Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Tìm hiểu địa danh tỉnh Ninh Thuận" do sinh viên Huỳnh Thị Thu Thúy thực hiện năm 2011 tại Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của GVC. ThS Trần Văn Thanh. Nghiên cứu thuộc phân ngành Địa danh học – một lĩnh vực liên ngành nằm ở giao điểm giữa Địa lí học, Ngôn ngữ học, Lịch sử học và Dân tộc học.
Lý do chọn đề tài
- Về mặt khoa học: Địa danh phản ánh toàn diện các phương diện đời sống xã hội, là chứng tích lịch sử, địa lý, văn hóa và kinh tế của cộng đồng cư dân. Được cấu tạo từ chất liệu ngôn ngữ và chịu sự chi phối của quy luật ngữ âm, địa danh cung cấp nguồn tư liệu thực chứng cho ngữ âm học, ngữ pháp học, từ vựng học và phương ngữ học. Việc nghiên cứu địa danh Ninh Thuận đóng góp vào việc hệ thống hóa phương pháp luận cho ngành địa danh học Việt Nam vốn còn non trẻ.
- Về mặt thực tiễn: Ninh Thuận là vùng đất có sự tiếp xúc và giao thoa văn hóa lâu đời giữa người Chăm, người Raglai, người Kinh và dấu ấn thời kỳ thuộc Pháp. Trải qua các biến động lịch sử, nhiều tên gọi Nôm thuần Việt, từ ngữ địa phương và địa danh gốc dân tộc thiểu số đóng vai trò gìn giữ bản sắc văn hóa. Dưới góc độ sư phạm, đề tài cung cấp hệ thống tri thức địa lý - lịch sử địa phương phục vụ công tác giảng dạy và giáo dục học sinh.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu địa danh dưới góc độ ngôn ngữ học kết hợp điều tra thực tế nhằm làm sáng tỏ phương thức cấu tạo, ngữ nghĩa và quá trình biến đổi địa danh tại Ninh Thuận; góp phần lưu giữ lịch sử tiếng Việt, bảo tồn phương ngữ địa phương và phục nguyên nguồn gốc các địa danh bị mờ nghĩa.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Thống kê toàn diện hệ thống địa danh trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận.
- Phân loại địa danh theo đối tượng phản ánh và nguồn gốc ngữ nguyên.
- Phân tích các phương thức định danh, cấu tạo ngữ pháp và đặc điểm phản ánh hiện thực.
- Giải thích, mô tả nguồn gốc và ý nghĩa của các địa danh tiêu biểu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ hệ thống địa danh chỉ đối tượng tự nhiên (sông, suối, núi, đồi, vũng, đầm, bãi, đèo, đảo) và đối tượng nhân tạo (công trình xây dựng, công trình văn hóa - lịch sử, địa danh hành chính, địa danh chỉ vùng) trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận.
- Phạm vi không gian: Tỉnh Ninh Thuận (bao gồm 1 thành phố và 6 huyện).
- Giới hạn nghiên cứu: Do giới hạn thời gian, đề tài tập trung khảo sát, phân loại 1.377 địa danh tiêu biểu được ghi nhận qua bản đồ, tài liệu hành chính và khảo sát điền dã thực tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và khái niệm
Khóa luận vận dụng định nghĩa địa danh học: địa danh là những từ hoặc ngữ cố định, được dùng làm tên riêng cho các dạng địa hình thiên nhiên, công trình xây dựng, đơn vị hành chính và vùng lãnh thổ. Khung phân loại kế thừa hệ thống lý thuyết của PGS.TS Lê Trung Hoa (1991), phân chia địa danh theo hai trục:
- Theo đối tượng: Địa danh chỉ đối tượng tự nhiên (địa hình cao, địa hình thấp, thủy văn) và địa danh chỉ đối tượng nhân tạo (công trình xây dựng, đơn vị hành chính, vùng lãnh thổ không có ranh giới hành chính cố định).
- Theo ngữ nguyên: Địa danh thuần Việt, địa danh gốc Hán Việt, địa danh gốc các dân tộc thiểu số (Chăm, Raglai) và địa danh gốc nước ngoài (tiếng Pháp).
Nguyên tắc nghiên cứu địa danh học
Khóa luận tuân thủ 5 nguyên tắc do Lê Trung Hoa tổng hợp trên cơ sở kế thừa các nhà địa danh học quốc tế (A. Popov, Charles Rostaing, E. Murzaev, A.V. Superanskaja):
- Am hiểu lịch sử địa bàn nghiên cứu (các biến cố chính trị, sự thay đổi địa giới hành chính, quá trình cộng cư).
