CHƯƠNG 1. Cơ sở khoa học về địa danh 1. Khái niệm Theo Lê Trung Hoa, địa danh là những từ hoặc ngữ, được ding làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thô và các công trình xây dựng thiên vẻ không gian hai chiều. Trước địa danh, ta có the đặt một danh từ chung chỉ tiểu loại địa danh đó, vi dụ như: thác Dalanta, hồ Lak, núi Lang Biang, thành phố Da Lạt.
Địa danh du lịch là tên riêng của các đối tượng tự nhiên hay các đối tượng kinh tế xã hội mà chúng được khai thác dé phục vụ cho mục dich du lich như nghỉ ngơi, chữa bệnh, van hóa, nghệ thuật. Địa danh du lịch tự nhiên là tên của các đối tượng tự nhiên như địa hình, thủy văn, sinh vật và các đối tượng này được khai thác nhằm thu hút khách du lịch đồng thời bảo tồn những giá trị sẵn có của chúng. Địa danh du lịch nhân văn là tên của các đối tượng kinh tế xã hội do con người tạo ra nhằm sử dụng cho mục đích phục vụ du lịch, các đối tượng chủ yếu là các công trình xây dựng. Phân loại Phân loại địa danh là sự phân chia địa danh thành các kiểu, nhóm khác nhau, dựa trên những đặc tính cơ bản về địa lí cũng như về ngôn ngữ và lịch sử.
Phân loại địa danh có thể giúp cho việc nghiên cứu đạt kết quả cao, đồng thời cũng giúp cho việc sử dung địa danh được thuận tiện hơn. Đây cũng là vấn đề cân thiết nhất là đối với địa lí học nên cũng đã có một sô tác gid dé cập tới. Phân loại địa danh đã có nhiều công trình cúa các | THY VtEN Trường Herr Pham tác giả trong và ngoải nước. Trên cơ sở tham khảo sơ dé phân loại của các tác gia Nguyễn Văn Âu và Lê Trung Hoa, tôi xin để xuất sơ đỏ phân loại địa danh như sau: Địa danh Đối tượng tự nhiên Đối tượng KT-XH Thủy Lâm.
Sơ dé phân loại địa danh theo đối tượng Địa danh thuần Địa danh Hán Địa danh các Địa danh ngoại Việt Việt ngôn ngữ dân tộc ngữ Hình 1. Sơ đồ phân loại địa danh theo ngữ nguyên (dẫn theo Lê Trung Hoa) 21 1. Đặc điểm cơ bản về địa danh 1. Phương thức đặt địa danh Theo Lê Trung Hoa, tử trước tới nay, người dân Việt Nam đã sử dụng 2 phương thức chủ yeu dé đặt địa danh đó là phương thức tự tạo va phương thức chuyên hóa.
Phương thức tự tạo Đây la phương thức cơ bản dé tạo địa danh, gồm S5 cách sau: a. Dựa vào đặc điểm của chính bản thân đối tượng dé đặt tên Cách này thường áp dụng cho 2 loại địa danh chỉ đối tượng tự nhiên và địa danh chi công trình xây dựng ít áp dụng cho các địa danh còn lại. - Gọi theo hình dạng đối tượng - hình ảnh quan sát được dé đặt tên, ví dụ: hang đá Ba Tang, thác Bảy Nhánh, nha thờ Con Gà, thác Chín Tang, vườn hoa Hỗ Rong, thác Ba Tang, thác Bay Tang, chùa Hai Con Ngựa, đôi Cù. - Gọi theo kích thước đối tượng: thác Lớn (thác Yang Yung), thác Nhỏ (thác Yang Nhi).
- Gọi theo màu sắc đối tượng: thung lũng Hong, hồ Suối Vàng. - Gọi theo tính chất đối tượng: chợ Mới (chợ Đà Lạt ngày nay), chợ Cũ (chợ Đà Lạt ngày trước). - Gọi theo vật liệu xây dựng: nhà thờ Gỗ. Dựa vào sự vật, yếu tố có quan hệ chặt chẽ với đối tượng dé gọi - Gọi theo vị trí của đối tượng so với đối tượng khác: thượng Sẻ San, thượng Sêrêpôk, hỗ Tây.
