Khóa luận: Đánh giá phong trào TDTT tỉnh Bình Thuận 1998-2004

Khóa luận tốt nghiệp: Đánh giá thực trạng phát triển phong trào TDTT tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1998-2004. Nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục thể chất.

Chuyên ngành

Giáo Dục Thể Chất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2004

45
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN: CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Vị trí của TDTT trong cấu trúc xã hội

1.1.1. TDTT với điều kiện địa lý

1.1.2. TDTT với Kinh Tế

1.1.3. TDTT với văn hóa

1.1.4. TDTT với chính trị - xã hội

1.2. TDTT với sự phát triển của xã hội

1.3. Vai trò của TDTT trong xã hội

1.4. Những quy luật phát triển gh0e Báo TDTT

1.5. Quan điểm phát triển thể thao dân tộc nước ta

1.6. Một số đặc điểm về sự phát triển TDTT tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1998 - 2004

1.7. Vị trí— vai trò của TDTT Bình Thuận đối với nến TDTT nước

2. CHƯƠNG II: MỤC ĐÍCH -- NHIỆM VỤ -- PHƯƠNG PHÁP -- ĐỐI TƯỢNG VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực erik tình hình hoạt động thể Si thể thao Bình Thuận giai đoạn 1998 — 2004

3.1.1. Phong trào TDTT quần chúng

3.1.2. Thể thao thành tích cao

3.1.3. Cơ sở vật chất

3.2. Nhiệm vụ 2: Một số ý kiến để xuất abhi phat triển hong trào TDTT quần chúng tỉnh Bình Thuận trong những năm tới (Giai đoạn 2005 ~ 2010)

3.2.1. để wt mụcctiêu tổng quát ( giả TÊN

3.2.2. Nội dung định hướngNón triển sự nghiệp phong trào _—— năm 2005 — 2010

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Toàn cảnh thực trạng phát triển TDTT Bình Thuận 1998 2004

Giai đoạn 1998-2004 đánh dấu một chặng đường quan trọng trong sự phát triển TDTT Bình Thuận, một tỉnh vừa tách ra từ tỉnh Thuận Hải và đang trong quá trình định hình kinh tế - xã hội. Bối cảnh này đặt ra nhiều thách thức nhưng cũng mở ra cơ hội để ngành thể dục thể thao (TDTT) khẳng định vai trò của mình. Việc nghiên cứu thực trạng TDTT Bình Thuận 1998-2004 không chỉ là một hoạt động tổng kết quá khứ mà còn là cơ sở khoa học để hoạch định chiến lược cho tương lai. Tài liệu nghiên cứu gốc của tác giả Nguyễn Đức Phương nhấn mạnh, phát triển TDTT là nhiệm vụ quan trọng trong thời kỳ đổi mới, phù hợp với lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc rèn luyện sức khỏe để xây dựng đất nước. Trong giai đoạn này, Sở TDTT Bình Thuận cùng các cấp lãnh đạo đã nỗ lực vượt qua khó khăn ban đầu, từng bước kiện toàn bộ máy quản lý và triển khai các hoạt động nhằm thúc đẩy cả thể thao quần chúngthể thao thành tích cao. Quá trình này chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các yếu tố kinh tế, văn hóa và xã hội của tỉnh, một địa phương có thế mạnh về nông nghiệp và kinh tế biển nhưng cơ sở hạ tầng còn hạn chế. Do đó, việc phân tích sâu vào các chỉ số cụ thể về số người tham gia, cơ sở vật chất, thành tích thi đấu và nguồn nhân lực sẽ cung cấp một bức tranh chi tiết và khách quan về hành trình của thể thao tỉnh nhà.

1.1. Bối cảnh kinh tế xã hội và vai trò của TDTT

Bình Thuận giai đoạn 1998-2004 là một tỉnh nông nghiệp và đánh bắt hải sản, mới được tái lập nên nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Theo tài liệu gốc, tỉnh phải đối mặt với các đợt nắng hạn kéo dài, ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân và các hoạt động xã hội, bao gồm cả phong trào thể dục thể thao Bình Thuận. Đời sống người dân còn thấp, cơ sở hạ tầng chưa phát triển đồng bộ, chỉ đạt 40-60% chủ yếu ở khu vực thành phố. Trong bối cảnh đó, TDTT được xác định là một bộ phận không thể thiếu trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội, nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, đúng theo tinh thần Chỉ thị 36/CT-TW của Ban Bí thư. Vai trò của TDTT không chỉ dừng lại ở việc nâng cao sức khỏe mà còn góp phần xây dựng đời sống văn hóa tinh thần, tạo sự gắn kết cộng đồng và phục vụ các nhiệm vụ chính trị của địa phương.