- Am hiểu đặc điểm địa hình thực tế (địa hình cao chiếm ưu thế sinh ra nhiều tên gọi gắn với núi, hòn; địa hình khô hạn sinh ra nhiều tên gọi gắn với đập, hồ).
- Tìm kiếm các hình thức cổ của địa danh (tránh suy diễn ý nghĩa dựa trên chữ viết và ngữ âm hiện đại).
- Nắm vững đặc điểm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của phương ngữ địa phương (nhận diện hiện tượng lẫn lộn phụ âm cuối, dấu hỏi - ngã).
- Thận trọng khi vận dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ học (tránh lạm dụng phương pháp phân tích thành tố dẫn đến kết luận khiên cưỡng).
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập tài liệu: Tập hợp nguồn tư liệu từ bản đồ địa hình, sách địa phương chí, công báo hành chính và các công trình nghiên cứu đi trước.
- Phương pháp điền dã thực địa: Quan sát trực tiếp đối tượng mang tên gọi, ghi chép hiện trạng không gian, xác minh vị trí địa lý và sửa sai các sai lệch trên bản đồ xuất bản.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Phân tích đồng đại và lịch đại nhằm so sánh địa danh Ninh Thuận với các tỉnh lân cận (như Khánh Hòa); đối chiếu hình thức cổ và hình thức hiện đại để phục nguyên dạng gốc của địa danh bị chuyển hóa.
- Phương pháp khảo sát bản đồ: Đối chiếu hệ thống bản đồ địa hình và bản đồ hành chính qua các thời kỳ lịch sử để xác định chu kỳ xuất hiện, tồn tại và mất đi của địa danh.
- Phương pháp phỏng vấn nhân chứng: Trao đổi với người cao tuổi, nhân sĩ am hiểu văn hóa địa phương để thu thập nguồn gốc dân gian của các địa danh đã bị mai một.
Nguồn dữ liệu sử dụng
Khóa luận khai thác 8 nguồn tư liệu chính:
- Văn bản pháp lý và niên giám hành chính nhà nước qua các thời kỳ (các nghị định, quyết định phân vạch địa giới hành chính).
- Địa phương chí và thư tịch cổ (Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Đại Nam nhất thống chí, Phương Đình dư địa chí).
- Bản đồ địa hình, quân sự và hành chính tỉnh Ninh Thuận qua các giai đoạn.
- Báo chí địa phương và cổng thông tin điện tử tỉnh Ninh Thuận.
- Danh mục số liệu, thống kê từ các cơ quan quản lý nhà nước (Sở Giao thông Vận tải, Cục Thống kê, Chi cục Thủy lợi).
- Từ điển cổ và từ điển song ngữ (Từ điển An Nam - Lusitan - La Tinh của Alexandre de Rhodes, từ điển của P. de Béhaine, Taberd, Huỳnh Tịnh Của, Génibrel).
- Tư liệu điều tra điền dã trực tiếp của tác giả.
- Các tài liệu lý luận địa danh học trong và ngoài nước (công trình của Nguyễn Tài Cẩn, Albert Dauzat, Charles Rostaing, A.V. Superanskaja).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát tỉnh Ninh Thuận
Chương 1 cung cấp bức tranh toàn cảnh về điều kiện tự nhiên, tiến trình lịch sử, đặc điểm nhân văn và kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Thuận làm cơ sở hiện thực cho các phân tích địa danh ở chương sau.
- Đặc điểm môi trường tự nhiên:
- Vị trí và địa hình: Nằm ở tọa độ 11°18'14'' đến 12°09'15'' vĩ Bắc, 108°09'08'' đến 109°14'25'' kinh Đông; bờ biển dài 105 km, vùng lãnh hải trên 18.000 km². Địa hình thấp dần từ tây bắc xuống đông nam, ba mặt bao bọc bởi núi: vùng núi cao chiếm 63,2%, gò đồi chiếm 14,4%, đồng bằng ven biển chiếm 22,4% diện tích tự nhiên.
