CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. GIÁO DỤC THỂ CHẤT HỌC SINH, MỘT BO PHAN CUA HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DAN. Hệ thống giáo dục thể chất là một thể thống nhất của những cơ sở tư tưởng, phương pháp khoa học trong giáo dục thể chất, Đồng thời đó cũng là su thống nhất giữa những tổ chức và cơ quan có trách nhiệm thực hiện, kiểm tra đôn đốc việc giáo dục thể chất đối với mọi người công dân, đặc biệt đối với hệ thống giáo dục thể chất trong nhà trường — đó là nên tang của Thể Dục Thể Thao toàn dan, Sự phát triển thể chất phụ thuộc vào các quy luật tự nhiên, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng đời sống vật chất con người qua những diéu kiện lịch sử xã hội phát triển và cũng luôn luôn biến đổi theo một xu hướng nhất định thông qua chức nang của giáo dục thể chất. Giáo dục thể chất là phạm trù vĩnh cửu, nó được hình thành, phát triển và tổn tại cùng với lịch sử phát triển của xã hội loài người, Bản chất của giáo dục thé chất là một phương tiện có hiệu quả phục vụ xã hội, có khả năng từng bước nâng cao thể lực, thực thi ngăn chặn tình trạng sa sút về sức khoẻ con người, đặc biệt là thế hệ trẻ, đồng thời còn có tác dụng mạnh mẽ đến quá trình phat triển thin kinh, tinh than của mỗi con người.
Ngày nay xã hội chuyển sang thời kì phát triển mới, Dang và Nhà Nước rất quan tim đến việc chăm lo sức khoẻ của nhân dân: “Sw cường trắng về thể chất là nhu cầu của bản thân con người đồng thời là vốn quý để tạo ra tài sẵn trí tuệ và vật chất cho xã hội”. Thể chất của từng thé hệ, sức khoẻ của cả dân tộc là tài sản quý giá của đất nước. Việc giáo dục thể chất, chim sóc sức khoẻ của mỗi người dân, đặc biệt là lớp người trẻ (học sinh, sinh viên) là sự nghiệp cao quý của Dang và Nhà Nước ta. Năm 1992, quyền giữ gìn sức khoẻ, tăng cường thể chất, phát triển toàn diện mỗi học sinh, sinh viên đã được ghi vào điều 41 Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam “.
guy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học". Vị trí và tác dụng của giáo dục thể chất rất lớn, nó không chỉ đem lại sức khỏe cho học sinh- sinh viên mà còn góp phan đào tao con người nhát triển toần diện, cho nên giáo dục thể chất không thể thiếu trong trường học. Vì vậy, giáo dục thể chất trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhằm đào tạo con người phát triển toàn diện. Vấn để đặt ra đối với ngành Thể Dục Thể Thao cũng như ngành giáo duc nước ta là phải làm sao để nang cao chất lượng giáo dục thể chất trong nhà trường.
Qua 10 năm thực hiện chỉ thị 36CT/TW ngày 24/3/1994 của Ban Bi thư Trung Ương Đảng về công tác thể dục thể thao trong giai đoạn mới: *Thực hiện giáo dục thể chất trong tất cả các trường học, làm cho việc tận luyện Thể Dục Thể Thao trở thành nếp sống hàng ngày của học sinh. Ở nước ta, lĩnh vực giáo dục thể chất trong trường học được khá nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Các nhà khoa học, nhà sư phạm đã dành không ít thời gian để hoàn thiện nội dung, chương trình giảng dạy thể dục đối với học sinh như: Trần Đẳng Lâm, Trịnh Trung Hiếu, Vũ Huyến 1978 - 1985, Lê Van Lẩm. Hệ thống giáo dục thể chất trong nhà trường ở nước ta nổi bật các đặc tính: mục đích, nhân dan và khoa học.Từ lớn 10 đến lớp 12, nội dung chương trình chủ yếu là thể dục, điển kinh và một số môn tự chọn.
