Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia, là lá phổi xanh khổng lồ của nhân loại. Rừng là tài nguyên quý giá của nhân loại, rừng giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội loài người. Rừng không chỉ là nơi cung cấp thức ăn, vật liệu xây dựng, thuốc chữa bệnh, tham gia vào quá trình giữ đất, giữ nước, điều hoà khí hậu, phòng hộ và bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn gen động, thực vật, bảo vệ đa dạng sinh học. Bên cạnh đó, rừng là nơi học tập, nghỉ mát, tham quan du lịch do đó rừng đóng góp vai trò rất quan trọng và góp phần đáng kể vào nền kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia.
Rừng có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người, điều đó được khẳng định trong nhiều Công ước quốc tế mà chính phủ Việt Nam đã ký kết như CITES - 1973, RAMSA - 1998, UNCED - 1992, CBD - 1994, UNFCCC - 1994, UNCCD - 1998. Tuy nhiên, tài nguyên rừng đang ngày càng bị suy giảm. Theo FAO, trong mấy chục năm qua trên thế giới đã mất đi trên 200 triệu ha rừng tự nhiên, trong khi đó phần lớn diện tích rừng còn lại bị thoái hoá nghiêm trọng cả về đa dạng sinh học và chức năng sinh thái. Nguyên nhân chủ yếu là do công tác quản lý, sử dụng tài nguyên rừng không hợp lý, không đảm bảo phát triển bền vững, đặc biệt là về mặt xã hội và môi trường.
Hàng năm trên thế giói cháy từ 10 - 15 triệu ha rừng, có năm cháy tới 25-30 triệu ha rừng. Như ở Hoa Kỳ năm 1986 cháy gần 500 ngàn ha rừng, năm 1973 cháy cháy 730 ngàn ha rừng, năm 1994 cháy 860 ha rừng, ở Đông Nam Á những năm gần đây cũng đã xảy ra cháy rừng lớn ở các nước như: Inđônêxia, Thái Lan. gây thiệt hại hàng ngàn ha rừng. Ở Việt Nam theo số liệu thống kê ở Quảng Ninh từ năm 1962 - 1963 bị cháy 15.800 ha rừng thông, ở Huế mùa hè năm 1991 do ý thức kém của người dân 2 làm cháy 300 ha rừng thông, ở An Giang và Long Xuyên trong 3 năm từ 1987 - 1990 làm cháy 2.850 ha rừng tràm.
Đặc biệt nhũng vụ cháy rừng lớn ở u Minh Thượng tháng 2 - 2002 làm cháy 3.212 ha rừng tràm, cháy rừng tại vườn quốc gia Hoàng Liên (Lào Cai) tháng 2-2010 với diện tích là 1.700 ha (Tài liệu tập huấn công tác phòng cháy chữa cháy rừng) [6] Theo ban chỉ đạo trung ương phòng cháy chữa cháy rừng quý I năm nay cả nước xảy ra 45 vụ cháy gây thiệt hại 632 ha rừng. Huyện Văn Chấn là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Yên Bái có 31 xã, thị trấn. Huyện Văn Chấn cách trung tâm kinh tế - chính trị của tỉnh 72 km, cách thị xã Nghĩa Lộ 10 km, có Quốc lộ 32 chạy dọc theo chiều dài của huyện, là cửa ngõ đi vào các huyện Trạm Tấu, Mù Cang Chải (tỉnh Yên Bái); Phù Yên, Bắc Yên (tỉnh Sơn La) và tỉnh Lai Châu, là điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế với các huyện bạn trong tỉnh và các tỉnh giáp ranh. Huyện Văn Chấn có tổng diện tích tự nhiên 120.758,50 ha trong đó: Diện tích đất có rừng: 61.988,81 ha (Rừng tự nhiên: 45.237,10 ha; Rừng trồng: 16.751,71ha); Đất chưa có rừng là: 14.