- Khí hậu và thủy văn: Khí hậu nhiệt đới gió mùa khô nóng điển hình, nhiệt độ trung bình năm 27°C, lượng mưa thấp nhất nước (700 - 800 mm/năm tại Phan Rang - Tháp Chàm). Mạng lưới thủy văn gồm hệ thống sông Cái ở phía nam (dài 246 km, lưu vực 1.500 km² với các phụ lưu sông Trà Co, sông Sắt, sông Chà Mơ, sông Dầu, sông Than, sông Quao, sông Lu) và các sông ngắn phía bắc (sông Trâu, sông Bà Râu, sông Quán Thẻ).
- Tài nguyên: Bờ biển có 3 cửa khẩu biển chính (Đông Hải, Cà Ná, Khánh Hải); hơn 500 loài cá, tôm; trữ lượng rừng đạt gần 11 triệu m³ gỗ; khoáng sản gồm đá granite, cát silic, mỏ nước khoáng (Tân Mỹ, Nhị Hà) và tiềm năng sản xuất muối công nghiệp (Quán Thẻ, Cà Ná, Đầm Vua, Phương Cựu).
- Đặc điểm môi trường nhân văn:
- Lược sử hình thành và biến động hành chính: Vùng đất thuộc Chiêm Thành cổ. Năm 1692, chúa Nguyễn Phúc Chu đặt trấn Thuận Thành; năm 1697 lập phủ Bình Thuận. Năm 1832 đổi thành tỉnh Bình Thuận gồm phủ Ninh Thuận và Hàm Thuận. Ngày 20/05/1901 thành lập tỉnh Phan Rang; năm 1913 bị sáp nhập vào Khánh Hòa và Bình Thuận; ngày 05/07/1922 tái lập tỉnh Ninh Thuận (gồm 3 quận: Thanh Hải, An Phước, Bửu Sơn). Năm 1960 lập thêm quận Du Long; trước 1975 có 5 quận (Thanh Hải, An Phước, Bửu Sơn, Du Long, Sông Pha). Sau 1975, hợp nhất thành tỉnh Thuận Lâm rồi tỉnh Thuận Hải (1976). Ngày 26/12/1991, Quốc hội chia tách tỉnh Thuận Hải, tái lập tỉnh Ninh Thuận (thị xã Phan Rang - Tháp Chàm và 3 huyện Ninh Sơn, Ninh Hải, Ninh Phước). Các nghị định tiếp theo thành lập huyện Bác Ái (2000), Thuận Bắc (2005) và Thuận Nam (2009), nâng tổng số đơn vị lên 1 thành phố và 6 huyện.
- Dân cư và văn hóa: Dân số thời điểm 01/04/2009 là 564.000 người, mật độ 168 người/km² với 28 dân tộc, đông nhất là người Kinh, người Chăm (57,1 nghìn người, chiếm 43% tổng số người Chăm cả nước) và người Raglai (47,6 nghìn người). Văn hóa Chăm đậm nét qua hệ thống tháp cổ (Hòa Lai thế kỷ IX, Pôklông Garai thế kỷ XIII, Pôrômê thế kỷ XVII) và làng nghề truyền thống (gốm Bàu Trúc, dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp).
- Kinh tế - hạ tầng: Phát triển muối công nghiệp, khai thác chế biến đá granite, nước khoáng đóng chai, trồng nho (60.000 - 65.000 tấn/năm), cây neem, chăn nuôi gia súc (bò, dê, cừu); hạ tầng công nghiệp tập trung tại KCN Du Long (430 ha), KCN Phước Nam (400 ha), KCN Dốc Hầm - Phước Diêm (500 ha).
Chương 2: Thống kê, phân loại, đặc điểm địa danh tỉnh Ninh Thuận
Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận, tiến hành thống kê định lượng 1.377 địa danh và phân tích toàn diện các đặc trưng ngôn ngữ học, phương thức định danh và quy luật chuyển hóa.
