Khóa luận Thừa kế theo pháp luật: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp file word thừa kế theo pháp luật một số vấn đề lý luận và thực tiễn, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp cụ thể cho vấn đề

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

73
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT

1.1. Các giai đoạn phát triển của pháp luật Việt Nam về thừa kế

1.2. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN NHỮNG QUI ĐỊNH VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về thừa kế theo pháp luật và những vấn đề lý luận

Khóa luận tốt nghiệp về thừa kế theo pháp luật là một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực pháp lý hiện nay. Vấn đề thừa kế không chỉ liên quan đến quyền lợi cá nhân mà còn ảnh hưởng đến các mối quan hệ gia đình và xã hội. Trong bối cảnh pháp luật Việt Nam, thừa kế theo pháp luật được quy định rõ ràng trong Bộ luật Dân sự. Điều này giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân và đảm bảo sự công bằng trong việc phân chia tài sản. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần được làm rõ và giải quyết.

1.1. Khái niệm và các hình thức thừa kế theo pháp luật

Thừa kế theo pháp luật được hiểu là việc chuyển giao tài sản của người đã mất cho những người còn sống theo quy định của pháp luật. Có hai hình thức thừa kế chính: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Mỗi hình thức có những quy định và điều kiện riêng, ảnh hưởng đến quyền lợi của người thừa kế.

1.2. Các quy định pháp lý về thừa kế theo pháp luật

Bộ luật Dân sự 2015 quy định rõ về các hàng thừa kế, quyền và nghĩa vụ của người thừa kế. Các quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của công dân và tạo ra một khung pháp lý rõ ràng cho việc phân chia tài sản thừa kế.

II. Những thách thức trong thực tiễn thừa kế theo pháp luật hiện nay

Mặc dù có những quy định rõ ràng, nhưng thực tiễn áp dụng thừa kế theo pháp luật vẫn gặp nhiều thách thức. Các tranh chấp về thừa kế thường xảy ra do sự không đồng thuận giữa các bên liên quan. Ngoài ra, việc lập di chúc chưa phổ biến trong xã hội Việt Nam cũng là một nguyên nhân dẫn đến những khó khăn trong việc thực hiện quyền thừa kế.

2.1. Tranh chấp thừa kế và nguyên nhân phát sinh

Tranh chấp thừa kế thường phát sinh từ việc không có di chúc hoặc di chúc không hợp lệ. Nhiều trường hợp, các bên không thống nhất về cách chia tài sản, dẫn đến xung đột và kiện tụng. Việc thiếu hiểu biết về pháp luật cũng góp phần làm gia tăng các tranh chấp này.

2.2. Những vấn đề pháp lý chưa được giải quyết

Một số quy định về thừa kế còn thiếu tính cụ thể và chưa được hướng dẫn chi tiết, dẫn đến việc áp dụng pháp luật không nhất quán. Điều này gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong việc giải quyết các tranh chấp thừa kế.

III. Phương pháp giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật

Để giải quyết các tranh chấp về thừa kế theo pháp luật, cần áp dụng các phương pháp pháp lý hiệu quả. Việc hòa giải, thương lượng giữa các bên là một trong những phương pháp được khuyến khích. Ngoài ra, các cơ quan chức năng cũng cần có những biện pháp cụ thể để bảo vệ quyền lợi của người thừa kế.

3.1. Hòa giải tranh chấp thừa kế

Hòa giải là phương pháp hiệu quả giúp các bên tìm ra giải pháp chung mà không cần phải ra tòa. Việc này không chỉ tiết kiệm thời gian mà còn giảm bớt căng thẳng trong mối quan hệ gia đình.

3.2. Vai trò của các cơ quan chức năng trong giải quyết tranh chấp

Các cơ quan chức năng như tòa án, văn phòng công chứng có vai trò quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp thừa kế. Họ cần có những hướng dẫn cụ thể và rõ ràng để đảm bảo quyền lợi của người thừa kế được bảo vệ.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về thừa kế theo pháp luật

Nghiên cứu về thừa kế theo pháp luật không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn cần được áp dụng vào thực tiễn. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc hiểu rõ các quy định pháp luật sẽ giúp người dân bảo vệ quyền lợi của mình tốt hơn trong các vụ tranh chấp thừa kế.