Độ che phủ toàn huyện là 51,3% (Theo QĐ 578/QĐ của UBND tỉnh về phê duyệt điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng). Văn Chấn là một huyện có địa bàn rộng, địa hình phức tạp, giáp ranh với một số huyện như: Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Văn Yên, Phù Yên, Bắc Yên. Qua theo dõi những năm gần đây, việc đốt nương làm rẫy là nguyên nhân chủ yếu gây ra cháy rừng tại huyện Văn Chấn. Các hộ dân, đặc biệt là các hộ dân vùng cao đốt nương làm rẫy không tuân thủ tốt các quy định về PCCCR đã gây ra các vụ cháy rừng trên địa bàn huyện.
Mặt khác diễn biến thời tiết rất phức tạp, huyện Văn Chấn được chia thành hai vùng rõ rệt: vùng ngoài thường có mưa và ẩm ướt; vùng trong và thượng huyện thường khô hanh, ít mưa. 3 Phù Nham là một xã nằm ở phía Tây của huyện văn Chấn, cách trung tâm huyện 9km. Toàn xã có tổng diện tích tự nhiên là 2. Xã có tiếp giáp với các đơn vị hành chính sau: - Phía Bắc giáp với xã Suối Quyền.
- Phía Nam giáp với xã Thanh Lương. - Phía Đông giáp với xã Suối Giàng. - Phía Tây giáp với xã Sơn A, huyện văn Chấn và xã Nghĩa Lợi, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái. Là xã nằm trên quốc lộ 32 chạy qua dài 1,6km, từ thôn Năm Hăn 1 đến hét thôn Cầu Thia (nối Trung tâm tỉnh Yên Bái với các huyện, thị miền Tây của tỉnh).
Có đường liên huyện chạy qua dài 8,5km, từ Bản Lọng đến hết địa giới Bản Khộn. Địa hình phức tạp, có nhiều đồi núi cao, xen kẽ những dãy núi là những thung lũng hẹp, ruộng lúa nước và các khe suối. Bên cạnh dó có hệ thống Suối Thia, Suối Mùa, Suối Nhì kéo dài và phân bố không đều làm địa hình xã bị chia cắt. Khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Nhiệt độ trung bình trong năm là 22,2 – 380C vào mùa khô hanh, nắng nóng kéo dài từ tháng 10 - 11 năm trước đến tháng 4 - 5 năm sau, thường xuất hiện những đợt gió Lào thổi mạnh là nguy cơ dễ xảy ra cháy rừng. Chính vì vậy cần phải có những nghiên cứu cụ thể về công tác phòng cháy chữa cháy, đánh giá công tác này để làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp để hoàn thiện hơn, từ những lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu “Đánh giá công tác phòng cháy chữa cháy rừng tại xã Phù Nham – huyện Văn Chấn - tỉnh Yên Bái” 1. Mục đích, mục tiêu nghiên cứu 1. Mục đích nghiên cứu Điều tra đánh giá thực trạng công tác PCCCR tại xã Phù Nham, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác PCCCR trên địa bàn xã.
Mục tiêu nghiên cứu Phân tích đánh giá được các yếu tố ảnh hưởng đến cháy rừng và công tác phòng cháy rừng. Từ đó đề xuất được các giải pháp có tính khả thi, hiệu quả để nâng cao chất lượng công tác quản lý bảo vệ rừng tại xã Phù Nham, huyện Văn Chấn. Ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài 1. Ý ngĩa học tập Đề tài có ý nghĩa rất to lớn trong công việc: - Giúp sinh viên làm quen vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế, từ đó tích lũy, học hỏi kinh nghiệm, trau dồi kiến thức từ người dân, cán bộ kiểm lâm.
