Chương I, tác giả đã có những cơ sở để phân tích rõ hơn các quy định pháp luật Việt Nam về xử lý nợ xấu, qua thực tiễn tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam trong Chương 2 của luận văn. 18 Chương 2 CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ VIỆT NAM 2. Các quy định pháp luật Việt Nam về xử lý nợ xấu của NHTM 2. Chủ thể xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại Xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm của quá trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng từ trước đến nay.
Bên cạnh các yếu tố thị trường chi phối chủ yếu đến các giao dịch cần phát huy tối đa vai trò chủ đạo của Nhà nước để định hướng, dẫn dắt và điều chỉnh thị trường nợ xấu có hiệu quả cao nhất. Chủ thể xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại chủ yếu là DATC, VAMC và các AMC của TCTD. Ngoài ra, TCTD cũng có thể thành phập các trung tâm, phòng ban chuyên trách phục vụ công tác xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn có hạn, nên tác giả chỉ đi sâu vào phân tích các chức năng, nhiệm vụ, quy định pháp luật của VAMC.
Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng là một hiện tượng phổ biến của các ngân hàng thương mại trên thế giới và vấn đề là cần xác định độ lớn của khoản nợ, nguyên nhân xuất hiện, mức độ biến động và phương thức xử lý. Điều kiện tiên quyết là cần xác định chính xác các khoản nợ, chủ nợ, con nợ, các cam kết để hiểu rõ địa chỉ của khoản nợ và chủ sở hữu khoản nợ, các tổ chức và cá nhân liên đới. Đối với các khoản nợ của cá nhân hoặc doanh nghiệp, tổ chức với ngân hàng không có yếu tố ngân sách nhà nước trực tiếp, có thể xử lý thông qua Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC). Do tính chất quốc gia của các khoản nợ và liên quan 19 đến tài sản của dân cư và tài sản quốc gia, cơ chế mua - bán cần phải thận trọng và việc mua - bán nợ phải trên nguyên tắc công khai, giảm thiểu những đổ vỡ của hệ thống cũng như thất thoát tài sản.
Công ty VAMC có hai chức năng cơ bản là mua nợ và bán nợ mà mô hình này đã được Hoa Kỳ áp dụng thành công. Các khoản nợ được mua giá rẻ trong điều kiện kinh tế suy thoái và bán lại với giá cao đã làm lợi cho ngân sách liên bang hàng trăm tỷ đô la và không bị nước ngoài thâu tóm. [10] Mô hình VAMC là phương thức phù hợp để thay đổi chủ sở hữu khoản nợ xấu thông qua mua - bán, có thể áp dụng có hiệu quả tại Việt Nam nhưng cần tính đến các khía cạnh sau: Thứ nhất, việc thành lập Công ty VAMC để xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam là một bước tiến quan trọng về nhận thức và hành động xử lý các khoản nợ xấu theo các nguyên tắc thị trường. Đây là mô hình lần đầu tiên áp dụng tại Việt Nam và tạo nền tảng quan trọng để vận hành lâu dài.
Đây là cách thức để “cứu” hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp một cách công khai. Đây cũng là cách thức để Chính phủ quản lý dòng di chuyển của các khoản nợ và theo đó, giám sát, theo dõi và quản lý các khoản nợ và tài sản của các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức và tài sản quốc gia. Thứ hai, VAMC là một doanh nghiệp nhà nước cho nên cần nhân danh Nhà nước để thực hiện việc mua - bán nợ kể cả nợ công, nợ tư nhân thậm chí cả các khoản nợ nước ngoài tư nhân. Công ty chịu sự quản lý trực tiếp của Chính phủ để có thể kết nối với cả hệ thống ngân hàng, ngân sách nhà nước, doanh nghiệp thuộc các thành phần và các giao dịch có yếu tố nước ngoài cũng như các cơ quan bảo vệ pháp luật.
Thứ ba, việc mua - bán tiến hành công khai và tự nguyện hoàn toàn theo nguyên tắc thị trường. Các chủ nợ và con nợ sau khi không thể thoả thuận được các điều kiện để dàn xếp các khoản nợ, có thể bán khoản nợ này cho VAMC. Điều này nhằm giảm thiểu tính chất mệnh lệnh của việc xử lý nợ và tăng khả năng tự 20 chủ, tự chịu trách nhiệm của chủ nợ và con nợ. Chẳng hạn, các khoản nợ có tài sản đảm bảo có thể bán lại cho VAMC theo mức giá thị trường tại thời điểm giao dịch và Công ty VAMC có thể tiến hành phát mại tài sản, thu lại khoản nợ vào ngân sách nhà nước.
Cho nên việc Nhà nước sử dụng tiền ngân sách mua lại nợ và bán lại để thu về cũng là một cách thức phát huy vai trò của Nhà nước. Nếu cực đoan khẳng định tuyệt đối không sử dụng ngân sách nhà nước vào công việc này thì mô hình sẽ khô vận hành trong giai đoạn đầu thành lập và hoạt động. Các khoản nợ bị lỗ, có thể sử dụng phương thức đấu giá bán nợ để giảm thiểu khoản lỗ và hạn chế khoản hỗ trợ từ ngân sách. Các khoản nợ bất động sản có thể giải quyết thông qua cơ chế mua - bán, cho thuê, góp vốn hoặc phá sản có thông qua VAMC hoặc không.