22 - Gọi theo tên người nôi tiếng trong vùng: hon Ông Nhạc, hòn Bình, huyện M'Đräk. - Gọi theo tên cây co mọc hoặc trồng nhiêu ở đó: đèo Chuỗi. - Gọi theo cảm thú sống hoặc nuôi ở dé: núi Voi, thác Hang Cop, thác Voi. - Gọi theo vật thé có nhiều ở nơi đó: thác Trâu Đá, suối Đá Bàn, sudi Đá Trang.
- Gọi theo tên công trình xây dựng ở do: tháp Yang Prông, công viên Đăk Nia, khách sạn Thông Xanh,. - Gọi theo biển cố lịch sử hay nhân danh có liên hệ trực tiếp đến đối tượng: thác Gia Long, thác Bao Đại, biệt thự Hằng Nga. biệt điện Trần Lệ Xuân, đường Yersin, thác Trinh Nữ, hỗ Doan Văn, trang nước KS'rai,. Ghép các yếu tố Hán Việt dé đặt tên Cách này thường dùng để đặt tên các đơn vị hảnh chính, công trình xây dựng đặc biệt là chùa, thiền viện, nhà thờ.
Hau hết các yếu tố này đều mang ý nghĩa tốt đẹp như Tân, An, Phú, Bình, ví dụ: nhà thờ Đức An, nhà thờ Hòa An, chùa Nghĩa Hưng, chùa Quang Đức. Dùng số đếm hay chữ cái dé đặt tên Cách này thường áp dụng cho các địa danh hành chính, công trình xây dựng. ví dụ: khách sạn 197, hồ 721 e. Dùng cả số đếm - chữ cái kết hợp với các yếu tố Hán Việt - Từ Hán Việt + với chữ cái: thủy điện Vĩnh Sơn B, căn cứ Hy va Hy.
Phương thức chuyển hóa 23 Chuyên hóa là phương thức biến một địa danh này thành một hoặc nhiều địa danh khác. Trong quá trình chuyên hóa, địa danh mới có thé giữ nguyên dạng của địa danh cũ, hoặc thêm một yếu tổ mới. Sau khi chuyên hóa, địa danh cũ có thê mat đi hoặc cùng tòn tại với địa danh mới. Sự chuyên hóa có thé xảy ra trong nội bộ một loại địa danh hay từ một loại nảy sang nhiều loại địa danh khác.
Cũng có thé xếp vào phương thức nay những địa danh vốn có nguồn gốc nhân danh, hay địa danh ở vùng khác được mang vẻ đặt cho địa danh vùng nay, ví dụ: Yersin — trường Đại học Yersin, Y Moan — đường Y Moan, Y Ngông — đường Y Ngông. Chuyển hóa trong nội bộ địa danh Dựa vào phân loại địa danh theo đổi tượng, chuyến hóa trong nội bộ địa danh chi đối tượng tự nhiên hay địa danh chi đối tượng kinh tế hội. Việc chuyên hóa trong nội bộ địa danh chủ yếu giữa các tiêu loại địa danh với nhau trong | loại địa danh. (i) Chuyển hóa trong nội bộ địa danh chi đối tượng tự nhiên Đối tượng tự nhiên bao gồm địa hình, thủy danh, lâm đanh.
Việc chuyên hóa theo phương thức này chủ yếu giữa các tiêu loại địa danh trên với nhau. - Loại địa danh chi địa hình chuyển sang thủy danh: hang đá Ba Tầng — thác Ba Tang, hang Đăk Tuar — thác Đăk Tuar. - Loại địa danh chỉ địa hình chuyển sang lâm danh: núi Ngọc Linh — KBTTN Ngọc Linh, núi Đăk Uy — rừng nguyên sinh Đăk Uy, núi Ta Ding — KBTTN Tà Đùng,. (ii) Chuyển hóa trong nội bộ địa danh chi đối tượng kinh tế xã hội 24 Đối tượng kinh tế xã hội bao gôm hành chỉnh.
