Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Thực trạng và định hướng phát triển rừng trồng tỉnh Bình Phước" được thực hiện bởi sinh viên Bùi Thị Thu Hồng dưới sự hướng dẫn của Th.S Trần Đức Minh tại Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2013). Đề tài thuộc chuyên ngành Địa lí kinh tế - xã hội, nghiên cứu chuyên sâu về phân ngành lâm nghiệp địa phương theo hướng tiếp cận tổng hợp lãnh thổ.

Bối cảnh thực tiễn được tác giả đặt ra xuất phát từ vị trí của tỉnh Bình Phước – một địa bàn có độ che phủ rừng lớn và giữ vai trò như "lá phổi xanh" của toàn vùng Đông Nam Bộ cũng như cả nước. Tuy nhiên, trước áp lực phát triển kinh tế - xã hội và quá trình di dân, diện tích rừng tự nhiên của tỉnh đã suy giảm nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó, rừng trồng được xác định là biện pháp hữu hiệu nhằm duy trì tỷ lệ che phủ, bảo vệ môi trường sinh thái, đồng thời tạo nguồn tích lũy vốn thông qua khai thác lâm sản, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho cư dân địa phương. Mặc dù sở hữu nhiều tiềm năng gắn liền với đời sống người dân, công tác phát triển rừng trồng tại Bình Phước trong một giai đoạn dài vẫn chưa được quan tâm tương xứng do các yếu tố chủ quan lẫn khách quan.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích, đánh giá thực trạng phát triển rừng trồng tại tỉnh Bình Phước trong giai đoạn 2005 - 2011, trên cơ sở đó đề xuất hệ thống giải pháp và định hướng phát triển bền vững đến năm 2020.

Để hiện thực hóa mục đích trên, tác giả đã xác lập 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm hiểu khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Phước.
  2. Thu thập số liệu, tài liệu trên các báo cáo, niên giám thống kê, báo chí và sách có liên quan đến đề tài.
  3. Tìm hiểu thực trạng tình hình rừng trồng của tỉnh Bình Phước.
  4. Sưu tầm những hình ảnh minh họa cho bài viết.
  5. Căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội hiện có và thực trạng tình hình rừng trồng ở Bình Phước để đưa ra những giải pháp và định hướng phát triển bền vững trong tương lai (đến năm 2020).

Phạm vi và giới hạn nghiên cứu:

  • Không gian: Các khu vực có rừng trồng nằm trong ranh giới hành chính tỉnh Bình Phước (tổng diện tích tự nhiên 6.871,54 km² gồm 3 thị xã và 7 huyện).
  • Thời gian: Trọng tâm khảo sát số liệu diễn biến rừng trồng trong giai đoạn 2005 - 2011, có đối sánh hồi cố từ các mốc 1985, 1999 và cập nhật văn bản quản lý đến đầu năm 2013; mốc dự báo hướng tới năm 2020.
  • Nội dung: Tập trung vào hiện trạng diện tích, cơ cấu quản lý, tình hình xâm hại, cháy rừng, khai thác lâm sản từ rừng trồng và phương hướng phát triển lâm nghiệp bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của công trình dựa trên hệ thống các khái niệm chuẩn hóa và văn bản pháp luật lâm nghiệp Việt Nam cùng các tiêu chuẩn quốc tế:

  • Khái niệm về Rừng: Căn cứ Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, xác định rừng là hệ sinh thái có độ che phủ tán từ 0,1 trở lên, bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng trên 3 loại đất (sản xuất, phòng hộ, đặc dụng). Rừng trồng được chia theo nguồn gốc (trồng mới, trồng lại, tái sinh từ rừng trồng) và cấp tuổi.
  • Quản lý rừng bền vững (QLRBV): Khung lý thuyết viện dẫn định nghĩa của Tổ chức Gỗ Nhiệt đới Quốc tế (ITTO) và Tiến trình Helsinki (Hensinki). Khái niệm này đòi hỏi duy trì liên tục sản phẩm và dịch vụ mà không làm suy giảm giá trị di truyền, năng suất tương lai, bảo đảm đồng thời 3 khía cạnh: bền vững kinh tế (kinh doanh liên tục, không khai thác lạm vào vốn rừng), bền vững xã hội (tuân thủ luật pháp, bảo đảm quyền lợi cộng đồng địa phương), và bền vững môi trường (bảo vệ chức năng phòng hộ và tính đa dạng sinh học).
  • Trồng rừng thâm canh: Canh tác đầu tư kỹ thuật tổng hợp nhằm tăng năng suất, hạ giá thành song song với việc bồi dưỡng độ phì đất đai.