Thứ tư, việc tham gia của nhà đầu tư nước ngoài cần thận trọng, đặc biệt là trong thời điểm giá tài sản đang xuống rất thấp, có thể không cho phép người nước ngoài tham gia để hạn chế đến mức cao nhất việc thất thoát tài sản quốc gia và cá nhân, tổ chức Việt Nam, đặc biệt là ngân hàng và các tổ chức tín dụng, cũng như dữ liệu về khách hàng vào tay nước ngoài. Khi cơ chế thử nghiệm VAMC đã thuần thục, có thể vươn ra thị trường nước ngoài, có thể cho phép người nước ngoài tham gia mua bán nợ theo mô hình AMC. Thậm chí cho phép các cá nhân, tổ chức thành lập các AMC để mua - bán nợ như là những định chế tài chính trung gian tham gia vào phân đoạn thị trường nợ xấu. Thứ năm, các khoản nợ xấu khác nếu không tham gia cơ chế AMC, các bên sẽ tự thoả thuận giải quyết theo cơ chế quan hệ dân sự thông thường và nếu có những yếu tố hình sự cấu thành thì thực hiện truy cứu trách nhiệm hình sự với sự vào cuộc của các cơ quan bảo vệ pháp luật.
Nhưng đây nên được coi là lựa chọn cuối cùng khi vẫn còn các khả năng áp dụng các giải pháp khác. VAMC là một trong những công cụ đặc biệt của nhà nước nhằm góp phần xử lý nhanh nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính, giảm thiểu rủi ro cho các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hợp lý nền kinh 21 tế. VAMC hoạt động theo nguyên tắc lấy thu bù chi, không vì mục tiêu lợi nhuận; công khai, minh bạch; hạn chế rủi ro và chi phí trong xử lý nợ xấu. Các ngân hàng sẽ “chuyển giao” giá trị sổ sách nợ xấu sang VAMC.
Đổi lại VAMC sẽ phát hành trái phiếu đặc biệt với lãi suất thấp cho ngân hàng. Theo điều 12 Nghị định 53/2013NĐ-CP [4] quy định công ty quản lý tài sản được thực hiện theo các hoạt động sau: “a) Mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng; b) Thu hồi nợ, đòi nợ và xử lý, bán nợ, tài sản bảo đảm; c) Cơ cấu lại khoản nợ, điều chỉnh điều kiện trả nợ, chuyển nợ thành vốn góp, vốn cổ phần của khách hàng vay; d) Đầu tư, sửa chữa, nâng cấp, khai thác, sử dụng, cho thuê tài sản bảo đảm đã được công ty quản lý tài sản thu nợ; đ) Quản lý khoản nợ xấu đã mua và kiểm tra, giám sát tài sản bảo đảm có liên quan đến khoản nợ xấu, bao gồm cả tài liệu, hồ sơ liên quan đến khoản nợ xấu và bảo đảm tiền vay; e) Tư vấn, môi giới mua, bán nợ và tài sản; g) Đầu tư tài chính, góp vốn, mua cổ phần; h) Tổ chức bán đấu giá tài sản; i) Bảo lãnh cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân vay vốn của tổ chức tín dụng; k) Hoạt động khác phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của công ty quản lý tài sản sau khi được thống đốc ngân hàng nhà nước cho phép”. Ngoài ra công ty quản lý tài sản được ủy quyền cho tổ chức tín dụng bán nợ thực hiện các hoạt động được quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 1 điều 12 Nghị định 53/2013NĐ-CP. Theo điều 17, 18, 19 Nghị định 53/2013NĐ-CP quy định công ty tài sản sẽ xử lý các khoản nợ xấu như: Cơ cấu lại nợ xấu, xử lý tài sản đảm bảo công ty đã mua, xử lý tiền thu hồi những khoản nợ được mua bằng trái phiếu đặc biệt 22 với từng biện pháp, cụ thể như sau: Tại điều 17 Nghị định 53/2013NĐ-CP này quy định biện pháp cơ cấu lại nợ xấu, hỗ trợ khách hàng vay của công ty quản lý tài sản như sau: “1.
Công ty quản lý tài sản thực hiện các biện pháp cơ cấu lại nợ nhằm hỗ trợ khách hàng vay sau đây: a) Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, thời hạn trả nợ phù hợp với điều kiện sản xuất, kinh doanh của khách hàng vay; b) Áp dụng lãi suất của khoản nợ đã mua phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng vay và điều kiện thị trường; c) Giảm một phần hoặc miễn toàn bộ số lãi đã quá hạn thanh toán mà khách hàng vay chưa có khả năng trả nợ. Ngân hàng nhà nước hướng dẫn cụ thể việc cơ cấu lại nợ của công ty quản lý tài sản quy định tại khoản 1 điều này. Trong trường hợp đánh giá khách hàng vay có khả năng phục hồi tốt, công ty quản lý tài sản xem xét, đầu tư, cung cấp tài chính để hỗ trợ khách hàng vay xử lý khó khăn tài chính tạm thời và phục hồi sản xuất kinh doanh. Công ty quản lý tài sản thực hiện bảo lãnh cho khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng trong trường hợp đánh giá khách hàng có khả năng phục hồi tốt hoặc có dự án mới có hiệu quả đảm bảo trả được nợ vay”.
Hoạt động mua bán nợ xấu 2.