phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, các dạng bảng biểu, sơ đồ, phụ lục luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng nhƣ sau, gồm: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về nợ xấu và xử lý nợ xấu tại các NHTM Chƣơng 2: Thực trạng nợ xấu và xử lý nợ xấu tại NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng xử lý nợ xấu tại NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội. 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỢ XẤU VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Hoạt động của ngân hàng thƣơng mại Ở Việt Nam theo định nghĩa ở luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 thì “Ngân hàng thƣơng mại là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Hệ thống Ngân hàng đƣợc ví nhƣ huyết mạch của nền kinh tế. Điều đó đƣợc thể hiện thông qua một số hoạt động cơ bản của NHTM: - Huy động vốn: là hoạt động nhận tiền của cá nhân, tổ chức dƣới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho ngƣời gửi tiền theo thoả thuận. Đây là hoạt động tạo nguồn vốn chủ lực cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại. - Cấp tín dụng: là việc thỏa thuận để cá nhân, tổ chức sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Việc áp dụng hình thức cho vay nào là tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế của đối tƣợng sử dụng vốn tín dụng nhằm sử dụng và quản lý vốn tín dụng có hiệu quả và phù hợp với sự vận động cũng nhƣ đặc điểm kinh tế khác nhau của đối tƣợng tín dụng. - Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: NHTM cung ứng phƣơng tiện thanh 8 toán; thực hiện các dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thƣ tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng. Ngoài ra NHTM còn thực hiện các dịch vụ ngân quỹ là dịch vụ thu phát tiền mặt cho khách hàng, đồng thời tổ chức và tham gia các hệ thống thanh toán nội bộ và hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nƣớc và quốc tế. Hoạt động này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán, đồng thời tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng.
- Các hoạt động khác: NHTM ngoài các hoạt động cơ bản trên còn thực hiện các hoạt động khác nhƣ Góp vốn đầu tƣ, mua cổ phần của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác, tham gia thị trƣờng tiền tệ, Hoạt động ủy thác và đại lý Hoạt động kinh doanh bảo hiểm Kinh doanh dịch vụ chứng khoán Các hoạt động khác nhƣ bảo quản hiện vật quý hiếm, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khách theo quy định của pháp luật. Hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại Theo thông tƣ số 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nƣớc ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016, “cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Hoạt động cho vay đi kèm với các rủi ro trong hoạt động tín dụng nên bản thân các ngân hàng đƣợc sử dụng các biện pháp đảm bảo tài sản từ các đối tƣợng vay nhƣ: Thế chấp, cầm cố, bảo lãnh… và trích lập quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp các khoản cho vay không thu đƣợc nợ. Trên thực tế việc phân loại cho vay theo các tiêu thức sau: a.
Phân theo mục đích sử dụng vốn: - Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh 9 - Cho vay tiêu dùng cá nhân - Cho vay bất động sản - Cho vay nông nghiệp - Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu b. Phân loại theo thời hạn tín dụng - Cho vay ngắn hạn: Những khoản cho vay có kỳ hạn tối đa đến 12 tháng, đƣợc xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng. - Cho vay trung dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 1 năm. Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tƣ vào tài sản cố định, đầu tƣ vào các dự án đầu tƣ c.
Phân loại theo hình thức bảo đảm - Cho vay không có bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của ngƣời thứ ba, việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. - Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay nhƣ thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác. Phân loại theo phương thức cho vay - Cho vay từng lần - Cho vay theo dự án đầu tƣ - Cho vay hợp vốn - Cho vay trả góp - Cho vay theo hạn mức tín dụng - Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng - Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng - Cho vay theo hạn mức thấu chi e. Phân loại theo hình thái giá trị của tín dụng 10 - Tín dụng bằng tiền là loại hình tín dụng đƣợc cung cấp bằng tiền.
