Khóa luận: Mối quan hệ Đảng và Dân trong tư tưởng HCM - Huỳnh Tấn Tuấn

Khóa luận tốt nghiệp: Mối quan hệ Đảng và Dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Nghiên cứu sâu sắc về giáo dục chính trị và tư tưởng HCM.

Chuyên ngành

Giáo dục chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp

2001

41
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 01: QUAN—CỦA tổ CHÍ MINH ve shi vA shia

1.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về dân

1.2. Những quan niệm về dân trong lịch sử

1.3. Quan niệm của Hỗ Chi Minh về dãn

1.4. Quan niệm của Hổ Chí Minh về đẳng

1.5. Quan niệm của chủ nghĩa Mác Lênin về dang cộng sản

1.6. Quan niệm của Hỗ Chí Minh về đẳng

2. CHƯƠNG 02 : NỘI DUNG CHỦ YEU CUA MỐI QUAN HỆ GIỮA DANG VA DÂN TRONG TU TƯỞNG HO CHÍ MINH

2.1. Đảng cẩm quyền dam là chủ

2.2. Mối quan hệ mật thiết giữa vii và dân là nhân sins trong tạo nên sức mạnh cho Đẳng

3. HƯƠNG 03 : henTRẠNG Mối QUAN HỆ si St tả tủ ‘i đặt số GIẢI PHÁP NHẰM TANG CƯỜNG MỖI QUAN HỆ GIỮA DAN VỚI BANG

3.1. Thực trạng mới quan hệ giữa Đảng với dân

3.2. Nguyên nhân của tình trạng suy yếu mối quan hệ giữa Dang và dân

3.3. Một số giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ giữa dân với Đẳng trong giai đogn hỈỆN

TÀI LIEU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám phá cốt lõi tư tưởng HCM về quan hệ Đảng và Dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ Đảng và Dân là một di sản lý luận vô giá, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nền tảng của tư tưởng này không phải là một lý thuyết trừu tượng, mà được đúc kết từ lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, kết hợp với tinh hoa của chủ nghĩa Mác - Lênin. Cốt lõi của tư tưởng này khẳng định một chân lý: sức mạnh của nhân dân là vô địch và Đảng chỉ có thể tồn tại, phát triển khi gắn bó máu thịt với nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển quan điểm tiến bộ “Nước lấy dân làm gốc” thành một học thuyết cách mạng hoàn chỉnh. Người chỉ rõ, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, do đó mọi đường lối, chính sách phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Mối quan hệ giữa Đảng và Dân không phải là mối quan hệ một chiều, ban phát, mà là mối quan hệ biện chứng, tương hỗ. Đảng soi đường, dẫn lối, tổ chức nhân dân, trong khi nhân dân là nguồn sức mạnh, là người chủ thực sự của đất nước. Tư tưởng HCM: Mối quan hệ Đảng và Dân nhấn mạnh rằng Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Đây là một tư tưởng nhân văn sâu sắc, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết. Việc củng cố mối quan hệ Đảng Dân không chỉ là nhiệm vụ chính trị, mà còn là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng cầm quyền.

1.1. Quan niệm Dân là gốc Nền tảng tư tưởng cốt lõi

Tư tưởng “Dân là gốc” là điểm xuất phát và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng và Dân. Kế thừa truyền thống quý báu của dân tộc qua các câu nói bất hủ như của Nguyễn Trãi “Chở thuyền cũng là dân mà lật thuyền cũng là dân”, Hồ Chí Minh đã nâng tầm tư tưởng này. Người khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Quan niệm này khẳng định vai trò quyết định của nhân dân đối với sự tồn vong của quốc gia và sự thành bại của cách mạng. Sức mạnh của nhân dân không chỉ thể hiện ở khả năng sản xuất ra của cải vật chất, mà còn là lực lượng trực tiếp làm nên lịch sử. Do đó, Đảng phải biết dựa vào dân, tin ở dân và mọi hoạt động phải hướng đến phục vụ lợi ích của dân. Mất đi gốc rễ này, Đảng sẽ mất đi tất cả.

