PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI “Dan là gốc của nước” là một quan điểm tiến bộ đã có từ hơn 2000 năm trước đây trong tư tưởng triết học phương Đông. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, ông cha ta cũng đã đúc kết được kinh nghiệm quí báu là ; “ Nước lấy dan làm gốc", Đối với những người cẩm quyển, những người lãnh đạo đất nước thì có dân là có tất cả, mất din là mất tất cả. Đảng cộng sản Việt Nam - dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Hỗ Chí Minh - ngay từ khi mới thành lập, do xuất phát từ nhu cẩu, lợi ích, nguyện vọng của nhân din nên được nhân dan thừa nhận là người lãnh đạo.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn được nhân dân mến yêu, tin cậy và ủng hộ, do đó đã lập được nhiều kỳ tích vẻ vang. Chúng ta đã đánh bại thực dân Pháp, đánh thắng đế quốc Mỹ và trở thành dang cẩm quyền, lãnh đạo nhãn dân xây dựng đất nước theo con đường của chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, sau khi trở thành Đảng cẩm quyển, đặc biệt là trong thời gian gin đây, nhiều cán bộ đẳng viên có chức có quyển đã quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng, làm mất lòng tin ở dân, làm giảm uy tín của Dang. Vấn để này nếu không kịp thời giải quyết sửa chửa thì hậu quả khó lường được.
Vì vậy, Đảng ta cần phải sớm đổi mới, chỉnh đốn để giữ cho mối quan hệ giữa Đảng và dân ngày càng vững chắc, tốt đẹp. Lam thé nào để thể hiện được "ý Đảng, lòng dân” như Bác mong muốn. Đó là lí do vì sao tôi chọn để tài “Mối quan hệ giữa Đảng và dân trong tư tưởng Hỗ Chi Minh" làm luận văn tốt nghiệp cho mình. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Chủ tịch Hỗ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam mà còn là người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc của phong trào cách mạng thế giới.
Nói đến Người, không riêng nhân dân Việt Nam mà hau như cả nhân loại đều biết, Người là “Vj anh hùng giải phóng dan tộc, là nhà văn hoá lớn" Trong quá trình hoạt động cách mang của mình, Người đã có nhiều cống hiến cho dan tộc Việt Nam, đã để lại cho nhân dân Việt Nam một di sản tư SVTH: HUỲNH TẤN TUẤN "Feang 2 i tưởng lớn. Vì vậy cuộc đời và tư tưởng của Người là để tài nghiên cứu cho nhiều nhà khoa học, nhiều học giả trong và ngoài nước. Riêng tư tưởng vé “mối quan hệ giữa Đảng và dân” của Người cũng đã có một vài nhà nghiên cứu để cập như : - Đào Duy Quát: * Sự gắn bó máu thịt giữa Đẳng và nhân dân - nguồn sức mạnh vô tận của Đảng". - Đặng Văn Ngọc : " Mét số vấn dé về xây dựng mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và dan trong tình hình hiện nay”.
- Vũ Phú Dũng: “ Một vài suy nghĩ về tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và dan trong tình hình hiện nay”. Tuy nhiên, hầu như mỗi học giả điểu nghiên cứu một vài khía cạnh, một mảng của vấn để chứ chưa nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về mối quan hệ giữa Dang va dan trong tư tưởng của Người. Vì lẽ đó, bên cạnh việc học hỏi, kế thừa có chọn lọc những thành quả của các học giả đi trước, tôi mong muốn được góp phan hệ thống hoàn chỉnh thêm vào quá trình nghiên cứu mối quan hệ giữa Đảng và dân trong tư tưởng của Người thông qua để tài : * Mối quan hệ giữa Đảng và dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh”.MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU * Mục đích nghiên cứu - Tìm hiểu mối quan hệ giữa Đảng và dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh. - Vận dụng tư tưởng của người vào việc xây dựng mối liên hệ giữa Đảng và dân trong tình hình mới.
- Bổ sung kiến thức lý luận chính trị cho việc nghiên cứu và giảng dạy bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh. - Tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên trong quá trình học tập môn Tư tưởng Hồ Chí Minh. * Nhiệm vụ nghiên câu - Tìm hiểu quan niệm của Hồ Chí Minh về dân, về Dang và mối quan hệ giữa Đảng và dân. - Thấy được thực trạng mối quan hệ giữa Đảng và dân trong giai đoạn hiện nay.
SVTH: HUỲNH TẤN TUẤN “Trang 3 - Để xuất một số giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và dẫn. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU * Cơ sở lý luận - Chủ nghĩa Mác - Lénin - Tư tưởng Hỗ Chí Minh - Văn kiện Đảng. * Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp duy vật biện chứng. - Phương pháp gắn liễn lý luận với thực tién, phương pháp lịch sử, phương pháp đối chiếu, so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU * Đổi tượng nghiên cứu - Mối liên hệ giữa Đảng và dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh. - Đảng vận dụng tư tưởng này vào quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. * Pham vi nghiên cứu - Quan niệm của Hỗ Chi Minh vé dân về Dang và mối quan hệ giữa Đảng và dân. - Mối quan hệ giữa Đảng và dân trong tình hình hiện nay.
ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN - Nghiên cứu một cách có hệ thống mối liên hệ giữa Đảng và dân trong tư tưởng Hồ Chi Minh. - Đưa ra một số giải pháp quan trong để góp phdn xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và dẫn. SVTH: HUỲNH TẤN TUẤN “hang 4 CHƯƠNG | QUAN NIEM CUA HO CHÍ MINH VỀ DAN VA BANG 1. QUAN NIEM CUA HO CHi MINH VE DAN Tư tưởng về “ dân” của Hồ Chi Minh rất phong phú và độc đáo.