Đây là hình thức cấp tín dụng chủ yếu của ngân hàng. - Tín dụng bằng tài sản là hình thức cho vay bằng tài sản mà điển hình nhất là cho thuê tài chính. VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA NỢ XẤU TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm nợ xấu Định nghĩa về nợ xấu đã đƣợc quỹ tiền tệ quốc tế thế giới IMF (International Moneytary Fund) đƣa ra nhƣ sau: “Một khoản cho vay đƣợc coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên; hoặc các khoản thanh toán lãi đã đến 90 ngày hoặc hơn đã đƣợc tái cơ cấu hay gia hạn nợ; hoặc các khoản thanh toán dƣới 90 ngày nhƣng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ đƣợc thực đầy đủ”.
Tại Việt Nam, quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN quy định “nợ xấu là những khoản nợ đƣợc phân loại vào nhóm 3 (Nợ dƣới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ), nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn)”. Quyết định đƣa ra cách phân loại nhóm nợ theo hai phƣơng pháp định lƣợng và định tính. Trên thực tế, ở Việt Nam, các TCTD chủ yếu phân loại nhóm nợ theo yếu tố định lƣợng. Cách phân loại các nhóm nợ 3, 4 và 5 theo yếu tố định lƣợng đƣợc chỉ ra cụ thể nhƣ sau: “Nhóm 3 (Nợ dƣới tiêu chuẩn) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dƣới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại; - Các khoản nợ khác đƣợc phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này.
d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: 11 - Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại; - Các khoản nợ khác đƣợc phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này. đ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; - Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý. - Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã đƣợc cơ cấu lại; - Các khoản nợ khác đƣợc phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này.” Để đáp ứng yêu cầu của việc quản lý nhà nƣớc và đảm bảo tiến gần với thông lệ quốc tế, ngày 27/05/2013, NHNN đã ban hành Thông tƣ 02/2013/TT-NHNN sửa đổi bổ sung quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN (Thông tƣ 02). Thông tƣ 02 có một số tiêu chí khắt khe hơn trong việc phân loại nợ: “(i) Các khoản nợ bị gia hạn nợ lần đầu sẽ đƣợc đƣa vào nợ nhóm 3 thuộc nhóm nợ xấu; (ii) Nợ đƣợc miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng cũng đƣợc đƣa vào nhóm nợ xấu; (iii) Đƣa các khoản tín dụng cho các tổ chức, cá nhân thuộc đối tƣợng bị hạn chế tín dụng vào nhóm 3 - “nợ dƣới tiêu chuẩn”; (iv) Những khoản cho vay cầm cố cổ phiếu của các TCTD hoặc các công ty con của TCTD này để góp vốn vào TCTD khác trong hệ thống các ngân hàng thƣơng mại cũng đƣợc liệt kê vào nhóm nợ xấu; 12 (v) Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết mà TCTD đang nắm quyền kiểm soát có giá trị vƣợt các tỷ lệ giới hạn theo quy định của pháp luật cũng đƣợc xếp vào nợ xấu”.
Với Thông tƣ 02/2013, các TCTD sẽ phải phân loại nợ dựa vào các tiêu chí phân loại nợ đƣợc đƣa ra bởi Trung tâm Thông tin tín dụng (CIC) của NHNN. CIC sẽ phân loại nợ cho khách hàng dựa trên chuẩn phân loại nợ cao nhất do các TCTD báo cáo, theo đó toàn bộ số dƣ nợ và giá trị các cam kết ngoại bảng của một khách hàng phải đƣợc phân loại vào cùng một nhóm nợ và xếp vào nhóm có mức độ rủi ro cao hơn. Nhƣ vậy, ta có thể hiểu khái quát nợ xấu là các khoản nợ mà khách hàng không trả gốc và lãi đúng hạn hoặc không trả nợ nhƣ đã cam kết dẫn đến thiệt hại cho ngân hàng. Nguyên nhân gây ra nợ xấu 1.
Nhóm nguyên nhân khách quan Thứ nhất, sự bất ổn chính trị - kinh tế thế giới cũng nhƣ khủng hoảng trên thị trƣờng tài chính tiền tệ toàn cầu gây rủi ro rất lớn trong hoạt động sản xuất kinh doanh trong nƣớc.