CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. TONG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN RUNG. Khai niệm rừng Rừng là nguồn tài nguyên sinh vật tái tạo được, có khả năng cung cấp những lâm sản cần thiết cho đời sống của con người như: tỉnh dâu, dầu nhựa, dầu béo, nhựa mủ, lương thực, thực phẩm, chất màu và chất béo, thuộc da, chất chát, nhiều loại được liệu quy/. Tất cả các tính năng vốn có của rừng đã làm cho rừng gắn bó mật thiết với sự phát triển kinh tế- xã hội.
Rừng, nếu hiểu đúng bản chất thì nó là nơi tập trung của cả động, thực vật và vi sinh vật, là một bộ phận không thể thiếu của môi trường sống của con người, dem lại sự cân bằng sinh thái trong tự nhiên, hạn chế các tác hại do sa mạc hóa gây ra, diéu hòa khí hậu, điều tiết chế độ nước, bảo vệ mùa màng, nâng cao năng suất cây trồng. Rừng tự nhiên là rừng không do con người trồng, bao gồm rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng đạt | hoặc cả 2 tiêu chuẩn sau: + Rừng có trữ lượng gỗ bình quân từ 25 mỶ trở lên trên | ha. + Rừng có độ tán che lớn hơn 0,3 (tổng diện tích tán cây lớn hơn 30% diện tích rừng đó). Diện tích rừng trồng bao gồm diện tích đất đã được trồng rừng kể cả diện tích đã thành rừng và điện tích mới trồng.
Hệ sinh thái rừng Định nghĩa hệ sinh thái: hệ sinh thái là đơn vị bất kỳ nào bao gồm tất cả các sinh vật (các quần xã) của một khu vực nhất định cùng tác động qua lại với môi trường vật lý bằng các dòng năng lượng tạo nên cấu trúc dinh dưỡng xác định, sự đa dạng về loài và chu trình tuần hoàn vật chất trong nạng lưới được gọi là hệ thống sinh thái hay hệ sinh thái (Ecosystem). Hệ sinh thái rừng được biểu hiện bên ngoài bằng những cảnh quan như là những quần hệ mà đơn vị cơ sở của nó là các kiểu thảm thực vật, trong SVTH: Lê Hữu Tuấn Nam Trang 8 Khoá luận tốt ghi GVHD: Ts. Phạm Xuân Hiệu đó, lai hình thành những xã hợp. Nếu sự hình thành là hỗn hợp nhiều loài, trong đó có một số loài chiếm ưu thế thì được gọi là "ưu hợp”.
Ngay từ khi con người xuất hiện trên hành tinh này thì các kiểu thảm thực vật che phủ hầu hết bể mặt Trái đất, ngoại trừ những vùng sa mạc hay các hoang mạc cát ở Châu Phi, Châu Uc, Trung Á,. hay những đài nguyên phủ day rêu và dia y trên các vành đai ở Nam Cực hay Bắc Cực. O vùng ôn đới, có các kiểu rừng Taiga gồm những cây lá kim rụng lá như: Lạc Diệp Tùng; các cây lá kim thường xanh như: Vân Sam, Trắc Bách, Viên Bách; các loại cây thông dụng khác như: Cù Tùng khổng lổ cao trên 100m; các loại Thông 5 lá và Thông 2 lá như: Thông rừng Châu Âu, Hồng Tùng ở Nhật, Thông Hoàng San, Thông Vân Nam ở Trung Quốc,. ở vùng nhiệt đới núi cao ở Châu A có Thông Ma Vi, Thông 2 lá, Thông 3 lá, ở Đà Lat; ở Bắc Việt Nam có rừng Samox, Famou, Dasam.
Ngoài những vùng rừng lá kim ở Liên Xô (cũ), Châu Mỹ, Châu Âu. còn có rừng dẻ, rừng sồi, Bạch Dương,. là những cây lá rộng, rung lá trong mùa đông giá tuyết. Vùng Trung Á và Bắc Mỹ thì có các thảo nguyên.