1.2. Quan điểm và chính sách phát triển thể thao của tỉnh

Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Thuận đã xác định rõ quan điểm chỉ đạo, coi công tác TDTT là một nhiệm vụ quan trọng. Tài liệu nghiên cứu trích dẫn Chỉ thị 32/2001/CT.CTUBBT của UBND tỉnh về việc tăng cường xã hội hóa các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa và TDTT. Chính sách phát triển thể thao tập trung vào việc kiện toàn bộ máy quản lý, đẩy mạnh đầu tư cho thể thao Bình Thuận một cách tập trung, đặc biệt ưu tiên cho các đội tuyển và vận động viên tiềm năng. Quan điểm này khẳng định, chất lượng phong trào phụ thuộc lớn vào sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền và năng lực của đội ngũ cán bộ. Nơi nào có sự lãnh đạo sát sao và đội ngũ năng động, nơi đó sẽ thành công. Chính sách ưu tiên phát triển thể thao quần chúng đi trước một bước được xem là nền tảng vững chắc để xây dựng và phát triển thể thao thành tích cao trong giai đoạn tiếp theo.

II. Phân tích thách thức cốt lõi của TDTT Bình Thuận 1998 2004

Mặc dù có những bước tiến đáng ghi nhận, thực trạng TDTT Bình Thuận 1998-2004 vẫn đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức ngành TDTT mang tính hệ thống. Những rào cản này xuất phát từ nền tảng kinh tế còn yếu, cơ sở hạ tầng thiếu thốn và nhận thức xã hội chưa đầy đủ. Tài liệu nghiên cứu chỉ rõ, nguồn kinh phí cấp cho hoạt động TDTT không tăng, trong khi biến động giá cả gây áp lực lớn lên việc tập luyện của vận động viên, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo. Cơ sở vật chất thể thao là một trong những điểm nghẽn lớn nhất. Toàn tỉnh chỉ có một sân vận động đạt chuẩn tối thiểu, còn lại phần lớn là các sân bãi tự phát, không đảm bảo chất lượng. Hệ thống nhà tập, nhà thi đấu vừa thiếu, vừa sơ sài. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực thể thao, bao gồm cán bộ quản lý, huấn luyện viên và chuyên gia, còn thiếu về số lượng và yếu về chuyên môn, đặc biệt ở cấp huyện. Những thách thức này đã tạo ra một khoảng cách nhất định giữa thể thao Bình Thuận so với các trung tâm lớn như Hà Nội hay TP. Hồ Chí Minh, đòi hỏi ngành phải có những giải pháp đột phá và chiến lược dài hạn để vượt qua.

2.1. Hạn chế về cơ sở vật chất thể thao và nguồn kinh phí

Theo số liệu thống kê trong tài liệu, đến năm 2004, toàn tỉnh có 421 sân bãi nhưng chỉ có 1 sân vận động tại Phan Thiết có khán đài và mái che. Các sân còn lại chủ yếu là sân đất trống, không đạt tiêu chuẩn. Số lượng nhà tập và thi đấu tăng chậm, từ 2 cái (năm 1998) lên 8 cái (năm 2004), nhưng chất lượng còn rất sơ sài, chưa có nhà thi đấu nào đạt chuẩn quốc gia. Về kinh phí, tổng ngân sách cho TDTT dao động nhưng vốn đầu tư xây dựng cơ bản còn thấp và không ổn định, ví dụ năm 1999 là 972 triệu đồng nhưng đến 2003 là 1728 triệu đồng. Nguồn thu từ sự nghiệp TDTT còn hạn chế, phụ thuộc lớn vào số lần đăng cai tổ chức giải. Sự thiếu thốn này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tập luyện và khả năng tổ chức các sự kiện thể thao quy mô lớn.