Tuy nhiên đó không phải là tư tưởng bẩm sinh, vốn có mà đó là kết quả của một quá trình nghiên cứu, học tập, suy nghỉ, chọn lọc, kế thừa những tư tưởng về dân trong lịch sử ở Hổ Chí Minh. Vì vậy, để nghiên cứu tư tưởng của Hồ Chí Minh về " dân” thì chúng ta phải tìm hiểu một vài khái niệm vé “dân” và những quan điểm về “dân” trong lịch sử. Khái niệm dân Khái niệm về “ dân” đã xuất hiện từ xa xưa, được sử dụng rất phổ biến trong các thư tịch của Nho giáo Trung Hoa cũng như trong các di sản văn thơ của ông cha ta qua các thời kỳ lịch sử, Dân là gì ? Trong cuốn * Từ điển triết hoc” của Liên Xô trước đây do Rodentan chủ biên (đã dịch ra tiếng ViệU và cả cuốn từ điển triết học giản yếu của Việt Nam do Hữu Ngọc - Dương Phú Hiệp- Lê Hữu Tầng biên soạn déu không có khái niệm “dân” mà chỉ nêu khái niệm nhân dân. Riêng cuốn từ điển Tiếng Việt cho Hoàng Phê chủ biên thì cho rằng "dân" là “ người sống trong một khu vực địa lý hoặc hành chính, là lớp người đông đảo nhất trong quan hệ với bộ phận cầm quyền, bộ phận lãnh đạo hoặc quân đội.
Những quan niệm về dân trong lịch sử Trong các học thuyết về xã hội, nhất là trong giới cẩm quyển, xưa nay diéu nói vé dân và họ có những quan điểm thái độ khác nhau về dan, * Những quan điểm sai lầm : - Coi nhân dân lao động là những công cụ biết nói. Diéu này được thé hiện rõ trong xã hội cổ đại ở Phương Tây. Giai cấp chủ nô coi nô lệ như con vật, như món hàng, muốn trao đổi chém giết gì tuỳ ý. - “Khinh din” “ ức dân” coi những người lao động chân tay là tiểu nhân, hèn kém, ngu dốt.
Trong xã hội phong kiến phương Đông (Trung Hoa, Việt Nam) cho rằng vua là Thiên tử, thay trời trị dân, Cdn “dân” chỉ là một lũ “cu SVTH: HUỲNH TẤN TUẤN Trang 5 pS ¡ —— AE GG BI SUIIGG S. den” bị thống trị, bị bọn quan lại xem thường và chà đạp. Ở Việt Nam, lịch sử đã ghi lại câu nói của Trần Khánh Dư đã chứng minh diéu ấy : “ Tướng là chim ưng, quân dân là vịt, lấy vịt mà nuôi chim ung thì có gì là lạ "[22,226] * Quan điểm trọng “din”, coi “dân "là gốc của nước trong tư tưởng triết học cổ đại Trung Hoa: Vai trò của dẫn trong quan hệ với nước, với vua đã được một số nhà triết học tiêu biểu của Nho giáo nêu cao trong tư tưởng chính trị Phương Đông cách đây hơn 2000 năm. Trong Kinh Thi có nói : Dân là gốc của nước, gốc vững thì nước yên, được dân chúng thời được nước, mất dân chúng thời mất nước, Mạnh Tử, một đại biểu xuất sắc của Nho giáo cũng bàn luận rất nhiều về dân.
Ong cho rằng mọi chế độ đều phải nhằm vào lợi ích vì dân “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Dân là quý hơn hết, coi trọng dân, thương yêu dân, chăm lo đến đời sống của nhân dân thì được lòng dân. Tuân Tử cũng có tư tưởng để cao dân, Ong cho rằng :Trời sinh dân không phải vì vua mà trời lập ra vua là để vì dân. Ông đã từng ví :Vua là thuyén, thứ dân là nước, nước chở thuyén, nước cũng lật thuyền.
Ngoài ra còn có rất nhiều nhà tư tưởng khác cũng nói đến dân như Khổng Tử, Mặc Tử. Nói chung, họ cồn ít nhiều hạn chế trong khi nói về dân do diéu kiện lịch sử nhưng đã có lòng thương yêu dân, để ý đến dan. Còn ở Việt Nam thì sao? Lịch sử Việt Nam có những tư tưởng tiến bộ đặc sắc nói về vai trò và sức mạnh của dân, coi dân là gốc của nước hay không 7 Dân gian Việt Nam từ xưa đã có câu “ Quan nhất thời dân van đại” thể hiện một quan niệm triết lý sâu sắc. Dân thì tổn tại mãi với thời gian, “quan” thì chỉ trong một thời hạn nhất định.Nếu ông “quan” mà có quan điểm tích cực vé dan, quan tâm đến lợi ích của dân thi được dân ủng hộ, tập trung sức mạnh, đánh thắng giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước.Lịch sử phong kiến Việt N am đã chứng minh điều đó.
Trước sự cường bạo của quân Mông - Nguyên, vua tôi nhà Trần (thế kỷ XI) đã ba lén đánh bại. Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã nói rõ nguyên nhân: “Vua tôi đẳng tâm, anh em hoà thuận, cả nước góp sức”, “Cả nước góp sức” chỉnh là sức mạnh toàn dẫn được huy động. Nguài ra, ng còn có những tư tưởng đặc sắc: "Khoan thư sức din để làm kế bến gốc, sâu rễ, đó là thượng sách giữ nước ”|22,80]. SVTH: HUỲNH TẤN TUẤN "hang 6 n 7 .