1.2. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong di sản HCM

Theo Hồ Chí Minh, quần chúng nhân dân tuy có sức mạnh vĩ đại nhưng cần có một tổ chức tiên phong dẫn đường. Tổ chức đó chính là Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời của Đảng là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Vai trò lãnh đạo của Đảng không phải tự nhiên mà có, mà phải do chính nhân dân thừa nhận thông qua sự hy sinh, trí tuệ và đường lối đúng đắn. Đảng phải là đội tiên phong, là bộ tham mưu sáng suốt, tập hợp những cá nhân ưu tú nhất của giai cấp công nhân và dân tộc. Nhiệm vụ của Đảng không phải để “làm quan phát tài”, mà là để “làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Vai trò này chỉ được bảo toàn khi Đảng không ngừng tự đổi mới, chỉnh đốn và giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất.

II. Nhận diện thách thức trong mối quan hệ giữa Đảng và Dân

Bên cạnh những thành tựu vĩ đại, Tư tưởng HCM: Mối quan hệ Đảng và Dân cũng chỉ ra những nguy cơ tiềm tàng có thể làm suy yếu mối liên kết này. Đặc biệt khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, những thách thức càng trở nên rõ nét và phức tạp hơn. Nguy cơ lớn nhất là bệnh quan liêu, xa rời quần chúng, mệnh lệnh và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Những hiện tượng này làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo ra khoảng cách giữa “ý Đảng” và “lòng Dân”. Như tài liệu gốc đã chỉ ra, tình trạng một số cán bộ “có chức có quyền đã quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng, làm mất lòng tin ở dân, làm giảm uy tín của Đảng”. Nếu không được nhận diện và giải quyết kịp thời, những thách thức này có thể trở thành mối đe dọa trực tiếp đến sự ổn định chính trị và sự tồn vong của chế độ. Việc nhìn thẳng vào sự thật, dũng cảm thừa nhận và quyết tâm sửa chữa khuyết điểm là yêu cầu cấp bách để duy trì mối quan hệ máu thịt Đảng với Dân.

2.1. Thực trạng suy yếu lòng tin của nhân dân và nguyên nhân

Thực trạng suy yếu lòng tin của nhân dân xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nguyên nhân sâu xa đến từ một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất. Họ lợi dụng chức vụ, quyền hạn để mưu lợi cá nhân, tham nhũng, lãng phí, gây bất bình trong xã hội. Bên cạnh đó, các đường lối, chính sách khi triển khai ở một số nơi chưa thực sự xuất phát từ nguyện vọng của dân, thậm chí đi ngược lại lợi ích của họ. Tình trạng “nói không đi đôi với làm”, sự thiếu gương mẫu của một số người có chức quyền đã làm phai nhạt hình ảnh người đảng viên tiên phong, gương mẫu. Đây là những vết nứt nguy hiểm trong mối quan hệ máu thịt Đảng với Dân, tạo điều kiện cho các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá.

2.2. Tác hại của quan liêu xa dân đến sự nghiệp cách mạng

Bệnh quan liêu, xa dân là “kẻ thù bên trong” vô cùng nguy hiểm. Nó làm cho Đảng không nắm được tình hình thực tế, tâm tư, nguyện vọng của quần chúng. Từ đó, các quyết sách được ban hành trở nên sai lầm, thiếu thực tiễn, không thể đi vào cuộc sống. Hồ Chí Minh từng gọi đây là nguyên nhân của bệnh chủ quan, là tình trạng “có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu”. Hậu quả trực tiếp là làm suy giảm uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng. Dần dần, nhân dân sẽ mất niềm tin, thờ ơ với các chủ trương, chính sách. Mối liên kết giữa Đảng và Dân trở nên lỏng lẻo, tạo ra một khoảng trống quyền lực mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để kích động, gây mất ổn định xã hội, đe dọa thành quả cách mạng.

III. Bí quyết xây dựng mối quan hệ Đảng Dân Lấy dân làm gốc

Để giải quyết các thách thức và không ngừng củng cố mối quan hệ Đảng Dân, giải pháp nền tảng và xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh chính là quán triệt nguyên tắc “Lấy dân làm gốc”. Đây không chỉ là một khẩu hiệu mà là một phương pháp luận cách mạng, một hệ thống các hành động cụ thể. Lấy dân làm gốc nghĩa là mọi chủ trương, đường lối của Đảng phải bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống, từ lợi ích căn bản của nhân dân. Đảng phải thực sự tin tưởng vào trí tuệ và sức mạnh của nhân dân, trao cho họ quyền làm chủ thực sự. Muốn vậy, Đảng phải thường xuyên đi sâu, đi sát cơ sở, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của mọi tầng lớp. Bài học này được đúc kết từ Đại hội VI (1986), khi Đảng ta nhìn nhận “lấy dân làm gốc” là bài học kinh nghiệm hàng đầu. Triển khai nguyên tắc này đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ trong phương thức lãnh đạo, đặc biệt là trong công tác dân vận, để mỗi chính sách ban hành đều thực sự là sản phẩm kết tinh trí tuệ của toàn dân, vì lợi ích của toàn dân.