- Nắm bắt được các phương pháp điều tra, đánh giá công tác PCCCR. Ý nghĩa trong thực tiễn Qua điều tra đánh giá công tác PCCCR từ đó nắm bắt được tình hình thực tế về quản lý BVR tại xã Phù Nham, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, làm tài liệu tham khảo cho xã để công tác PCCCR được tốt hơn. 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Theo tài liệu quản lý lửa rừng của tồ chức Nông Lương thế giói (FAO) cháy rừng là “ sự xuất hiện và lan truyền các đám cháy trong rừng mà không nằm trong sự kiểm soát của con người, gây lên những tổn thất nhiều mặt về tài nguyên, của cải và môi trương.” Một phản ứng cháy xảy ra khi đủ các yếu tố - Vật liệu cháy: Là những chất có khả năng bén lửa và bốc cháy trong điều kiện có đủ nguồn nhiệt và oxy.
- Oxy: oxy tự do luôn sẵn có trong không khí ( nồng độ khoảng 21-22%) và lấp đầy các khoảng trống giữa vật liệu cháy. Khi nồng độ oxy giảm xuống dưới 15% thì không còn khả năng duy trì sự cháy. - Nguồn lửa (nguồn nhiệt gây cháy) Nguồn lửa gây cháy gây ra cháy rừng có nhiều nhưng có thể chia ra làm 2 nhóm: lửa do các hiện tượng tự nhiên và lửa đo các hoat động của con người. + Nguồn lửa do cầc hiện tượng tự nhiên gây ra như sấm sét, núi lửa, động đất, v.
rất khó khống chế. Nguyên nhân này này chiếm tỷ lệ thấp 1- 5% và chỉ xuất hiện trong những điều kiện hết sức thuận lợi cho quá trình phát sinh nguồn lửa tiếp xúc với các vật liệu khô nóng trong rừng. + Trong thực tế nguồn lửa gây ra các đám cháy trong rừng là do con người gây nên như từ các hoạt động cố ý hay vô ý như: đốt nương, đốt ong, đốt lửa sưởi ấm, vv. Theo thống kê nguồn lửa gây cháy rừng do hoạt động của con người chiếm trên 90%.
Nếu thiếu 1 trong 3 nhân tố trên quá trình cháy không xảy ra, sự kết hợp 3 6 nhân tố này tạo thành một tam giác lửa.[7] Nguồn lửa Oxy Vật liệu cháy Hình 2.1: Tam giác lửa Qua hình 1.1 nếu thay đổi giảm hoặc phá hủy 1, hoặc 2 cạnh thì “tam gỉác lửa” sẽ thay đổi phá vỡ, điều đó có nghĩa là đám cháy bị suy yếu hoặc bị dập tắt. Đây cũng là cơ sở khoa học của của công tác PCCCR. Vấn đề PCCCR cũng cần lưu ý cả ba yếu tố trên: − Giảm bờt vật liệu cháy trước mùa khô hanh. − Kiểm soát các nguồn lửa.
− Ngăn sự tiếp xúc của Oxy với vật liệu cháy. Tình hình nghiên cứu về PCCCR trong và ngoài nước 2. Tình hình nghiên cứu về PCCCR trên thế giới Trên thế giới công tác dự báo cháy rùng được tiến hành cách đây hàng trăm năm (Bế Minh Châu, Phùng Văn Khoa, 2002) [7], đến nay đã đưa ra nhiều phương pháp khác nhau và được áp dụng ở nhiều nơi tùy thuộc vào từng quốc gia và lãnh thổ (Lê Sỹ Trung, Đặng Kim Tuyến, 2003) [13] Ở Hoa Kỳ năm 1914, E.Show đã đưa ra phương'pháp dự 7 báo cháy rừng thông qua việc xác định độ ẩm của tầng thảm mục trong rừng với các yếu tố khí tượng thủy văn, để từ đó đề ra những biện pháp PCCCR. Họ cho rằng độ ẩm của thảm mục rừng nói lên mức độ khô hạn của rừng.
độ khô hạn càng cao thì khả năng xuất hiện cháy rừng càng lớn. Ở Nga trong những năm 1929 - 1940 Nesterop đã tiến hành nghiên .