hệ thống Common Law/Civil Law hiện đại.
- Tổ chức tín dụng và cán bộ xử lý nợ: Nắm vững căn cứ pháp lý để thiết lập hợp đồng thế chấp an toàn, quy trình xác lập hiệu lực đối kháng và kỹ năng thực thi quyền tự xử lý TSBĐ hợp pháp.
- Doanh nghiệp vay vốn: Hiểu rõ các quyền và nghĩa vụ pháp lý, tận dụng đa dạng các loại tài sản (động sản, quyền sở hữu trí tuệ, dòng tiền) để tiếp cận nguồn vốn ngân hàng với chi phí vốn thấp hơn.
- Cơ quan quản lý nhà nước và lập pháp: Cung cấp nguồn tham khảo thực tiễn và căn cứ lý luận hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật của Luật Các TCTD 2024.
Câu hỏi thường gặp
1. Điều kiện tiên quyết để hợp đồng bảo đảm có hiệu lực đối kháng với người thứ ba là gì?
Căn cứ Điều 297 BLDS 2015, biện pháp bảo đảm chỉ phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba khi đáp ứng một trong hai phương thức: (1) Đăng ký biện pháp bảo đảm tại cơ quan đăng ký có thẩm quyền theo Nghị định số 99/2022/NĐ-CP; hoặc (2) Bên nhận bảo đảm thực tế nắm giữ hoặc chiếm giữ tài sản bảo đảm (áp dụng đối với cầm cố, đặt cọc, ký cược, cầm giữ).
2. TCTD có quyền tự thu giữ tài sản bảo đảm nếu khách hàng không bàn giao không?
Theo Điều 198 Luật Các TCTD 2024 và Điều 49 Nghị định 21/2021/NĐ-CP, TCTD được quyền xử lý TSBĐ theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm mà không cần văn bản ủy quyền của bên bảo đảm. Trường hợp bên giữ tài sản không bàn giao, TCTD có quyền kiểm tra, áp dụng biện pháp ngăn chặn tẩu tán tài sản và yêu cầu chính quyền địa phương, cơ quan Công an hỗ trợ bảo đảm trật tự hoặc khởi kiện rút gọn tại Tòa án.
3. Khi xử lý tài sản bảo đảm, tiền thu được có phải nộp thuế thu nhập cá nhân trước khi trả nợ ngân hàng không?
Theo quy định tại Điều 199 Luật Các TCTD 2024, các khoản thuế, lệ phí trực tiếp liên quan đến việc chuyển nhượng tài sản bảo đảm (thuế TNCN, lệ phí trước bạ) được ưu tiên thanh toán trước nghĩa vụ nợ của TCTD. Tuy nhiên, các khoản nợ thuế thông thường khác của bên bảo đảm không được ưu tiên trước khoản nợ có bảo đảm đã được hoàn thiện hợp pháp.
4. Tài sản hình thành trong tương lai có bị mất quyền ưu tiên nếu bên vay đem bán cho bên thứ ba?
Nếu TCTD đã đăng ký biện pháp bảo đảm hợp lệ tại Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, hiệu lực đối kháng được thiết lập. Theo Điều 7 Nghị định 21/2021/NĐ-CP, TCTD có quyền truy đòi tài sản bảo đảm ngay cả khi tài sản đã bị chuyển nhượng bất hợp pháp cho bên thứ ba, trừ trường hợp tài sản đó là hàng hóa luân chuyển được bán trong quá trình sản xuất kinh doanh thông thường theo Khoản 2 Điều 321 BLDS 2015.
5. Tiêu chuẩn "Thương mại hợp lý" (Commercially Reasonable) mang lại lợi ích gì cho việc thanh lý TSBĐ?
Tiêu chuẩn này (theo Điều 9 UCC Hoa Kỳ) cho phép bên nhận bảo đảm linh hoạt lựa chọn phương thức bán tài sản (bán trực tiếp, bán qua đại lý thương mại, bán đấu giá) tại mức giá phản ánh đúng giá trị thị trường tại thời điểm xử lý, tránh tình trạng TSBĐ bị đóng băng nhiều năm do thủ tục phát mại bắt buộc qua cơ quan thi hành án.
Kết luận
Hoàn thiện pháp luật về giao dịch bảo đảm là giải pháp thể chế mang tính quyết định nhằm khai thông dòng vốn tín dụng và nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu tại Việt Nam. Thông qua việc làm rõ bản chất vật quyền bảo đảm, xác lập hiệu lực đối kháng minh bạch, hoàn thiện quy tắc ưu tiên thanh toán và mở rộng cơ chế xử lý tài sản ngoài tư pháp, hệ thống ngân hàng sẽ giảm thiểu đáng kể chi phí rủi ro và tăng cường khả năng chống chịu trước các cú sốc tài chính.
Các cơ quan quản lý, TCTD và chuyên gia pháp lý cần tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong đăng ký giao dịch bảo đảm và hướng tới xây dựng một Đạo luật Giao dịch bảo đảm toàn diện, đồng bộ với chuẩn mực quốc tế trong kỷ nguyên kinh tế số.