3.1. Thực hành phương châm Dân biết Dân bàn Dân làm Dân kiểm tra

Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” là cơ chế cụ thể hóa nguyên tắc “Lấy dân làm gốc”. “Dân biết” là công khai, minh bạch mọi chủ trương, chính sách để người dân hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình. “Dân bàn” là tạo điều kiện để nhân dân tham gia đóng góp ý kiến, xây dựng chính sách. “Dân làm” là phát huy tính chủ động, sáng tạo của nhân dân trong việc tổ chức thực hiện. Cuối cùng, “Dân kiểm tra” là trao cho nhân dân quyền giám sát hoạt động của cán bộ, đảng viên và các cơ quan công quyền. Thực hiện tốt phương châm này sẽ giúp phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, ngăn chặn hiệu quả tệ quan liêu, tham nhũng và củng cố lòng tin của nhân dân.

3.2. Trách nhiệm của Đảng viên trong việc lắng nghe ý kiến nhân dân

Mỗi đảng viên phải là cầu nối trực tiếp giữa Đảng và Dân. Trách nhiệm của đảng viên là phải “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”. Cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe ý kiến nhân dân một cách chân thành và cầu thị. Không chỉ nghe những ý kiến đồng thuận mà còn phải trân trọng cả những ý kiến trái chiều, phản biện. Việc lắng nghe này giúp Đảng nắm bắt kịp thời những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn, từ đó điều chỉnh chính sách cho phù hợp. Sự gần gũi, thấu hiểu và giải quyết kịp thời các bức xúc của người dân chính là cách tốt nhất để xây dựng và bảo vệ uy tín của Đảng.

IV. Phương pháp củng cố quan hệ Đảng Dân Đảng là đầy tớ

Một trụ cột quan trọng khác trong Tư tưởng HCM: Mối quan hệ Đảng và Dân là quan điểm Đảng vừa lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Đây là hai mặt của một thể thống nhất, không thể tách rời. Đảng cầm quyền nhưng dân là chủ. Quyền lực của Đảng do nhân dân ủy thác. Vì vậy, mọi cán bộ, đảng viên, từ vị trí cao nhất đến thấp nhất, đều phải nhận thức sâu sắc rằng mình là công bộc của dân. Mục tiêu duy nhất của việc cầm quyền là để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Để làm được điều này, Đảng phải không ngừng tự hoàn thiện. Quá trình xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh là yếu tố quyết định. Đảng phải thường xuyên tự phê bình và phê bình, kiên quyết loại bỏ những phần tử thoái hóa, biến chất ra khỏi hàng ngũ. Chỉ khi Đảng thực sự trong sạch, mỗi đảng viên thực sự là một tấm gương về đạo đức, lối sống thì mới xứng đáng với sự tin yêu và ủy thác của nhân dân, qua đó giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng.

4.1. Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh để phục vụ nhân dân

Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh. Trong Di chúc, Người căn dặn: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Điều này đòi hỏi Đảng phải thường xuyên nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, giữ vững các nguyên tắc tổ chức, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ. Đồng thời, phải quyết liệt đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, cục bộ. Một Đảng trong sạch, vững mạnh mới có đủ trí tuệ và uy tín để đề ra đường lối đúng đắn, tổ chức thực hiện thắng lợi, và nhận được sự ủng hộ tuyệt đối từ nhân dân.

4.2. Phát huy dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân

Dân chủ là bản chất của chế độ mới. Đảng lãnh đạo để nhân dân được làm chủ. Do đó, việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân là nhiệm vụ trọng tâm. Điều này được thể hiện qua việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước của dân, do dân, vì dân. Mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Nhà nước phải là công cụ hữu hiệu để nhân dân thực thi quyền làm chủ của mình trên mọi lĩnh vực. Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, đồng thời tôn trọng và tạo mọi điều kiện để các tổ chức trong hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