| Nhóm địa danh |
Phân loại chi tiết |
Số lượng |
Tỷ lệ (%) |
| Địa danh chỉ địa hình tự nhiên |
Tổng nhóm tự nhiên |
259 |
18,81% |
|
Tên sông |
33 |
2,40% |
|
Tên suối |
49 |
3,56% |
|
Tên vũng, đầm, phá, bãi |
25 |
1,82% |
|
Tên núi, hòn |
134 |
9,73% |
|
Tên đèo |
5 |
0,36% |
|
Tên đảo |
13 |
0,94% |
| Địa danh nhân văn |
Tổng nhóm nhân văn |
1.118 |
81,19% |
| 1. Công trình xây dựng |
Cầu |
89 |
6,46% |
|
Chợ |
83 |
6,03% |
|
Đường, lộ |
171 |
12,42% |
|
Hồ |
12 |
0,87% |
|
Đập |
53 |
3,85% |
|
Kênh |
10 |
0,73% |
|
Cảng |
4 |
0,29% |
|
Công viên |
4 |
0,29% |
|
Khu/điểm du lịch |
56 |
4,07% |
|
Khu/cụm công nghiệp |
10 |
0,73% |
| 2. Công trình văn hóa, lịch sử |
Chùa |
134 |
9,73% |
|
Đình, đền |
17 |
1,23% |
|
Miếu, mộ |
3 |
0,22% |
|
Tháp |
3 |
0,22% |
| 3. Địa danh chỉ vùng |
Địa danh vùng không ranh giới |
8 |
0,58% |
| 4. Địa danh hành chính |
Huyện, thành phố |
7 |
0,51% |
|
Xã |
47 |
3,41% |
|
Phường |
15 |
1,09% |
|
Thị trấn |
3 |
0,22% |
|
Thôn, buôn, khu phố |
389 |
28,25% |
| Tổng cộng |
Toàn bộ địa danh khảo sát |
1.377 |
100,00% |
- Các phương thức định danh chính:
- Phương thức tự tạo:
- Dựa vào đặc điểm bản thân đối tượng: hình dáng (núi Đá Cao, núi Đá Chồng), kích thước (hồ Suối Lớn, sông Cái, cầu Cao, núi Một), tính chất (núi Hòn Dẻ, kinh Tân, suối Tím), màu sắc (cầu Trắng, núi Xanh, cầu Đá Bạc), vật liệu xây dựng (cầu Móng), kiến trúc (cầu Tám Thước).
- Dựa vào thực thể có quan hệ mật thiết: địa hình lân cận (núi Bà Râu, hồ Sông Sắt), vị trí (cầu Tây), nghề nghiệp (làng gốm Bàu Trúc, cầu Nước Đá), nhân danh người có công (cầu Ông Cọp, làng Ông Hải Chữ), thực vật (di tích Cây Me Bảo An, cầu Chà Là, núi Quýt), động vật (núi Ngỗng, sông Trâu), biến cố lịch sử (Đề pô xe lửa Tháp Chàm, Căn cứ CK7), nguồn gốc và tín ngưỡng (núi Tả Năng, núi Chùa).
- Ghép yếu tố Hán Việt mang ý nghĩa cát tường: Ninh Phước, Phước Hòa, Phước Tiến, Phước Mỹ, Mỹ Bình.
- Dùng số đếm hoặc chữ cái: phường 2, khu phố 3, Hòn Lạc 1, thôn La A, quốc lộ 1A, quốc lộ 27B.
- Phương thức chuyển hóa:
- Chuyển hóa nội bộ: suối Vĩnh Hy → vịnh Vĩnh Hy; sông Ba Râu → núi Ba Râu; xã Văn Hải → phường Văn Hải; sông Pha → đèo Sông Pha.
- Chuyển hóa giữa các loại: tự nhiên sang công trình/hành chính/vùng (sông Than → cầu treo Sông Than; suối Đá → thôn Suối Đá; xóm Bánh → vùng Xóm Bánh); công trình sang tự nhiên/hành chính (chùa Chà Bang → núi Chà Bang; đập Hiệp Kiết → thôn Hiệp Kiết); hành chính sang tự nhiên/công trình/vùng (thôn Dư Khánh → núi Dư Khánh; thôn Tri Thủy → chợ Tri Thủy); nhân danh sang địa danh (Pi Năng Tắc → bẫy đá Pi Năng Tắc; vua Pôklông Garai → tháp Pôklông Garai); địa danh chuyển thành vật danh (nước mắm Cà Ná, báo Ninh Thuận).
- Phương thức vay mượn: Vay mượn tiếng Chăm (bãi biển Cà Ná, núi Tả Năng, suối Ma Ty), tiếng Raglai (núi Rai, suối Vàng, suối Ya, núi Ink), tiếng Pháp (di tích Đề pô xe lửa Tháp Chàm).
- Cấu tạo của địa danh:
- Cấu tạo đơn: Gồm các từ đơn tiết hoặc đa tiết thuần Việt (kinh Bắc, suối Me, bãi Thùng, núi Quýt, núi Đen, cầu Gãy, suối Sôi, núi Một) hoặc từ vay mượn (sông Cái, kinh Tân, suối Vang, suối Rớ, núi Rai, Đề pô).