4.1. Kết quả nghiên cứu từ thực tiễn

Nghiên cứu cho thấy rằng nhiều người dân vẫn chưa nắm rõ các quy định về thừa kế, dẫn đến việc không thể bảo vệ quyền lợi của mình. Việc nâng cao nhận thức về pháp luật là cần thiết để giảm thiểu các tranh chấp.

4.2. Các mô hình áp dụng thành công

Một số mô hình hòa giải thành công trong các vụ tranh chấp thừa kế đã được áp dụng, cho thấy hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp ngoài tòa án. Điều này cần được nhân rộng để bảo vệ quyền lợi của người thừa kế.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai về thừa kế theo pháp luật

Kết luận về thừa kế theo pháp luật cho thấy rằng cần có những cải cách và hoàn thiện quy định pháp luật để đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Việc nâng cao nhận thức của người dân về quyền thừa kế cũng là một yếu tố quan trọng trong việc giảm thiểu tranh chấp.

5.1. Đề xuất cải cách pháp luật về thừa kế

Cần có những quy định cụ thể hơn về thừa kế để đảm bảo quyền lợi của người thừa kế. Việc này sẽ giúp giảm thiểu các tranh chấp và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân.

5.2. Tương lai của thừa kế theo pháp luật tại Việt Nam

Tương lai của thừa kế theo pháp luật tại Việt Nam sẽ phụ thuộc vào sự phát triển của hệ thống pháp luật và sự thay đổi trong nhận thức của người dân. Cần có những nỗ lực từ cả phía nhà nước và xã hội để đảm bảo quyền lợi của người thừa kế được bảo vệ.

25/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT 1. Các giai đoạn phát triển của pháp luật Việt Nam về thừa kế Chế định thừa kế nói chung và hình thức thừa kế theo pháp luật nói riêng được quy định trong BLDS là sự kế thừa và phát triển các quy định chung về thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến nay. Ở mỗi thời kỳ đều có những đặc thù riêng. Việc nghiên cứu, phân tích tiến trình phát triển của pháp luật Việt Nam về thừa kế theo pháp luật để rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm hoàn thiện pháp luật thừa kế hiện nay.

Trước năm 1945 Chế độ phong kiến Việt Nam tồn tại qua nhiều thế kỉ. Mỗi nhà nước phong kiến đều ban hành văn bản pháp luật để củng cố quyền lực và phục vụ cho công việc quản lý đất nước. Đáng chú ý là các bộ luật của các triều đại phong kiến như bộ luật Hồng Đức năm 1483, Bộ luật Gia Long năm 1815. Ngoài bộ luật các nhà nước phong kiến còn ban hành nhiều văn bản đơn hành như chiếu, chỉ dụ , lệnh của vua… Nội dung các bộ luật điều chỉnh nhiều qua hệ xã hội thuộc đối tượng của nhiều ngành luật hiện nay.

Trong đó có các quy định về thừa kế theo di chúc và theo pháp luật. * Quy định về thừa kế theo pháp luật trong Luật Hồng Đức Trong thời kỳ phong kiến, Luật Hồng Đức hay còn gọi là Quốc triều hình luật được ban hành năm 1483 được coi là một trong những bộ luật phong kiến tiến bộ nhất và đặc sắc nhất trong lịch sử pháp luật Việt Nam đồng thời là bộ luật có niên đại xưa nhất còn giữ được cho tới ngày nay. Bộ luật đánh dấu thời kỳ hoàng kim nhất, rực rỡ nhất của chế độ phong kiến Việt Nam dưới triều đại nhà Lê, đặc biệt là dưới thời vua Lê Thánh Tông. Những người thừa kế theo pháp luật gồm người có quan hệ huyết thống trực hệ với người để lại di sản.