V. Vận dụng tư tưởng HCM về quan hệ Đảng Dân hiện nay

Trong bối cảnh mới của công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, việc vận dụng sáng tạo Tư tưởng HCM: Mối quan hệ Đảng và Dân càng trở nên cấp thiết. Thực tiễn đã chứng minh, ở đâu và khi nào mối quan hệ này được củng cố thì ở đó cách mạng giành được thắng lợi, kinh tế - xã hội phát triển, quốc phòng - an ninh được giữ vững. Ngược lại, nơi nào mối quan hệ này bị xem nhẹ, nơi đó sẽ phát sinh những vấn đề phức tạp. Việc vận dụng tư tưởng của Người không phải là sao chép máy móc, mà đòi hỏi sự sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tế. Trọng tâm là tiếp tục đổi mới công tác dân vận của hệ thống chính trị, hoàn thiện các cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của nhân dân một cách thực chất và hiệu quả. Thành công của công cuộc đổi mới hơn 35 năm qua chính là minh chứng sống động cho giá trị bền vững của việc củng cố mối quan hệ máu thịt Đảng với Dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

5.1. Liên hệ thực tiễn công tác dân vận trong giai đoạn hiện nay

Công tác dân vận trong giai đoạn hiện nay cần được đổi mới toàn diện cả về nội dung và phương thức. Thay vì tuyên truyền một chiều, cần tăng cường đối thoại, tiếp xúc trực tiếp, lắng nghe và giải quyết kịp thời những kiến nghị, bức xúc của nhân dân. Nội dung dân vận phải thiết thực, gắn liền với việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Cần phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội làm cầu nối vững chắc, thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội, góp phần xây dựng Đảng và chính quyền ngày càng trong sạch, vững mạnh.

5.2. Kết quả từ việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Việc củng cố mối quan hệ Đảng - Dân chính là nền tảng để xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Khi nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, họ sẽ đồng lòng, chung sức vượt qua mọi khó khăn, thách thức. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước sau hơn 35 năm đổi mới là kết quả của sự đoàn kết đó. Sức mạnh này đã giúp Việt Nam đứng vững trước những biến động phức tạp của tình hình thế giới, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế và nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Đây là minh chứng rõ ràng nhất cho chân lý: Đoàn kết là sức mạnh, là cội nguồn của mọi thắng lợi.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI “Dan là gốc của nước” là một quan điểm tiến bộ đã có từ hơn 2000 năm trước đây trong tư tưởng triết học phương Đông. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, ông cha ta cũng đã đúc kết được kinh nghiệm quí báu là ; “ Nước lấy dan làm gốc", Đối với những người cẩm quyển, những người lãnh đạo đất nước thì có dân là có tất cả, mất din là mất tất cả. Đảng cộng sản Việt Nam - dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Hỗ Chí Minh - ngay từ khi mới thành lập, do xuất phát từ nhu cẩu, lợi ích, nguyện vọng của nhân din nên được nhân dan thừa nhận là người lãnh đạo.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn được nhân dân mến yêu, tin cậy và ủng hộ, do đó đã lập được nhiều kỳ tích vẻ vang. Chúng ta đã đánh bại thực dân Pháp, đánh thắng đế quốc Mỹ và trở thành dang cẩm quyền, lãnh đạo nhãn dân xây dựng đất nước theo con đường của chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, sau khi trở thành Đảng cẩm quyển, đặc biệt là trong thời gian gin đây, nhiều cán bộ đẳng viên có chức có quyển đã quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng, làm mất lòng tin ở dân, làm giảm uy tín của Dang. Vấn để này nếu không kịp thời giải quyết sửa chửa thì hậu quả khó lường được.

Vì vậy, Đảng ta cần phải sớm đổi mới, chỉnh đốn để giữ cho mối quan hệ giữa Đảng và dân ngày càng vững chắc, tốt đẹp. Lam thé nào để thể hiện được "ý Đảng, lòng dân” như Bác mong muốn. Đó là lí do vì sao tôi chọn để tài “Mối quan hệ giữa Đảng và dân trong tư tưởng Hỗ Chi Minh" làm luận văn tốt nghiệp cho mình. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Chủ tịch Hỗ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam mà còn là người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc của phong trào cách mạng thế giới.