công trình xây dựng. Việc chuyên hóa giữa các tiêu loại địa danh trong đối tượng kinh tế xa hội theo cách sau: Loại địa danh hành chỉnh chuyên sang địa danh công trình xây dựng: xã Bờ Y — cửa khẩu Bờ Y, thành phố Pleiku — nha tủ Pleiku, thành pho Pleiku — sân bay Pleiku, huyện Đức Cơ — di tích sân bay Đức Cơ, xã Pleime — di tích chiến thang Pleime, thành phố Da Lạt — ga Đà Lạt,. Chuyển hóa giữa các loại địa danh Chuyển hóa giữa các loại địa danh thé hiện việc chuyển hóa giữa các địa danh chỉ đối tượng tự nhiên chuyển sang địa danh chi đối tượng kinh tế xã hội và ngược lại. (i) Địa danh chỉ đối tượng tự nhiên chuyển hóa thành địa danh chi đối tượng kinh tế xã hội - Chuyên hóa từ thủy danh sang hành chính: sông Sa Thay — huyện Sa Thay, hồ Ea Sup — huyện Ea Sup, hồ Lak — huyện Lăk,.
- Chuyển hóa từ địa hình sang hành chính: đèo Mang Yang — huyện Mang Yang. - Chuyển hóa từ thủy danh sang công trình xây dựng: sông Sê San — thủy điện Sê San 3A, thác Yaly — thủy điện Yaly, hồ Vĩnh Sơn B — thủy điện Vĩnh Sơn B, hồ Da Nhim — thủy điện Da Nhim, thác Cam Ly —> nhà thờ Cam Ly, thác Liên Khương —+ sân bay Liên Khương. (ii) Địa danh chỉ đối tượng kinh tế xã hội chuyển hóa thành địa danh chỉ đối tượng tự nhiên - Chuyển hóa từ hành chính sang lâm danh: huyện Kon Pléng — rừng nguyên sinh Kon Plông, xã Krông Trai ~ KBTTN Krông Trai,. 25 - Chuyên hóa từ hành chính sang địa hình: huyện Dak Po — đổi thông Dak Po, xã Bàu Cạn — đôi ché Bàu Cạn,.
Địa danh bằng ngôn ngữ khác chuyển thành địa danh tiếng Việt Trong quá trình cùng sinh sống với các đân tộc khác, người Việt đã tiếp thu một số địa danh có nguồn gốc từ những ngôn ngữ của họ. Sự tiếp nhận đỏ có khi là tự phát, có khi lả tự giác. Từ gốc của các địa danh nay có thé là địa danh, nhân danh hoặc vật danh. - Địa danh gốc Cơ ho: thành phố Bảo Lộc (từ gốc B'lao), thành phố Da Lạt (từ gốc Đạ Lạch), thác Liên Khương (từ gốc Liéng Khang), thác Cam Ly (từ gốc K"mly), hồ Don Dương (từ gốc D’ran), huyện Di Linh (từ gốc Djiring).
- Địa danh gốc Xé đăng: núi Ngọc Linh (từ gốc là Ngok Link), đèo Mang Den (từ gốc T'măng Deeng). - Địa danh gốc Ê đê: sông Ba (từ gốc Krông Pa). - Địa danh gốc Campuchia: sông Sêrêpôk (từ gốc Tongle Xrepok). Cấu tạo địa danh 1.
Địa danh có cấu tạo đơn Các địa danh gồm một từ đơn đơn tiết hoặc một từ đơn đa tiết thuộc loại cau tạo đơn. Cách cau tạo này có trong địa danh thuần Việt lẫn địa danh không thuần Việt. Địa danh thuần Việt Vẻ từ loại, các địa danh nay có thé vốn là danh từ, động từ, tính từ hoặc SỐ từ. Nhưng trên quan điểm đồng đại.
3 từ loại nay đã chuyên thành danh từ. ~ Danh từ: hon Binh, đẻo Chuối, thác Voi. 26 ~ Tinh từ: nhà thở Gỗ. thung lũng Vàng, thung lũng Hong,.
- Số tir: khách sạn 197, căn cứ Hy và H>, hồ 721. Địa danh không thuần Việt Địa danh cấu tạo theo loại này chủ yếu là địa danh có nguồn gốc tử các dân tộc ban địa, vi dụ: thác Đatanla, thác Dasara, hò Dankia, thác Dambri, hồ Lak, sân bay Pleiku, đẻo Balaum, đường Yersin,. Địa danh có cấu tạo phức Các địa danh gồm hai thành tô có nghĩa (từ, ngữ) trở lên thuộc loại cầu tạo phức. Loại nay có 3 loại nhỏ: loại gồm các thành tổ có quan hệ đẳng lập, loại gom các thành tổ có quan hệ chính phụ vả loại gom các thành tố có quan hệ chủ vị.