2.2. Bất cập trong hệ thống tổ chức và nguồn nhân lực thể thao

Mặc dù bộ máy quản lý của Sở TDTT Bình Thuận đã được kiện toàn, nhưng ở cấp cơ sở vẫn còn nhiều bất cập. Báo cáo cho thấy, đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn còn thiếu, đặc biệt là ở các huyện, thành. Cán bộ chuyên trách về TDTT vừa thiếu về số lượng vừa yếu về chuyên môn. Tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học còn ít. Điều này dẫn đến việc điều hành, quản lý phong trào chưa thực sự chặt chẽ và khoa học. Lực lượng huấn luyện viên và trọng tài tuy có tăng nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, nhất là đối với các môn thể thao thành tích cao đòi hỏi chuyên môn sâu. Việc thiếu một đội ngũ nhân sự chất lượng cao là rào cản lớn trong việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào huấn luyện và nâng cao thành tích.

III. Phương pháp thúc đẩy phong trào TDTT quần chúng Bình Thuận

Để khắc phục khó khăn, một trong những giải pháp trọng tâm trong thực trạng TDTT Bình Thuận 1998-2004 là tập trung phát triển sâu rộng phong trào thể dục thể thao quần chúng. Đây được xem là nền tảng để nâng cao sức khỏe toàn dân và là nguồn cung cấp tài năng cho thể thao đỉnh cao. Dựa trên số liệu của Sở TDTT Bình Thuận, phong trào này đã có sự phát triển vượt bậc. Số người tham gia tập luyện thường xuyên tăng đều qua các năm, từ 82.725 người (8.2% dân số) năm 1998 lên đến 180.550 người (15.05% dân số) vào năm 2004. Sự tăng trưởng này thể hiện sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của người dân về vai trò của TDTT. Các mô hình như 'Hộ gia đình thể thao' và hệ thống câu lạc bộ cũng phát triển mạnh mẽ. Đặc biệt, công tác giáo dục thể chất trong trường học được chú trọng, tạo nền móng vững chắc cho thế hệ trẻ. Những nỗ lực này không chỉ cải thiện thể chất cộng đồng mà còn tạo ra một không khí thể thao sôi nổi trên toàn tỉnh, là tiền đề cho những thành công ở cấp độ cao hơn.

3.1. Sự tăng trưởng ấn tượng của số người tham gia tập luyện

Số liệu từ nghiên cứu cho thấy sự tăng trưởng rõ rệt về số người tham gia thể thao quần chúng. Tỷ lệ dân số tập luyện thường xuyên đã tăng gần gấp đôi trong 7 năm, từ 8.2% lên 15.05%. Song song đó, số hộ gia đình thể thao tăng vọt từ 2.180 hộ (1998) lên 19.936 hộ (2004), tăng hơn 9 lần. Số lượng câu lạc bộ thể thao cũng tăng từ 318 lên 424. Các hoạt động thể thao trong khối cán bộ công nhân viên chức và lực lượng vũ trang cũng được tổ chức thường xuyên, thu hút hàng nghìn người tham gia mỗi năm. Điều này chứng tỏ phong trào thể dục thể thao Bình Thuận đã thực sự đi vào đời sống của đông đảo nhân dân, tạo nên một nền tảng xã hội vững chắc cho sự phát triển của ngành.

3.2. Vai trò của giáo dục thể chất trong trường học toàn tỉnh

Công tác giáo dục thể chất trong trường học được xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Đến năm 2004, 100% các trường học (368 trường) đã đảm bảo giáo dục thể chất nội khóa thường xuyên, một thành tựu đáng kể so với con số 300 trường năm 1998. Hoạt động ngoại khóa cũng được đẩy mạnh, số trường đảm bảo tăng từ 225 lên 258 trường. Việc chú trọng thể thao học đường không chỉ giúp học sinh phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ mà còn là kênh quan trọng để phát hiện và bồi dưỡng các tài năng thể thao từ sớm, cung cấp lực lượng kế cận cho các tuyến năng khiếu của tỉnh.