Nói đến Người, không riêng nhân dân Việt Nam mà hau như cả nhân loại đều biết, Người là “Vj anh hùng giải phóng dan tộc, là nhà văn hoá lớn" Trong quá trình hoạt động cách mang của mình, Người đã có nhiều cống hiến cho dan tộc Việt Nam, đã để lại cho nhân dân Việt Nam một di sản tư SVTH: HUỲNH TẤN TUẤN "Feang 2 i tưởng lớn. Vì vậy cuộc đời và tư tưởng của Người là để tài nghiên cứu cho nhiều nhà khoa học, nhiều học giả trong và ngoài nước. Riêng tư tưởng vé “mối quan hệ giữa Đảng và dân” của Người cũng đã có một vài nhà nghiên cứu để cập như : - Đào Duy Quát: * Sự gắn bó máu thịt giữa Đẳng và nhân dân - nguồn sức mạnh vô tận của Đảng". - Đặng Văn Ngọc : " Mét số vấn dé về xây dựng mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và dan trong tình hình hiện nay”.

- Vũ Phú Dũng: “ Một vài suy nghĩ về tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và dan trong tình hình hiện nay”. Tuy nhiên, hầu như mỗi học giả điểu nghiên cứu một vài khía cạnh, một mảng của vấn để chứ chưa nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về mối quan hệ giữa Dang va dan trong tư tưởng của Người. Vì lẽ đó, bên cạnh việc học hỏi, kế thừa có chọn lọc những thành quả của các học giả đi trước, tôi mong muốn được góp phan hệ thống hoàn chỉnh thêm vào quá trình nghiên cứu mối quan hệ giữa Đảng và dân trong tư tưởng của Người thông qua để tài : * Mối quan hệ giữa Đảng và dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh”.MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU * Mục đích nghiên cứu - Tìm hiểu mối quan hệ giữa Đảng và dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh. - Vận dụng tư tưởng của người vào việc xây dựng mối liên hệ giữa Đảng và dân trong tình hình mới.

- Bổ sung kiến thức lý luận chính trị cho việc nghiên cứu và giảng dạy bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh. - Tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên trong quá trình học tập môn Tư tưởng Hồ Chí Minh. * Nhiệm vụ nghiên câu - Tìm hiểu quan niệm của Hồ Chí Minh về dân, về Dang và mối quan hệ giữa Đảng và dân. - Thấy được thực trạng mối quan hệ giữa Đảng và dân trong giai đoạn hiện nay.

SVTH: HUỲNH TẤN TUẤN “Trang 3 - Để xuất một số giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và dẫn. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU * Cơ sở lý luận - Chủ nghĩa Mác - Lénin - Tư tưởng Hỗ Chí Minh - Văn kiện Đảng. * Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp duy vật biện chứng. - Phương pháp gắn liễn lý luận với thực tién, phương pháp lịch sử, phương pháp đối chiếu, so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU * Đổi tượng nghiên cứu - Mối liên hệ giữa Đảng và dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh. - Đảng vận dụng tư tưởng này vào quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. * Pham vi nghiên cứu - Quan niệm của Hỗ Chi Minh vé dân về Dang và mối quan hệ giữa Đảng và dân. - Mối quan hệ giữa Đảng và dân trong tình hình hiện nay.

ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN - Nghiên cứu một cách có hệ thống mối liên hệ giữa Đảng và dân trong tư tưởng Hồ Chi Minh. - Đưa ra một số giải pháp quan trong để góp phdn xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và dẫn. SVTH: HUỲNH TẤN TUẤN “hang 4 CHƯƠNG | QUAN NIEM CUA HO CHÍ MINH VỀ DAN VA BANG 1. QUAN NIEM CUA HO CHi MINH VE DAN Tư tưởng về “ dân” của Hồ Chi Minh rất phong phú và độc đáo.

Tuy nhiên đó không phải là tư tưởng bẩm sinh, vốn có mà đó là kết quả của một quá trình nghiên cứu, học tập, suy nghỉ, chọn lọc, kế thừa những tư tưởng về dân trong lịch sử ở Hổ Chí Minh. Vì vậy, để nghiên cứu tư tưởng của Hồ Chí Minh về " dân” thì chúng ta phải tìm hiểu một vài khái niệm vé “dân” và những quan điểm về “dân” trong lịch sử. Khái niệm dân Khái niệm về “ dân” đã xuất hiện từ xa xưa, được sử dụng rất phổ biến trong các thư tịch của Nho giáo Trung Hoa cũng như trong các di sản văn thơ của ông cha ta qua các thời kỳ lịch sử, Dân là gì ? Trong cuốn * Từ điển triết hoc” của Liên Xô trước đây do Rodentan chủ biên (đã dịch ra tiếng ViệU và cả cuốn từ điển triết học giản yếu của Việt Nam do Hữu Ngọc - Dương Phú Hiệp- Lê Hữu Tầng biên soạn déu không có khái niệm “dân” mà chỉ nêu khái niệm nhân dân. Riêng cuốn từ điển Tiếng Việt cho Hoàng Phê chủ biên thì cho rằng "dân" là “ người sống trong một khu vực địa lý hoặc hành chính, là lớp người đông đảo nhất trong quan hệ với bộ phận cầm quyền, bộ phận lãnh đạo hoặc quân đội.