Đổi với môn học tự chọn, căn cứ vào điều kiện thực tiễn ở địa phương và ở từng trường, gián viên sẽ tự chọn và thực hiện giảng dạy. Từng học kỳ có kiểm tra một trong các môn học trong chương trình. Hàng năm tổ chức kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho từng bậc học. Các trường đều phải tổ chức Hội Khoẻ Phù Đổng cip cơ sở, tham gia thi đấu Hội Khoé Phù Đổng cấp quận (huyện), tỉnh, thành và toàn quốc.
Giáo dục thể chất trong nhà trường có những nhiệm vụ cơ ban: truyền thụ cho học sinh các kiến thức, kỹ năng cơ bản về Thể Dục Thể Thao và vệ sinh sức khoẻ; nâng cao trình độ, tăng cường thể chất cho học sinh; thúc đẩy học sinh phát triển chung và phat triển đặc thù; tiến hành giáo dục tư tưởng và bồi dưỡng phẩm chất, ý chi. Dé đạt được diéu đó thì giáo viên thể thao đóng vai trò hướng dẫn, chỉ đạo còn học sinh đóng vai trò chủ đạo. Vai trò hướng dẫn, chỉ đạo của giáo viên đuợc tiến hành dựa trên đặc điểm giải phẩu - sinh lí, đặc điểm tam lí và tố chất thể lực của từng lứa tuổi học sinh. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẨU - SINH LÍ, TÂM LÝ LỨA TUỔI HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở lứa tuổi này cơ thể các em đã phát triển tương đối hoàn chỉnh các bộ phận vẫn tiếp tục lớn lên, nhưng chậm dẫn.
Chức năng sinh lí đã tương đối ổn định, khả năng hoạt động của các cơ quan, bộ phận của cơ thể cũng được nang cao hơn. Ở trung học cơ sở, cơ thể các em phát triển theo chiều cao nhiều hơn, nhưng khi đến tuổi trung học phổ thông lại phát triển theo chiểu ngang nhiều hơn; tuy chiều cao vẫn phat triển, nhưng chậm dẫn. Nam, nữ học sinh ở trung học cơ sở đã bat đầu phát triển theo hai hướng hoạt động sinh lí khác nhau, khi lên trung học phổ thông sự khác nhau ấy cằng rõ rệt: về tâm vóc, sức chịu đựng và tâm lí. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU - SINH LÝ 2.
Hệ thần kinh: các tổ chức thần kinh của lứa tuổi này đang tiếp tục phát triển để đi đến hoàn thiện. Tuy nhiên tổng khối lượng của võ não không tăng mấy, chủ yếu cấu tạo bên trong vỏ não phức tạp hơn, khả năng tư duy, nhất là khả năng phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá phát triển rất thuận lợi cho sự hình thành phan xạ có điều kiện. Hệ vận động: Xương: Xương hắt đầu giảm tốc độ phát triển, các xương nhỏ như xương cổ tay, bàn tay đã kết thành xương nên có thể tập các bài tập nặng. Cột sống đã ổn định hình dáng, tuy nhiên vẫn phải chú ý các bài tập rèn luyện tư thế, Xương chậu của nữ to và yếu hơn nam, bị chấn động mạnh dễ ảnh hưởng đến các cơ quan nằm trong khung chậu như dạ con, buồng trứng.
Cơ: Đặc điểm cơ bap lứa tuổi này là cơ co vẫn còn tương đối yếu, các bắp cơ lớn phát triển tương đối nhanh (như cơ đùi, cơ cánh tay), còn các cd nhỏ như các cơ bàn tay, ngón tay, cic cơ xoay ngoài, xoay trong phat triển chậm hơn. Các cơ co phát triển sớm như các cơ duỗi, nhất là cơ duỗi của nữ lại càng yếu hơn. Đặc biệt các tổ chức mỡ dưới da các em nữ phát triển mạnh, do đó phẩn nào ảnh hưởng đến sức mạnh cơ thể. Hệ tuần hoàn: hệ tuần hoần đang phát triển và hoàn thiện.