O vùng nhiệt đới và xích đạo thì kiểu rừng đặc sắc là rừng mưa nhiệt đới (Tropical rain forest) có cấu trúc nhiều tầng và thường có 5 ting gồm: 3 tang cây gỗ. tang dây leo và lớp phủ sát mặt đất tổ hợp nên nhiều loài, nhiều kích cỡ, mọc phân tán hoặc rải rác. Tuy nhiên, cũng có những họ chiếu ưu thế và những đám cây mọc thuần, mọc tập trung như ho Sao dầu, họ Đậu; có gỗ quý như: gỗ Đỏ, Trắc, Cẩm Lai, Giáng Hương. Tùy theo thành phần từng loài: có thường xanh, có loài rụng lá trong mùa khô.
Do đó, hình thành nên những kiểu rừng kín đậm thường xanh, nửa rụng lá, rừng lá cứng, rừng lá thưa và những trang (xavan) toàn cỏ hay quần điểm cây cao, cây thấp, làm bụi, cây gai và trở thành bán sa mạc hay sa mạc xương rồng ở Nam Mỹ, Đông Phi và Đông Úc. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH KHAI THÁC RỪNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM H. Ở các nước trên Thế giới Trong suốt quá trình lịch sử trên một triệu năm, các hoạt động sống của con người, chủ yếu chỉ là hái lượm và săn bắt. Do đó, tài nguyên rừng không chịu sức ép nghiêm trọng dưới tác động của con người.
Đến khi nền SVTH: L2H@uTudmNam = —~ _— Trang9 Khoá luận tốt ghủ GVHD: T:. Phạm Xuân nông nghiệp nguyên thủy ra đời, con người bất đầu khai thác rừng để lấy đất trồng trọt, tuy nhiên, chỉ vào khoảng thiên niên kỷ thứ 9 Trước Công Nguyên thì ở Châu Âu, rừng mới thực sự bị con người khai phá một cách mãnh liệt. Mối đe dọa lên tài nguyên rừng và môi trường của Thế giới bắt đầu từ đó, tổn tại song song với những mốc lịch sử quan trọng: + _ Du canh, du cư ra đời và vẫn còn tổn tại cho đến nay ở một số nơi trên Thế giới. « Trung thế kỷ, rừng Châu Âu là tài sản của vua quan và nhà thờ.
Ở Pháp, các đợt tấn công vào rừng với quy mô lớn nhất đã từng xảy ra vào thế kỷ XI, XII và kéo dài sang đến thế kỷ XIII. «ồ Từ thế kỷ XVI trở đi, Châu Au đã bắt đầu gia tăng các nhu cẩu về gỗ. Vì vậy, ngay từ lúc đó tài nguyên rừng cũng đã được thương mai hóa trên thị trường. + Ngành công nghiệp giấy ra đời và phát triển đã tiêu thụ một khối lượng gỗ đáng kể.
Năm 1950, toàn Thế giới mới chỉ sản xuất được | triệu tấn giấy, vậy mà đến năm 1990 ngành sản xuất giấy đã tăng sản lượng lên tới 80 triệu tấn. Hiện nay, 12 nước Châu Au chỉ còn lại 55 triệu ha rừng, trong đó, chỉ có 1⁄4 diện tích rừng trên là rừng có thể khai thác được. O Trung Cận Đông trước đây có rừng Bắc Phi và rừng trên các nước thuộc cục địa Ấn Độ thì nay cũng đã bị tan phá nặng nể, nhiều khu vực đã trở thành sa mạc và bán sa mạc vĩnh viễn. + GO Viễn Đông thì Trung Quốc là nước có diện tích rừng bị hủy hoại ghê gớm nhất từ trước đến nay, đã để lại hậu quả nghiêm trọng: xói mòn đất đai dữ dội, quá trình hoang hóa đất đai xuất hiện và phát triển, thủy tai khủng khiếp.
+ ỞBắc Mỹ, trước đây tài nguyên rừng tưởng chừng như vô tận, gỗ khai thác được đem bán sang tận Châu Âu. Vậy mà, đến thế kỷ 19 tốc độ khai thác đã lên đến mức báo động. Chỉ trong vòng 2 thế kỷ, nước Mỹ đã mất một diện tích rừng rộng bằng cả Châu Á mất trong 2000 năm. Khoá luận tốt ghiệp GVHD: Ts.