Về phương pháp luận địa lí học, tác giả áp dụng 4 quan điểm nghiên cứu cốt lõi:

  • Quan điểm hệ thống: Đặt lâm nghiệp Bình Phước trong mối liên hệ hữu cơ với hệ thống tự nhiên và kinh tế - xã hội của vùng Đông Nam Bộ và cả nước.
  • Quan điểm tổng hợp lãnh thổ: Nhìn nhận rừng trồng là một hợp phần của thể tổng hợp địa lý địa phương, tương tác chặt chẽ với các ngành kinh tế khác.
  • Quan điểm lịch sử viễn cảnh: Đánh giá tiến trình diễn biến rừng trồng qua các giai đoạn lịch sử để nhận định hiện tại và đưa ra dự báo tương lai.
  • Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững: Xem xét quan hệ tương tác giữa tự nhiên và hoạt động kinh tế của con người, giải quyết hài hòa bài toán lợi ích kinh tế và cân bằng sinh thái.

Các phương pháp nghiên cứu chuyên biệt đã triển khai:

  • Phương pháp khảo sát thực địa: Tiến hành khảo sát thực tế tại các lâm phần, lâm trường và địa bàn có rừng trồng để kiểm chứng tính xác thực của số liệu văn bản.
  • Phương pháp so sánh, phân tích tổng hợp: Phân tích các nhân tố thuận lợi, khó khăn; so sánh tỷ trọng rừng trồng giữa Bình Phước với các tỉnh vùng Đông Nam Bộ.
  • Phương pháp toán học: Xử lý, tính toán số liệu định lượng làm căn cứ rút ra các nhận định định tính.
  • Phương pháp bản đồ, biểu đồ: Trực quan hóa dữ liệu không gian và chuỗi thời gian thông qua bản đồ hành chính, bản đồ hiện trạng rừng và hệ thống biểu đồ diễn biến diện tích, khai thác.
  • Phương pháp dự báo: Phân tích xu thế biến động diện tích rừng trồng để định hướng quy hoạch đến năm 2020.

Nguồn dữ liệu: Tác giả khai thác số liệu thứ cấp chính thống từ Niên giám Thống kê tỉnh Bình Phước, Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Bình Phước (2006), Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Phước (Báo cáo số 53/BC-SNN năm 2009), Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Phước, Tổng cục Lâm nghiệp và các quyết định quản lý của Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Phước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lí luận

Chương I tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về rừng và vai trò của rừng trồng đối với môi trường và kinh tế. Tác giả phân tích các khái niệm nền tảng theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, phân định rõ hai cách phân loại rừng: theo nguồn gốc hình thành (rừng tự nhiên gồm nguyên sinh, thứ sinh, phục hồi, sau khai thác; rừng trồng gồm trồng mới, trồng lại, tái sinh) và theo mục đích sử dụng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất).

Về mặt sinh thái, rừng giữ vai trò điều hòa không khí thông qua quang hợp (thu nhận CO₂, giải phóng O₂), giảm nhẹ hiệu ứng nhà kính; điều tiết nguồn nước, chuyển dòng chảy mặt thành nước ngầm, hạn chế xói mòn và lắng đọng lòng hồ; bồi dưỡng độ phì nhiêu của đất đai. Về giá trị kinh tế, rừng trồng cung cấp gỗ xây dựng, nguyên liệu công nghiệp, củi đốt và các sản phẩm chế biến mỹ nghệ. Đáng chú ý, tại khu vực miền núi và trung du, rừng trồng kết hợp các loại cây đa mục đích và cây công nghiệp dài ngày (tiêu biểu là cây cao su, điều, tiêu, cà phê) đóng vai trò là công cụ xóa đói giảm nghèo, bảo đảm sinh kế bền vững cho người dân và duy trì độ che phủ cảnh quan.

Chương II: Thực trạng rừng trồng tỉnh Bình Phước

Chương II là phần nội dung thực nghiệm trọng tâm, cung cấp bức tranh toàn diện về tự nhiên, kinh tế - xã hội và diễn biến rừng trồng tại địa phương.