Những quan niệm về dân trong lịch sử Trong các học thuyết về xã hội, nhất là trong giới cẩm quyển, xưa nay diéu nói vé dân và họ có những quan điểm thái độ khác nhau về dan, * Những quan điểm sai lầm : - Coi nhân dân lao động là những công cụ biết nói. Diéu này được thé hiện rõ trong xã hội cổ đại ở Phương Tây. Giai cấp chủ nô coi nô lệ như con vật, như món hàng, muốn trao đổi chém giết gì tuỳ ý. - “Khinh din” “ ức dân” coi những người lao động chân tay là tiểu nhân, hèn kém, ngu dốt.

Trong xã hội phong kiến phương Đông (Trung Hoa, Việt Nam) cho rằng vua là Thiên tử, thay trời trị dân, Cdn “dân” chỉ là một lũ “cu SVTH: HUỲNH TẤN TUẤN Trang 5 pS ¡ —— AE GG BI SUIIGG S. den” bị thống trị, bị bọn quan lại xem thường và chà đạp. Ở Việt Nam, lịch sử đã ghi lại câu nói của Trần Khánh Dư đã chứng minh diéu ấy : “ Tướng là chim ưng, quân dân là vịt, lấy vịt mà nuôi chim ung thì có gì là lạ "[22,226] * Quan điểm trọng “din”, coi “dân "là gốc của nước trong tư tưởng triết học cổ đại Trung Hoa: Vai trò của dẫn trong quan hệ với nước, với vua đã được một số nhà triết học tiêu biểu của Nho giáo nêu cao trong tư tưởng chính trị Phương Đông cách đây hơn 2000 năm. Trong Kinh Thi có nói : Dân là gốc của nước, gốc vững thì nước yên, được dân chúng thời được nước, mất dân chúng thời mất nước, Mạnh Tử, một đại biểu xuất sắc của Nho giáo cũng bàn luận rất nhiều về dân.

Ong cho rằng mọi chế độ đều phải nhằm vào lợi ích vì dân “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Dân là quý hơn hết, coi trọng dân, thương yêu dân, chăm lo đến đời sống của nhân dân thì được lòng dân. Tuân Tử cũng có tư tưởng để cao dân, Ong cho rằng :Trời sinh dân không phải vì vua mà trời lập ra vua là để vì dân. Ông đã từng ví :Vua là thuyén, thứ dân là nước, nước chở thuyén, nước cũng lật thuyền.

Ngoài ra còn có rất nhiều nhà tư tưởng khác cũng nói đến dân như Khổng Tử, Mặc Tử. Nói chung, họ cồn ít nhiều hạn chế trong khi nói về dân do diéu kiện lịch sử nhưng đã có lòng thương yêu dân, để ý đến dan. Còn ở Việt Nam thì sao? Lịch sử Việt Nam có những tư tưởng tiến bộ đặc sắc nói về vai trò và sức mạnh của dân, coi dân là gốc của nước hay không 7 Dân gian Việt Nam từ xưa đã có câu “ Quan nhất thời dân van đại” thể hiện một quan niệm triết lý sâu sắc. Dân thì tổn tại mãi với thời gian, “quan” thì chỉ trong một thời hạn nhất định.Nếu ông “quan” mà có quan điểm tích cực vé dan, quan tâm đến lợi ích của dân thi được dân ủng hộ, tập trung sức mạnh, đánh thắng giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước.Lịch sử phong kiến Việt N am đã chứng minh điều đó.

Trước sự cường bạo của quân Mông - Nguyên, vua tôi nhà Trần (thế kỷ XI) đã ba lén đánh bại. Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã nói rõ nguyên nhân: “Vua tôi đẳng tâm, anh em hoà thuận, cả nước góp sức”, “Cả nước góp sức” chỉnh là sức mạnh toàn dẫn được huy động. Nguài ra, ng còn có những tư tưởng đặc sắc: "Khoan thư sức din để làm kế bến gốc, sâu rễ, đó là thượng sách giữ nước ”|22,80]. SVTH: HUỲNH TẤN TUẤN "hang 6 n 7 .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