IV. Chiến lược phát triển thể thao thành tích cao Bình Thuận

Bên cạnh thể thao quần chúng, thể thao thành tích cao Bình Thuận trong giai đoạn 1998-2004 cũng có những bước tiến đáng kể, từng bước thu hẹp khoảng cách với các địa phương mạnh. Dù đối mặt với hạn chế về kinh phí và cơ sở vật chất thể thao, ngành đã tập trung đầu tư có chọn lọc vào các môn thể thao có thế mạnh và các vận động viên tiêu biểu. Số lượng vận động viên được tập trung đào tạo hàng năm tăng lên, dù không đồng đều. Thành tích thể thao giai đoạn 1998-2004 được thể hiện qua số lượng huy chương tại các giải quốc gia và khu vực. Tổng số huy chương tăng từ 50 (năm 1998) lên 107 (năm 2004). Đặc biệt, năm 2003, thể thao Bình Thuận đã đóng góp 38 vận động viên, 3 huấn luyện viên và 6 trọng tài cho đoàn thể thao Việt Nam tham dự SEA Games 22. Những thành tích này khẳng định sự nỗ lực không ngừng của đội ngũ huấn luyện viên, vận động viên và sự đúng đắn trong định hướng phát triển của Sở TDTT Bình Thuận, góp phần nâng cao vị thế của thể thao tỉnh nhà trên bản đồ thể thao quốc gia.

4.1. Phân tích thành tích huy chương qua các giải đấu quốc gia

Tổng kết thành tích thể thao giai đoạn 1998-2004 cho thấy một xu hướng đi lên nhưng chưa ổn định. Năm 1998, tỉnh giành được 50 huy chương (4 vàng). Con số này đạt đỉnh vào năm 2004 với 107 huy chương (18 vàng). Tuy nhiên, có những năm sụt giảm như năm 2001 (69 huy chương). Sự biến động này, theo phân tích, phụ thuộc lớn vào số lượng giải tham gia và số vận động viên được cử đi thi đấu. Các môn mang lại thành tích nổi bật bao gồm Judo, điền kinh, võ cổ truyền và đua thuyền truyền thống. Đặc biệt, VĐV Judo Nguyễn Ngọc Phong đã tham gia đội tuyển quốc gia thi đấu tại SEA Games 21 và 22, là một trong những vận động viên tiêu biểu Bình Thuận.

4.2. Công tác đào tạo vận động viên và phát triển các tuyến

Công tác đào tạo VĐV là nhiệm vụ cốt lõi của thể thao thành tích cao. Số lượng VĐV được tập trung đào tạo tăng từ 288 (1998) lên 802 (2004). Tuy nhiên, báo cáo chỉ ra rằng sự phát triển các tuyến VĐV chưa đồng bộ, thiếu tính kế thừa, dẫn đến tình trạng thành tích không duy trì ổn định. Số lượng VĐV đạt đẳng cấp quốc gia (kiện tướng và cấp I) biến động qua các năm, cho thấy trình độ chuyên môn của VĐV còn chưa ổn định. Việc thành lập Trường Năng khiếu - nghiệp vụ TDTT tỉnh là một bước đi chiến lược nhằm chuyên nghiệp hóa công tác đào tạo, đảm bảo nguồn cung VĐV chất lượng cao cho các đội tuyển trong tương lai.

V. Kết luận thực trạng và định hướng phát triển TDTT Bình Thuận

Tổng kết thực trạng TDTT Bình Thuận 1998-2004 cho thấy một bức tranh đa chiều với nhiều thành tựu và không ít tồn tại. Ngành TDTT đã có những bước phát triển quan trọng: bộ máy quản lý được củng cố, phong trào thể dục thể thao quần chúng lan tỏa mạnh mẽ, thể thao thành tích cao giành được nhiều thành tích đáng khích lệ. Tuy nhiên, sự phát triển này còn chậm và chưa đồng bộ. Các khó khăn và thách thức ngành TDTT vẫn còn đó, chủ yếu liên quan đến cơ sở vật chất thể thao yếu kém, kinh phí hạn hẹp, và nguồn nhân lực thể thao chưa đáp ứng yêu cầu. Từ thực trạng này, tài liệu nghiên cứu đã đề xuất các định hướng chiến lược cho giai đoạn 2005-2010, tập trung vào việc tạo chuyển biến căn bản về nhận thức, tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa thể thao, đầu tư có trọng điểm vào cơ sở vật chất và đào tạo nhân tài. Những bài học kinh nghiệm từ giai đoạn này là nền tảng quý báu để thể thao Bình Thuận tiếp tục vươn lên trong tương lai.

5.1. Tổng kết những thành tựu và hạn chế chính của ngành TDTT

Thành tựu nổi bật nhất là sự phát triển của phong trào thể dục thể thao quần chúng, thể hiện qua các chỉ số về số người tập, hộ gia đình thể thao và hoạt động thể thao học đường. Về thành tích, việc đóng góp VĐV cho các sự kiện lớn như SEA Games đã khẳng định vị thế của tỉnh. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất vẫn là sự thiếu đồng bộ. Cơ sở vật chất chưa theo kịp nhu cầu. Phong trào quần chúng phát triển mạnh ở thành thị nhưng còn yếu ở vùng sâu, vùng xa. Thể thao thành tích cao có phát triển nhưng thiếu tính bền vững do công tác đào tạo trẻ chưa được đầu tư đúng mức. Đội ngũ cán bộ, HLV còn thiếu và yếu về chuyên môn.