- Cấu tạo phức:
- Quan hệ đẳng lập: đường Tản Đà, xã Phước Mỹ.
- Quan hệ chính phụ: Thuần Việt (suối Nước Ngọt, núi Đá Chồng, hồ Sông Sắt, suối Ma Nới 1, đường Ba Huyện Thanh Quan); Hán Việt (Mỹ Nghiệp, Đô Vinh, Nhị Hà, Phước Chiến, Lâm Sơn); Vay mượn (xã Ma Nới, đồi Gô Krăng, núi Đia Bil); Hỗn hợp đa ngữ (chùa Chà Bang, TP. Phan Rang - Tháp Chàm, phường Văn Hải, huyện Thuận Nam, Đề pô xe lửa Tháp Chàm).
- Quan hệ chủ vị: bẫy đá Pinăngtắc, di tích Lăng Ông Hải Chữ.
- Lớp từ ngữ địa phương và từ cổ:
- Từ ngữ địa phương: gành (bờ nhô ra biển), bàu (vùng trũng ngập nước), ghềnh (tập hợp trụ đá), đèo, mũi.
- Từ cổ và từ lịch sử: gò (đất nhô cao), hóc (vách đá ăn lõm sâu), lăng (ở Ninh Thuận mang nét đặc thù chỉ nơi an táng và thờ cúng cá voi của ngư dân - Lăng Ông), tháp (công trình kiến trúc tôn giáo Chăm).
- Đặc điểm nguồn gốc, phản ánh hiện thực và chuyển biến:
- Nguồn gốc ý nghĩa: Phân hóa giữa lớp địa danh rõ nghĩa (từ thuần Việt, từ Hán Việt cát tường) và lớp mờ nghĩa do biến âm phương ngữ, phát âm chệch phụ âm/dấu hỏi - ngã (Ninh Chử → Ninh Chữ, Hương Cựu → Phương Cựu, Chuy Thủy → Tri Thủy) hoặc từ Chăm/Raglai bị Việt hóa (sông Ô Cam, núi Cha Bang).
- Phản ánh hiện thực: Thể hiện rõ nét các giá trị lịch sử (Căn cứ CK7, bẫy đá Pinăngtắc), địa lý tự nhiên (núi Chuân, sông Cái), kinh tế nghề nghiệp (xóm Bánh, xóm Lò Heo, làng gốm Bàu Trúc), văn hóa dân tộc và tín ngưỡng (xóm Chùa, xóm Đạo, tập quán mẫu hệ).
- Chuyển biến và nguyên nhân: Địa danh thay đổi do ngữ âm, in ấn sai lệch, nguyên nhân hiện thực (đối tượng mới ra đời hoặc mất đi), nguyên nhân chính trị (thay đổi thể chế, phân vạch lại địa giới) và nguyên nhân tâm lý xã hội (chuộng dùng yếu tố Hán Việt hoặc xu hướng đánh số).
- So sánh địa danh Ninh Thuận với tỉnh Khánh Hòa:
Ninh Thuận có 63,2% diện tích là đồi núi với đặc trưng sử dụng phổ biến yếu tố "hòn", mật độ suối dày nhưng ít sông lớn, đặc biệt có nhiều hồ (12) và đập thủy lợi (53) do khí hậu khô hạn. Ngược lại, tỉnh Khánh Hòa có dải đồng bằng hẹp bị chia cắt bởi nhiều dãy núi đâm thẳng ra biển, đường bờ biển dài 385 km với khoảng 200 hòn đảo lớn nhỏ và nhiều vịnh sâu; dẫn đến hệ thống địa danh Khánh Hòa xuất hiện dày đặc các địa danh chỉ đèo (đèo Cả, đèo Cổ Mã, đèo Chín Cụm, đèo Bánh Ít, đèo Rọ Tượng, đèo Rù Rì) và địa danh vịnh, đảo lớn (vịnh Vân Phong, vịnh Nha Phu, vịnh Cam Ranh, Đầm Môn, Hòn Khói).