Căn cứ theo quy định tại Điều 374, 375, 376 thì di sản sẽ được chia theo nguyên tắc ưu tiên, trước hết là chia cho các con, không phân biệt con trai, con gái (hàng 1), nếu người chết không có con thì cha mẹ (hàng 2) được hưởng di sản thừa kế. Trường hợp không còn cha mẹ, di sản được chuyển cho người thừa tự, do họ hàng quyết định Luật Hồng Đức ghi nhận con nuôi cũng có quyền thừa kế di sản của cha mẹ nuôi trong trường hợp "có văn tự là con nuôi và ghi trong giấy rằng sau sẽ chia điền sản cho, khi cha mẹ nuôi chết không có chúc thư, điền sản đem chia cho con đẻ và con nuôi" và phần di sản 3 được hưởng là "điền sản chia làm ba, con đẻ được hai phần, con nuôi được một phần; nếu không có con đẻ mà con nuôi cùng ở với cha mẹ từ thuở bé, thì được cả; thuở bé không cùng ở thì con nuôi được hai phần, người thừa tự được một phần" Luật Hồng Đức quy định vợ, chồng không được thừa kế di sản của nhau ngoại trừ một số trường hợp để đảm bảo cho cuộc sống của người vợ góa, chồng góa, chẳng hạn như trường hợp người vợ góa, chồng góa sống độc thân không có người nuôi dưỡng sẽ được hưởng một phần di sản của người chồng hoặc người vợ để sống hết đời và để thờ cúng. Tuy nhiên, nếu người vợ góa, chồng góa tái giá thì phải trả lại phần di sản được hưởng cho họ hàng của người chết. Theo Điều 390 Luật Hồng Đức "cha mẹ mất cả, có ruộng đất, chưa kịp để lại chúc thư, mà anh em chị em tự chia nhau, thì lấy một phần 20 số ruộng đất làm phần hương hỏa, giao cho con trai trưởng giữ…" Quy định về thừa kế, đặc biệt là thừa kế theo pháp luật trong Luật Hồng Đức là cơ sở để bảo vệ quan hệ trên dưới, tôn ti, trật tự của gia đình truyền thống đồng thời bảo vệ được quyền thừa kế của những người thừa kế.

* Quy định về thừa kế theo pháp luật trong Luật Gia Long Hoàng Việt luật lệ hay còn được biết đến với tên gọi Quốc triều điều luật, Hoàng triều luật lệ, Luật Gia Long, là bộ luật chính thống của triều Nguyễn ở Việt Nam do vua Gia Long ban hành năm 1815. Với tư tưởng "trọng nam, khinh nữ" đặc trưng của xã hội phong kiến, Luật Gia Long quy định di sản chia theo pháp luật sẽ được chia đều cho các con trai không phân biệt con trai do thê thiếp sinh ra. Nếu người con chết thì con của người con sẽ thay thế vị trí của cha mẹ mình để nhận di sản của ông bà. Vì con gái không được quyền thừa kế nên trong trường hợp người để lại di sản không có con trai thì các cháu trai thúc bá sẽ được hưởng di sản Luật Gia Long cũng quy định vợ góa, chồng góa không được thừa kế di sản của người chồng hoặc người vợ đã chết trừ trường hợp ngoại lệ tương tự như quy định trong Luật Hồng Đức.

Đối với di sản dùng làm hương hỏa, khác với Luật Hồng Đức, theo quy định của Luật Gia Long thì không bắt buộc phải dành một phần di sản làm hương hỏa. * Quy định về thừa kế theo pháp luật dưới thời Pháp thuộc Chế định thừa kế trong Dân luật Bắc kỳ năm 1931 và Dân luật Trung Kỳ năm 1936 được quy định tương đối giống nhau, được xây dựng dựa trên BLDS Pháp 1804. Theo đó, thừa kế cũng được chia thành hai hình thức là thừa kế theo di chúc 4 và thừa kế theo pháp luật. Di sản được chia theo pháp luật khi không có chúc thư hoặc chúc thư vô hiệu và được chia theo thứ tự ưu tiên.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản ngang nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không có ai ở hàng thừa kế trước. Người thừa kế hàng thứ nhất là các con. Con trai, con gái được chia di sản bằng nhau.