Về điều kiện địa lý, tỉnh Bình Phước được tái lập ngày 01/01/1997 từ 5 huyện của tỉnh Sông Bé, đến năm 2011 có 114 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc 3 thị xã (Đồng Xoài, Bình Long, Phước Long) và 7 huyện (Bù Đăng, Bù Đốp, Bù Gia Mập, Chơn Thành, Đồng Phú, Hớn Quản, Lộc Ninh). Địa hình chuyển tiếp từ trung du bán bình nguyên ở phía Nam (50 - 100 m) lên vùng núi và cao nguyên bazan ở phía Bắc (100 - 500 m, cao nhất tại Bù Đăng 500 - 600 m). Khí hậu nhiệt đới gió mùa có lượng mưa trung bình 2.706 mm tập trung 90% vào mùa mưa (tháng 5 - 11), mùa khô kéo dài gây nguy cơ bốc hơi và hạn hán. Mạng lưới sông ngòi gồm 4 trục chính: sông Bé, sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và sông Măng. Đất đai gồm 6 nhóm chính, trong đó đất đỏ vàng phát triển trên đá bazan và đất xám phù sa cổ chiếm diện tích lớn, rất thuận lợi cho cây lâm nghiệp và cây công nghiệp dài ngày. Dân số năm 2010 đạt 888.200 người (nông thôn chiếm 83%), với hơn 40 dân tộc, đông nhất là người Kinh và người Stiêng (84.425 người, chiếm 9,35%).

Tác giả đã tổng hợp chuỗi số liệu phản ánh sự biến động mạnh mẽ của diện tích rừng trồng tỉnh Bình Phước qua các thời kỳ:

Năm Diện tích rừng trồng (ha) Đặc điểm diễn biến và chính sách liên quan
1985 382 Rừng tự nhiên chiếm ưu thế tuyệt đối, rừng trồng chưa được chú trọng.
1999 10.973 Tăng gấp 28,7 lần sau 14 năm do áp lực di dân và nhu cầu phục hồi đất lâm nghiệp.
2002 39.504 Tăng nhanh nhờ triển khai Dự án 661 (Trồng mới 5 triệu ha rừng theo QĐ 661/QĐ-TTg).
2004 49.406 Tiếp tục mở rộng diện tích rừng trồng thay thế diện tích rừng tự nhiên bị suy giảm.
2006 34.426 Suy giảm mạnh (-14.980 ha so với 2004); gồm 171 ha rừng đặc dụng, 27.098 ha rừng phòng hộ và 7.157 ha rừng sản xuất.
2007 23.072 Giảm sâu do nạn chặt phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp gia tăng. Diện tích cấp tuổi 1 đạt 10.638 ha.
2008 25.683 Phục hồi nhẹ (+2.611 ha); diện tích mới trồng đạt 13.045 ha; đẩy mạnh chuyển đổi đất nghèo kiệt sang trồng cao su.
2009 18.652,78 Thu hẹp do tiếp tục rà soát, chuyển đổi loại cây trồng (riêng cao su trồng mới đạt 4.297,49 ha); cấp tuổi 1 chiếm 10.518 ha.
2010 45.826 Tăng trưởng đột biến (+27.173 ha), chiếm 28,32% diện tích rừng trồng toàn vùng Đông Nam Bộ.
2011 53.727 Đạt quy mô cao nhất trong giai đoạn nghiên cứu (+7.901 ha so với 2010), chiếm gần 1/3 vùng Đông Nam Bộ; cấp tuổi 1 đạt 24.322 ha.

Về mạng lưới quản lý, tính đến năm 2011, toàn tỉnh có 53.727 ha rừng trồng phân bổ cho 17 đơn vị chủ rừng. Các đơn vị quản lý diện tích lớn nhất gồm: Nông lâm trường (NLT) Nghĩa Trung (10.051 ha, trong đó có 10.019 ha rừng trồng gỗ đặc sản), Ban Quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) Tà Thiết (8.078 ha), BQLRPH Lộc Ninh (5.855 ha), BQLRPH Minh Đức (5.737 ha), NLT Bù Đốp (5.094 ha), NLT Đồng Nai (3.386 ha), NLT Đắk Ơ (3.140 ha) và NLT Đồng Xoài (2.755 ha).