Chương 3: Nguồn gốc và ý nghĩa của một số địa danh ở Ninh Thuận
Chương 3 đi sâu miêu tả, giải thích từ nguyên và bối cảnh lịch sử của các địa danh cụ thể theo phân loại:
- Địa danh chỉ đối tượng tự nhiên: Nhóm địa danh núi, hòn (núi Cà Đú, núi Chà Bang, núi Đá Chồng, Hòn Đỏ) và nhóm địa danh đầm, vịnh (Đầm Nại, vịnh Vĩnh Hy).
- Địa danh chỉ đối tượng nhân văn:
- Công trình xây dựng và giao thông: cầu Móng, cầu Đạo Long, cảng Cà Ná, đập Nha Trinh, đập Lâm Cấm.
- Di tích lịch sử, đình, tháp: tháp Pôklông Garai, tháp Hòa Lai, tháp Pôrômê, đình Vạn Phước, đình Tri Thủy, lăng Ông Đông Hải, căn cứ cách mạng CK7, bẫy đá Pi Năng Tắc.
- Địa danh hành chính: Lịch sử tên gọi thành phố Phan Rang - Tháp Chàm (gốc từ Panduranga của Chămpa kết hợp cụm tháp Chàm); các huyện Ninh Phước, Ninh Hải, Ninh Sơn, Thuận Bắc, Thuận Nam, Bác Ái; các làng nghề truyền thống (Bàu Trúc, Mỹ Nghiệp).
- Địa danh chỉ vùng: vùng Ba Tháp, vùng Xóm Bánh, vùng Mỹ Tường, vùng Hòn Bà, vùng Từ Thiện.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Khảo sát và lập danh mục định lượng 1.377 địa danh tỉnh Ninh Thuận; xác định nhóm địa danh nhân văn chiếm ưu thế tuyệt đối (81,19% với 1.118 địa danh), trong khi nhóm tự nhiên chiếm 18,81% (259 địa danh).
- Nhận diện 4 nhóm công trình nhân văn chiếm tỷ trọng lớn: công trình xây dựng (35,73%), địa danh hành chính (33,48%), công trình văn hóa - lịch sử (11,40%) và địa danh chỉ vùng (0,58%).
- Xác lập các phương thức định danh đặc thù: tự tạo (dựa trên thuộc tính bản chất, quan hệ không gian, nhân danh, động - thực vật, Hán Việt hóa, số hóa), chuyển hóa đa chiều và vay mượn đa ngữ.
- Làm sáng tỏ các quy luật biến đổi ngữ âm, hiện tượng đồng hóa âm học dẫn đến mờ nghĩa địa danh tại Ninh Thuận (Ninh Chử → Ninh Chữ, Hương Cựu → Phương Cựu, Chuy Thủy → Tri Thủy).
Đóng góp khoa học và thực tiễn
- Về mặt lý luận: Khóa luận vận dụng và hoàn thiện khung phương pháp luận địa danh học của Lê Trung Hoa vào một địa bàn cụ thể có tính chất đa dân tộc và khí hậu đặc thù; chứng minh mối liên hệ hữu cơ giữa địa danh học với ngữ âm học, từ vựng học và phương ngữ học tiếng Việt.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp tài liệu tra cứu có hệ thống phục vụ công tác chuẩn hóa địa danh, quản lý địa giới hành chính của chính quyền địa phương; hỗ trợ tư liệu cho ngành giáo dục địa phương và quy hoạch du lịch văn hóa - sinh thái tỉnh Ninh Thuận.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn về thời gian và phạm vi của một khóa luận tốt nghiệp đại học, công trình chỉ mới dừng lại ở việc thống kê, phân loại các địa danh tiêu biểu; một số địa danh cổ bắt nguồn từ tiếng Chăm và tiếng Raglai ở các buôn làng vùng sâu huyện Bác Ái và Ninh Sơn chưa được truy nguyên triệt để về mặt ngữ nghĩa gốc.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát điền dã chuyên sâu về hệ thống địa danh Raglai và Chăm cổ; đối chiếu văn bản cổ Chữ Chăm trên bia ký; xây dựng thành bộ từ điển địa danh tỉnh Ninh Thuận hoàn chỉnh với đầy đủ tọa độ không gian và lịch sử biến đổi.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Giảng viên, sinh viên các ngành Sư phạm Địa lí, Địa lí học, Ngôn ngữ học, Văn hóa học và Lịch sử học trong việc tiếp cận phương pháp nghiên cứu địa danh một vùng lãnh thổ.
- Các nhà nghiên cứu văn hóa Chăm và văn hóa Nam Trung Bộ muốn khai thác kho ngữ liệu địa phương và dấu ấn lịch sử qua tên gọi địa lý.