Tim của nam mỗi phút đập 70 -80 lẫn, của nữ 75 - 85 lan, cung cấp số lượng máu gắn tương đương với người trưởng thành. Hệ hô hấp: tan số thở giống như người lớn khoảng 10 — 20 lin / phút. Tuy nhiên các cơ của cơ thể vẫn còn yếu, sức co giãn của ling ngực ít. Chú ý rèn luyện để cho các cơ ngực, cơ lườn, cơ mình phat triển, nên tap hít thở su.
Từ đặc điểm nêu trên, trong giáo dục thể dục thao cẩn thay đổi nhiều hình thức tập luyện, tránh các bài tập đơn điệu dé làm cho học sinh mệt moi, tăng cdc bài tập thi đấu, trò chơi để rèn luyện sức mạnh, sức bến đẳng thời chú ý các bài tập để các cơ ban tay, bắp tay, cơ xoay trong, xoay ngoài được phát triển. Đối với nữ cin có yêu cẩu riêng biệt, tính chất động tác của nữ cẩn toần diện, mang tính chất mềm dẻo, nhịp điệu và khéo léo. Những động tác ấy rất phù hợp với tâm lí của nữ là thích cái đẹp, mềm mại, nhịp nhàng. ĐẶC DIEM TÂM LÍ: Ở lứa tuổi này các em đã có một trình độ phát triển nhất định của tư duy lí luận, khả năng khái quát tổng hợp, đồng thời phải có khả nang tự phân tích, tự rút ra các kết luận.
Xu hướng tâm lý học tập của học sinh trở nên có ý thức hơn nhiều, nhu cau sự tích luỹ và mở rộng tri thức ngày càng tăng. Bặng cơ học tap mang tính thực tiễn và đã có sự phân hóa ro rệt. Ở đa số học sinh có sự phân hoá đối với các môn học: tích cực ở những môn các em cho là quan trọng đối với nghé nghiệp đã chọn, lơ là đối với những môn khác, Cũng có một số em học cẩm chừng. Do sự hoàn thiện về cấu trúc và chức năng của hệ than kinh trung ương và các chức năng, do sự tích luỹ kinh nghiệm sống, tri thức và do yêu cầu ngày càng cao của hoạt động học tập, lao động mà kha năng nhận thức và trí tuệ của thanh niên học sinh tăng lên một cách đáng kể: + Độ nhạy cảm của cảm giác và tri giác đạt mức cao nhất, khả nẵng quan sắt trở nên có mục đích rõ rằng, hệ thống và toàn diện hơn.
Các em có khả năng điểu khiển hoạt động quan sắt của mình đến từng chỉ tiết của đối tượng. + Chú ý có chủ định được tăng mạnh, học sinh có khả năng tập trung chú ý vào những vấn để mà các em không có hứng thú trực tiếp nhưng nhận thức được ¥ nghĩa của nó, năng lực phân phối và di chuyển chú ý phát triển mạnh. + Khả năng ghi nhớ rất tốt hởi lẽ trí nhđ máy móc còn nguyên, đẳng thời trí nhớ ý nghĩa, trí nhớ logic phát triển mạnh, biết cách áp dụng các biện pháp để ghi nhớ, đẳng thời ở lứa tuổi này xuất hiện hiện tượng: đánh giá không đúng vai trò của Gn tập, nhớ dai khái. + Các thao tác tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, trừữu tượng hod) được phát triển khá mạnh.
Từ đó tạo điều kiện để các em hứng thú ngay cả đối với những điều giảng giải bình thường. Các em thích khái quát hoá, thích tim hiểu những qui luật và các nguyên tắc chung của hiện tượng hàng ngày, của các tri thức cần tiếp thu. Tư duy lí luận tăng biểu hiện ở sự thích thú với việc tranh luận và tự tranh luận.