Pham Xuân Hậu Việc tan phá khu rừng ẩm nhiệt đới rộng 463 ha nằm ở vùng Amazone của Nam Mỹ thì thật là khủng khiếp. Bat đầu từ thế kỷ XIX, khi thực dân Châu Au đến Brazil cho đến nay thì họ đã phá hủy mất 45% diện tích khu rừng này. Việc khai phá rừng Amazone để làm đường xa lộ liên vùng là khúc dạo đầu cho các hoạt động tiếp theo để tấn công vào các cánh rừng dọc hai bên xa lộ này. Khu vực gần một con sông thuộc nhánh của sông Amazone, đất sau khi trồng trọt đã trở nên khô cần và biến thành vùng sa mạc rộng lớn.
Ngoài ra, các hoạt động chăn thả gia súc cũng góp phần không nhỏ vào việc đẩy mạnh tốc độ suy giảm tài nguyên rừng và đa dạng sinh học. Trên toàn thế giới, hang năm khoảng 12.550 dặm vuông rừng đã bị thiêu đốt để lấy đất gieo và chăn nuôi, khói bụi mù trời, sa mạc lan rộng, đất đai hoang hóa,. Đó là thảm họa sinh thái đang từng bước de doa sự sinh tổn của nhân loại. Do việc khai thác rừng liên tục qua nhiều thế kỷ như vậy cho nên tính tổng thể cho đến năm 1995 thì diện tích rừng che phủ lục địa chỉ còn 27% (với diện tích 3.727 triệu ha), trong số này, có 1.280 triệu ha rừng cây lá kim (chiếm 33% tổng diện tích rừng tự nhiên) tập trung chủ yếu ở vùng ôn đới, còn lại 2.557 triệu ha rừng cây lá rộng (chiếm 67%) tập trung ở vùng Á nhiệt đới, nhiệt đới và xích đạo.
Về sản phẩm, gỗ là một loại lâm san chủ yếu lấy từ rừng. Theo FAO (1982), tính đến năm 1978, trên diện tích 3.727 tỷ ha rừng còn lại đảm bảo được một trữ lượng gỗ là 359,9 tỷ m’. Ngay từ năm 1970, người ta đã lấy từ rừng một lượng gỗ là 2.374 triệu mỶ gỗ. Liên Xô cũ, nơi có điện tích rừng lớn nhất thế giới (769 triệu ha), trong năm 1975 lượng gỗ bị khai thác cũng lên tới 387,7 triệu mỶ.
Từ năm 1950 đến 1970, tuy diện tích rừng thế giới bị thu hẹp, nhưng nhu cầu về gỗ vẫn tiếp tục tăng lên (trên | tỷ m’, trung bình mỗi năm tăng lên 57 triệu m’) và gỗ xẻ là mặt hàng chủ yếu về nguyên liệu gỗ. sau đó là gỗ làm giấy. Từ năm 1975 đến 1985, mỗi năm nhu cầu về gỗ xẻ tăng 1,7% và nhu cầu về bột gỗ gia tăng là 5,4%. Khoá luận tốt ghiệp GVHD: Ts.
Phạm Xuân Hậu Bảng 1: Chỉ số mất rừng của Thế giới Việt Nam chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, hơn nữa, diện tích lãnh thổ trải dài trên nhiều vĩ độ. Chính vì vậy, thực vật rất đa dạng và phong phú: ở Miền Bắc, có mùa đông lạnh nên có rừng cây lá cứng thường xanh họ Giẻ, họ Hẹ. Ở Miễn Nam, điển hình là rừng nửa thường xanh, ưu thế vẫn là họ Sao Dầu và họ Đậu, phần lớn rụng lá và đặc biệt có rừng rụng lá toàn cây như Bằng Lăng. Ở vài khu vực có mực nước ngắm rất khác nhau trong mùa mưa và mùa khô nên điển hình là rừng kín nửa thường xanh, nhưng cũng có cả ba kiểu trong một hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới vùng thấp, như khu rừng cấm Nam Cát Tiên.
Ở những vùng khô hơn thì hệ sinh thái rừng khô nhiệt đới chiếm ưu thế, có các họ Sao Dầu mọc xen kẽ với họ Đậu; rừng trơ cành trong mùa khô gọi là “rừng khộp” và cây gỗ mọc thưa din cho đến khi thành rừng thưa và trang cỏ lẫn cây to. O trên núi cao thì có thông 2 lá, 3 lá tập trung khoảng trên 200.000 ha ở Đà Lạt, tỉnh lâm Đồng.