5.2. Các kiến nghị và giải pháp chiến lược cho giai đoạn mới

Để phát triển trong giai đoạn 2005-2010, nghiên cứu đề xuất một loạt giải pháp đồng bộ. Thứ nhất, các cấp Đảng và chính quyền cần quan tâm hơn nữa, tăng kinh phí và có chính sách đãi ngộ tốt hơn cho VĐV. Thứ hai, cần có kế hoạch quy hoạch và đầu tư cho thể thao Bình Thuận một cách bài bản, nâng cấp các công trình trọng điểm. Thứ ba, đẩy mạnh công tác xã hội hóa thể thao để huy động thêm nguồn lực. Thứ tư, tập trung đào tạo lại và đào tạo mới đội ngũ cán bộ, HLV, trọng tài. Cuối cùng, cần xác định các môn thể thao trọng điểm để đầu tư chiều sâu, đặc biệt là các môn thể thao dân tộc như đua thuyền truyền thống, võ cổ truyền, nhằm xây dựng một nền thể thao vừa hiện đại vừa đậm đà bản sắc dân tộc.

11/09/2025
Khóa luận tốt nghiệp giáo dục thể chất bước đầu nghiên cứu đánh giá thực trạng sự phát triển phong trào hoạt động thể dục thể thao tỉnh bình thuận giai đoạn 1998 2004

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA VẤN DE NGHIÊN CỨU LI. Vị trí của TDTT trong cấu trúc xã hội LLL TDTT với điều kiện địa lý: Là một tỉnh nằm trong khu vực kinh tế Đông Nam Bộ, giáp liền với các tỉnh Ninh Thuận, Lam Đồng, Đẳng Nai. với điều kiện khí hậu tương đối thuận lui của thời tiết vùng biển, có đường giao thông quốc lộ 1A chạy qua, thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, Tuy nhiên với điểu kiện nắng hạn kéo dài trong những năm qua đã làm cho điều kiện địa lý ở đây cũng gặp không ít khó khăn trong việc phát triển phong trào TDTT Tỉnh nhà. TDTT với Kinh Tế: Trình độ phát triển kinh tế đối với phong trào TDTT: Trình độ sản xuất vật chất của xã hội trên cơ bản quyết định quy mỗ và tốc độ phát triển của TDTT.

quyết định cấu trúc sự nghiệp của TDTT. Kinh tế trực tiếp ràng buộc trình độ phát triển thể duc thé thao trường học, quy mô phát triển TDTT cho mọi người và rang buộc trình độ của thể thao thành tích cao. Vì vậy ở nơi nào có nền kinh tế phát triển và đầu tư đúng hướng cho hoạt động TDTT thì nơi đó có nền thể thao phát triển. Tuy nhiên với điểu kiện kinh tế như trên thì phẩn lớn thanh nién trong độ tuổi được xem là thời điểm đỉnh cao của thể thao lại chăm lo cho kinh tế gia đình, họ không chú trọng đến việc tập luyện TDTT.

TDTT với văn hóa : Nhân loại phát triển từ hoang dã đến văn minh đều dựa vào sự tiến bộ của văn hóa. Từ con người sinh vật đến con người cuả xã hội déu dựa vào giáo dục cảm hóa của văn hóa. Nên toàn bộ ý nghĩa của cuộc sống và giá trị tổn tại của mọi người déu không tách rời khỏi văn hóa. Nền thể thao của một quốc gia thể hiện một nét đặc trưng của nén văn hóa quốc gia minh, Từng quốc gia có những môn thể thao đặc trưng của nước mình.

Vì vậy thể thao là thể hiện nét đẹp văn hóa. TDTT với chính trị - xã hội: TDTT trong giai đoạn manh nha, mới ra đời đúng là không có quan hệ với chỉnh trị - xã hội. TDTT ra đời từ cộng sản nguyễn thủy không có giai cấp, chủ yếu phục vụ cho lao động sản xuất, giáo dục sức khỏe cho viễn cảnh lý tưởng của xã hội công sản chủ nghĩa sau này. Nếu như xã hội không phân chia giai cấp thì TDTT cũng trở vẻ giá trị thuần túy phục vu đời sống con người, không còn quan hệ với chính trị — xã hội như xã hội tổn tại giai cấp.