- Cán bộ quản lý hành chính, cơ quan văn hóa - thông tin và ngành du lịch tỉnh Ninh Thuận khi thực hiện công tác đặt tên đường phố, lập hồ sơ di tích và biên soạn cẩm nang du lịch địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu phân loại 1.377 địa danh tỉnh Ninh Thuận được phân chia như thế nào?
Tổng số 1.377 địa danh được chia thành hai nhóm lớn: nhóm địa danh chỉ địa hình tự nhiên gồm 259 địa danh (chiếm 18,81%) và nhóm địa danh nhân văn gồm 1.118 địa danh (chiếm 81,19%). Trong nhóm nhân văn, công trình xây dựng có 492 địa danh (35,73%), địa danh hành chính có 461 địa danh (33,48%), công trình văn hóa - lịch sử có 157 địa danh (11,40%) và địa danh chỉ vùng có 8 địa danh (0,58%).
2. Yếu tố khí hậu và địa hình Ninh Thuận chi phối đặc điểm địa danh tự nhiên và công trình như thế nào?
Địa hình núi cao chiếm 63,2% diện tích khiến yếu tố "hòn" và "núi" xuất hiện với tần suất cao (134 địa danh). Đặc trưng khí hậu khô nóng, lượng mưa thấp (700 - 800 mm/năm) khiến hệ thống sông ít phát triển (33 tên sông), suối chiếm đa số (49 tên suối), đồng thời thúc đẩy sự ra đời của một số lượng lớn các công trình tích trữ nước nhân tạo phục vụ sản xuất với 53 địa danh đập và 12 địa danh hồ chứa.
3. Những nguyên nhân chính nào khiến một số địa danh ở Ninh Thuận bị mờ nghĩa hoặc thay đổi cách phát âm?
Nguyên nhân gồm có: hiện tượng biến âm phương ngữ do phát âm lẫn lộn phụ âm cuối và dấu hỏi - ngã (Ninh Chử → Ninh Chữ); sai sót trong quá trình in ấn và ghi chép bản đồ (Hương Cựu → Phương Cựu, Chuy Thủy → Tri Thủy); và quá trình Việt hóa các từ gốc Chăm, Raglai đơn tiết khiến dạng gốc bị che khuất (sông Ô Cam, núi Cha Bang, hòn Nước Nhĩ).
4. Tên gọi thành phố Phan Rang - Tháp Chàm có nguồn gốc cấu tạo từ đâu?
Địa danh Phan Rang - Tháp Chàm là một địa danh hỗn hợp. Thành tố "Phan Rang" là dạng phiên âm Việt hóa từ địa danh cổ "Panduranga" của người Chăm; thành tố "Tháp Chàm" được ghép thêm để chỉ quần thể kiến trúc tháp Chăm (tiêu biểu là cụm tháp Pôklông Garai) tọa lạc trên địa bàn.
5. Địa danh "Lăng" ở tỉnh Ninh Thuận có điểm gì đặc biệt so với khái niệm thông thường?
Thông thường, từ "lăng" chỉ nơi chôn cất, giữ thi hài của vua chúa hoặc danh nhân. Tại vùng ven biển Ninh Thuận, do tín ngưỡng dân gian của ngư dân, từ "lăng" (như Lăng Ông) còn mang ý nghĩa đặc thù chỉ nơi chôn cất và lập đền thờ cúng xác cá voi (cá Ông) trôi dạt vào bờ.
Kết luận
Khóa luận "Tìm hiểu địa danh tỉnh Ninh Thuận" của Huỳnh Thị Thu Thúy là công trình khảo cứu chuyên khảo, hệ thống hóa toàn diện 1.377 địa danh trên địa bàn tỉnh theo phương pháp luận địa danh học hiện đại. Nghiên cứu đã làm sáng rõ cấu trúc ngữ pháp, các phương thức định danh tự tạo, chuyển hóa, vay mượn cũng như quy luật biến đổi địa danh gắn liền với điều kiện tự nhiên khô hạn và tiến trình lịch sử đa văn hóa Việt - Chăm - Raglai. Đây là nguồn tư liệu khoa học xác thực, đóng góp thiết thực cho nghiên cứu ngôn ngữ học địa phương, giáo dục địa lý và công tác quản lý văn hóa - hành chính tại Ninh Thuận.