Nếu cha hoặc mẹ chết trước hoặc chết cùng ông bà nội hoặc ông bà ngoại, thì các cháu thay thế cha hoặc mẹ nhận di sản của ông hoặc bà (thừa kế thế vị). Trong trường hợp người chết không có con thì di sản chia cho cha, mẹ (hàng thừa kế thứ hai). Nếu không còn cha, mẹ thì di sản chia cho cháu ruột bên nội. Nếu không có cháu ruột thì chia cho anh, chị em ruột.

Từ năm 1945 đến nay Sau cách mạng tháng Tám Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Một nhà nước non trẻ đã phải đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp về chính trị, văn hóa, xã hội…Nhiệm vụ chủ yếu của Nhà nước lúc này là bảo vệ, củng cố thành quả cách mạng, kể các những vấn đề liên quan đến lĩnh vực dân sự.Ngày 22/05/1950 Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 97/SL về việc sửu đổi một số quy lệ chế định trong dân luật, quy định một số nguyên tắc mới để áp dụng trong điều kiện nền dân chủ nước ta. Riêng trong lĩnh vực thừa kế đã quy định vợ , chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau, con trai, con gái đều có quyền thừa kế di sản của cha, mẹ, chồng góa, vợ góa, các con đã thành niên có quyền xin chia di sản, con cháu, hoặc vợ góa, chồng góa không bắt buộc phải nhận thừa kế của người đã chết, các chủ nợ của người chết không có quyền đòi người thừa kế phải thanh toán nợ quá phần di sản mà người đó nhận. Hiến pháp năm 1959 đã công nhận vấn đề thừa kế thành nguyên tắc tại Điều 19 như sau: “ Nhà nước chiếu theo pháp luật, bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân”.

Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định” Các con đều có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong gia đình và trong việc hưởng thừa kế, không phân biệt con trai, con gái, con ngoài giá thú,con đẻ, con nuôi” Hiến pháp năm 1980 ghi nhận “ Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản công dân” ( Điều 27).Để phục vụ cho công tác xét xử, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư 81 ngày 24/07/1981 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế( di sản thừa kế, thừa kế theo di chúc, theo kế theo pháp luật, phân chia di sản…). Mặc dù là văn bản pháp lý đầu tiên quy định khá chi tiết về thừa kế kể từ sau Cách mạng Tháng Tám nhưng Thông tư số 81 vẫn còn có những hạn chế nhất định, chẳng hạn như việc chỉ quy định hai hàng thừa kế đã thu hẹp diện thừa kế, 5 chưa thật sự đảm bảo được quyền hưởng di sản của những người thân của người để lại di sản. Quy định các trường hợp không được hưởng thừa kế theo pháp luật cũng chưa đầy đủ… Trước tình hình đó, đòi hỏi phải có một văn bản vừa có nội dung toàn diện, vừa có tính pháp lý, thực thi cao. Tiếp đó Luật hôn nhân và gia đình ban hành năm 1986 đã quy định một số điều liên quan đến quyền thừa kế của vợ, chồng ( Điều 14, Điều 16, Điều 17.) Để phù hợp với sự biến đổi, phát triển của kinh tế - xã hội ở nước ta cũng như nhằm khắc phục những nội dung còn thiếu, còn vướng mắc, ngày 30/08/1990, Hội đồng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh Thừa kế, có hiệu lực từ ngày 10/09/1990.

Nội dung của Pháp lệnh Thừa kế đã mở rộng phạm vi những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Pháp lệnh Thừa kế thì những người thừa kế theo pháp luật được chia làm ba hàng: Hàng thứ nhất: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết Hàng thứ hai: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết. Hàng thứ ba: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột. Quy định trên đã bảo vệ được tối đa quyền của người để lại di sản cũng như quyền của những người thừa kế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