Tuy nhiên ngày nay TDTT là một điều kiện quan trong gắn liền với các hoạt động chính trị của đất nước tạo sự hàn gắn giữa con người với con người trên todn thé gidi. TDTT vải sự phát triển của xã hôi: L3. TDTT là một bộ nhận quan trọng hợp thành của sự phát triển xã hột: Một xã hội chú trọng phát triển kinh tế, đẳng thời phải chú trọng phát triển xã hội. TDTT trong phát triển xã hội mặc mat dù không có giá trị trọng yếu rũ rệt như din số, mdi trường lao động, giáo duc.

Nhưng tác dụng và ý nghĩa của nó cũng không thể coi nhẹ. TDTT cần phát triển cân đất với xã hội: Tién dé cơ bản của sự phát triển cân đối TDTT và xã hội: - Tinh nhất trí của mục tiêu. Tính hiệu quả của sự vận hành của TDTT trong xã hội. - Cú sự cung cấp vật chất năng lượng và thông tin day đủ.

- Có co chế diéu khiển, điểu chỉnh, hổ sung lớn khi vận hành TDTT trung xã hội. Vai ia TD trong xã héi: TDTT mang tính chất lich sử, sự phát triển không ngừng của nó mang dấu ấn kinh tế xã hội, nội hàm của nó cũng tăng không ngừng. TDTT có những chức năng sức khỏe, giáo dục, vui chơi giải trí, kinh tế và cả chính trị và chức nang của nó là vật chất tổn tại khách quan, co người đã sử dụng phát huy, phát triển hiệu quả của nó qua một quá trình lịch sử không dài nhưng đã xác nhãn và đã xúc định vị trí chức năng, vai trò của TDTT. Lúc đấu xuất hiện TDTT do tắc dụng của nó trong quá trình sản xuất và quân sự.

Con người muốn tổn tại và nhận thấy quá trình đó tổn tại khách quan va cố gắng đưa lớp trẻ tương lai của loài người tham dự vào quá trình đó ngày cằng tích cực tự giác, chủ động để lớp trẻ có quá trình diễn tiến tự nhiên vé phát dục thin thể và nâng cao cơ năng. Theo quan điểm này TDTT tự tổn tại. Thể thao cho mọi người: Thể thao cho mọi người, thể thao quan chúng, thể thao xã hội dap ứng nhu cầu sức khỏe phòng chống bệnh tật, làm cho mọi người phát triển năng lực, thể lực ngày càng cao, giữ vững và ổn định phát triển đời sống hoạt động làm việc của từng cá thể cũng như cộng đẳng góp phẩn tăng cường giải trí, vui chơi hài hòa vẻ đời sống tâm lý xây dựng đời sống hoàn thiện nhẫn cách, RO rang tính xã hội rộng lđn của thể thao quần chúng với tính chất trên làm cho kết quả của nó trong xã hội loài người ngày càng cao và được cả thé giới tham gia. Có lẻ chưa bao giờ thể thao lại đi vào đời sống của nhắn loại sôi động và hao hứng như những nim gắn day.

TDTT trở thành mot trong những điểu tất yếu của đời sông. Có thể nói TDTT như những phương tiện kỹ diệu để khám phá ra những phẩm chất cao đẹp của con người. Nó đóng góp mốt vai tro hết sức qua trọng, chỉ có lao động sáng tao thì mới giúp con người thoát khỏi kiến đổ đá, phát triển thành một nhân tố hoàn thiện vẻ thể chất, cấu trúc cho đến hình dáng. Yếu tổ quan trọng bậc nhất để con người có thể lao động được đó là sức khỏe mà sức khỏe phải do tập luyện mà có.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Tập cho tỉnh thần déo dai minh mẫn, co thể cường trang” Mỗi quốc gia có một nên văn hóa riêng biệt, mang những đặc trưng những truyền thống của dain tộc đó. Trong đó, thể thao lại chính là văn hóa chung của mỗi quốc gia, mỗi dẫn tộc, nó là chất kết dính của hòa bình và hữu nghị trong nên van hóa nhân loại. Thể thao thành tích cao: Thể thao cho mọi người về mức độ và hình thức, phương tiện và nguyễn tắc có những nét riêng thì thể thao thi đấu — thể thao thành tích cao lại có những đặc trứng riêng biệt tuy nó có liên hệ nhất định với thể thao cho mọi người, Thể thao thi đấu có mục đích cao nhất là lập ra những kỷ lục về thể chất trong các cuộc thị tài chính thức của cuộc thi đấu thể thao để có được các cá thể có năng lực thể chất đặc biệt tức tìm được tài năng thể chất của từng cá nhân, phải ứng dụng khoa học kỹ thuật vào kinh nghiệm để phát hiện được dự trữ tiểm năng của thể chất chung và từng mặt của từng cá thể. Quá trình bối dưỡng huấn luyện tài năng thể chất - tài năng thể thao như trên luôn gắn lién với quá trình phát triển từ nhủ của con người.

fa N hát triển nhang trào TDTT: Xã hội ngày cing phát triển cao về văn hóa, giáo dục, khoa hoc kỹ thuật tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển phong trào TDTT cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển TDTT được Đảng và Nhà nước quan tâm, vì sự nghiệp TDTT thành tích cao, vi sức khỏe của nhắn dẫn trong cả nước: *TDTT là mật bộ phận quan trong, không thể thiếu được trong công cuộc xdy dựng nên văn hóa mới, con người mới. Đảng và Nhà nước phải cham lo hon nữa phái triển nhàng trào TDTT nhằm gdp nhân tăng cường sức khỏe của nhân dân, xây dựng những phẩm chất tất đẹp của con người XHCN như: lòng dũng cảm, nghị lực. sự khéo léo, trí thông minh, óc thẩm mỹ, tỉnh thần tập thể và lòng trung thie ddp ting nhu cầu của sự nghiện xây dung và bảo vệ Tổ quốc *. Như chúng ta đã hiết phong trào TDTT mang tính chất xã hội tạo bởi hệ thống các cơ quan, tổ chức quản chúng tiến hành có kế hoạch, có khoa học, tao nên những tập thể người tập TDTT theo hướng phát triển toàn dan.

Sự phát triển phong trào TDTT góp phan tích cực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội cho nên chúng ta phải vin dung tổng hợp những nhân tổ ưu việt vẻ chế độ chính trị, kinh tế - xã hội hiện đại để phát triển phong trào TDTT có hiệu qua cau. Phong trào TDTT phát triển có quan hệ với các mặt hoạt động văn hóa giáo dục khác vì TDTT thuộc phạm trù văn hóa. Giáo dục thể chất là một mặt của giáu dục tòan dẫn, Quá trình xã hội hóa thể thao diễn ra ở bất cứ tẳng lớp dan cư nào, bất cứ giai cẩn nào và lĩnh vực hoạt động nào,. TDTT không chỉ là một dạng hoạt động thể chất ma còn là vui chơi, là văn hóa, là quan hệ người với người.

Là mot hình 5 thức thể hiện tính nhân ban của con người, TDTT là phạm trù của con ngừơi vì con người, và con người là sự nghiệp phát triển của nó. Quan hệ xã hội của con người trong TDTTF không chỉ giới hạn ở pham vi một dan tộc, một quốc gia mà mang tính quốc tế, tính toàn cầu, tính nhân loại. TDTT nhằm xây dựng những phẩm chất tốt đẹp, sự vững chãi vẻ tỉnh than, sức mạnh, sự bến bỉ và khéo léo về thể chất. Giáo dục một thé hệ trẻ có ý thức kỷ luật tốt, thân thiện và yêu cuộc sống.

Chính vì vậy: “ TDTT là hạnh phúc, mùa xudn của mọi lứa tuổi” Phát triển phong trào TDTT là phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng để đảm bảo cho sự nghiệp TDTT nước ta phát triển vững chắc, từng hước xây dựng nên TDTT cân đối mang tính khoa học dân tộc và nhân dân. Mở rộng và nâng cao chất lượng các hoạt động thể lực và thể thao quan chúng trước hết là học sinh, thanh niên và các lực lượng vũ trang. Đồng thời xây dựng đội ngũ VBV ngày càng đông đảo có phẩm chất đạo đức tốt và khả năng đạt thành tích cao, Tăng cường hệ thống quản lý TDTT, các cắn bộ đẩy mạnh nghiên cửu ứng dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và từng bước tăng thêm cơ sở cho ngành TDTT.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