Tình hình xâm hại, cháy rừng và khai thác lâm sản trong giai đoạn 2007 - 2011 diễn biến hết sức phức tạp:

Hạng mục theo dõi Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Số vụ phá rừng bị lập biên bản - 1.485 vụ - - 250 vụ
Diện tích rừng trồng bị phá - 1.326,51 ha 407,73 ha - 172,32 ha
Số vụ cháy rừng toàn tỉnh 13 vụ 6 vụ 1 vụ 13 vụ 8 vụ (chỉ ở rừng tự nhiên)
Diện tích rừng trồng bị cháy 4,62 ha 6,90 ha (trên tổng 11,2 ha) 4,00 ha 4,40 ha 0 ha
Sản lượng gỗ khai thác 11.200 m³ 8.565 m³ - 25.610 m³ -
Sản lượng củi khai thác - 21.000 m³ 25.000 m³ 37.100 m³ -

Tác giả chỉ rõ năm 2008 là năm đỉnh điểm của tình trạng phá rừng với trung bình 4 vụ bị phát hiện mỗi ngày, mục đích phá rừng làm nương rẫy chiếm tới 1.169 vụ, lực lượng kiểm lâm đã tịch thu 554,97 m³ gỗ tròn. Bên cạnh đó, tình trạng buông lỏng quản lý đất dự án của các doanh nghiệp diễn ra nghiêm trọng (điển hình như 5 công ty Đức Thành, Đức Bình, Bảo Nhi, Đăng Duy, Hải Vương được giao 2.229,6 ha tại Bù Đăng nhưng để dân lấn chiếm 1.100 ha). Về khai thác, sản lượng gỗ năm 2010 tăng mạnh 40% so với 2009, chủ yếu khai thác thủ công và bán cơ giới; sản lượng củi tăng nhanh do chủ trương giao khoán và khai thác tỉa thưa vườn cây công nghiệp.

Chương III: Giải pháp và định hướng phát triển

Chương III trình bày hệ thống định hướng và giải pháp nhằm mục tiêu quản lý rừng bền vững đến năm 2020. Nội dung chương tập hợp các giải pháp đồng bộ về cơ chế chính sách, kỹ thuật lâm sinh và tổ chức bộ máy:

  • Những giải pháp bảo vệ và phát triển rừng trồng: Tăng cường phối hợp giữa chủ rừng và chính quyền địa phương; xử lý dứt điểm tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp; nâng cao hiệu quả các ban chỉ đạo phòng cháy chữa cháy rừng (toàn tỉnh đã thành lập 57 ban chỉ đạo các cấp); áp dụng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Quyết định số 98/QĐ-UBND và phát huy Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh (Quyết định số 1567/QĐ-UBND).
  • Những vấn đề ưu tiên: Ưu tiên thu hồi diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm hoặc các dự án nông lâm nghiệp triển khai kém hiệu quả theo tinh thần Chỉ thị số 1685/CT-TTg; giải quyết đất sản xuất và sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ và dân di cư tự do để triệt tiêu nguyên nhân phá rừng làm rẫy.
  • Định hướng phát triển rừng trồng theo hướng bền vững đến năm 2020: Định hướng quản lý rừng trồng theo phân cấp rõ ràng; định hướng bảo vệ diện tích rừng hiện có kết hợp phòng chống cháy rừng trong mùa khô (đặc biệt tại các vùng đồi núi cao, thiếu nước ở Bù Gia Mập, Bù Đăng, Bù Đốp); định hướng phát triển mở rộng diện tích rừng sản xuất bằng các mô hình lâm nông kết hợp, khai thác hợp lý theo hạn ngạch (như kế hoạch tại Quyết định số 596/QĐ-UBND cho phép khai thác khoảng 300 ha/kỳ với sản lượng dưới 9.000 m³/năm giai đoạn 2013 - 2015).

Kết quả và đóng góp

Về kết quả định lượng, khóa luận đã tái hiện chi tiết thực trạng tài nguyên rừng trồng của tỉnh Bình Phước thông qua các mốc dữ liệu có thật trong văn bản:

  • Ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ về quy mô diện tích rừng trồng: từ mức rất thấp 382 ha năm 1985 đã đạt 53.727 ha vào năm 2011, đưa Bình Phước vươn lên vị trí thứ hai vùng Đông Nam Bộ (chiếm gần 1/3 diện tích rừng trồng toàn vùng, chỉ xếp sau tỉnh Đồng Nai).
  • Phân tích cơ cấu chất lượng rừng: Trong 53.727 ha rừng trồng năm 2011, diện tích mới trồng cấp tuổi 1 chiếm tỷ trọng áp đảo với 24.322 ha (chiếm 45,27%), cho thấy nỗ lực chuyển đổi rừng nghèo kiệt sang trồng cây kinh tế và khoanh nuôi bảo vệ rừng.
  • Thống kê chi tiết tình trạng xâm hại: Xác lập số liệu năm 2008 là cao điểm phá rừng với 1.326,51 ha rừng trồng bị hủy hoại và 1.485 vụ vi phạm; chứng minh sự suy giảm số vụ phá rừng đến năm 2011 (còn 250 vụ, thiệt hại 172,32 ha) nhưng cảnh báo thủ đoạn ngày càng tinh vi. Đồng thời, chỉ ra sản lượng khai thác gỗ biến động tăng đạt 25.610 m³ và sản lượng củi đạt 37.100 m³ vào năm 2010.

Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn:

  • Đề tài là công trình nghiên cứu chuyên biệt dưới góc độ Địa lí học địa phương đầu tiên tại thời điểm 2013 xâu chuỗi một cách hệ thống thực trạng rừng trồng Bình Phước sau những biến động lớn về phân vạch ranh giới hành chính cấp huyện/xã và các chủ trương quy hoạch lại 3 loại rừng.
  • Hệ thống hóa toàn bộ khung văn bản pháp lý chuyên ngành của tỉnh (như Quyết định 16/2004/QĐ-UB, Quyết định 34/2011/QĐ-UBND, Quyết định 538/QĐ-UBND, Quyết định 1567/QĐ-UBND, Quyết định 06/2013/QĐ-UBND, Quyết định 98/QĐ-UBND, Quyết định 596/QĐ-UBND), tạo cơ sở pháp lý và thực tiễn vững chắc cho các nhà quản lý lâm nghiệp địa phương tham khảo khi xây dựng kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2020.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số giới hạn nhất định xuất phát từ điều kiện nghiên cứu và phạm vi tư liệu:

  • Chuỗi số liệu phân tích chuyên sâu về cháy rừng và khai thác lâm sản mới dừng lại ở giai đoạn 2007 - 2010; một số bảng biểu năm 2011 chưa cập nhật đầy đủ toàn bộ các chỉ tiêu khai thác do hạn chế về nguồn báo cáo thống kê chuyên ngành tại thời điểm thu thập.
  • Các phân tích định lượng về chỉ số "Dấu chân sinh thái" (Ecological Footprint) và "Sức tải sinh học" (Biocapacity) mới chỉ dừng lại ở việc nêu tên danh mục biểu đồ mà chưa có điều kiện đi sâu phân tích mô hình hóa chi tiết trong phần văn bản.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng cần thực hiện: Tiếp tục cập nhật chuỗi số liệu sau năm 2011 để đánh giá mức độ hoàn thành quy hoạch theo Quyết định số 06/2013/QĐ-UBND; khảo sát sâu hơn hiệu quả kinh tế - sinh thái thực tế của các dự án chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su tại các tiểu khu 185, 187, 188 huyện Bù Đăng; đánh giá kết quả triển khai Đề án chi trả dịch vụ môi trường rừng tại các lưu vực thủy điện (Thác Mơ, Cần Đơn, Sóc Phu Miêng).

Giá trị tham khảo

Báo cáo nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm độc giả:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Địa lí (Địa lí kinh tế - xã hội, Địa lí địa phương), Lâm nghiệp, Quản lý Tài nguyên và Môi trường: Cung cấp phương pháp luận chuẩn mực trong việc kết hợp các quan điểm địa lý (hệ thống, tổng hợp lãnh thổ, lịch sử viễn cảnh, sinh thái) với phương pháp toán học và bản đồ để giải quyết bài toán lâm nghiệp cụ thể.
  • Cán bộ quản lý chuyên trách tại các Chi cục Lâm nghiệp, Chi cục Kiểm lâm, Ban quản lý rừng phòng hộ, Nông lâm trường trên địa bàn tỉnh Bình Phước và vùng phụ cận: Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử xác thực về biến động diện tích, hồ sơ xâm hại rừng, cháy rừng và cơ cấu diện tích thực tế của 17 đơn vị chủ rừng năm 2011.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống dữ liệu định lượng tại Chương II về diễn biến diện tích rừng trồng (1985 - 2011), bảng tổng hợp 17 đơn vị chủ rừng năm 2011 và danh mục các quyết định quản lý nhà nước về cơ chế hưởng lợi, suất đầu tư, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Phước.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao năm 2008 diện tích rừng trồng của tỉnh Bình Phước lại tăng thêm 2.611 ha dù đây là năm có số vụ phá rừng và cháy rừng cao kỷ lục? Năm 2008, toàn tỉnh xảy ra 1.485 vụ phá rừng (làm mất 1.326,51 ha rừng trồng) và 6 vụ cháy rừng (thiệt hại 6,9 ha rừng trồng). Tuy nhiên, tổng diện tích rừng trồng vẫn tăng từ 23.072 ha (năm 2007) lên 25.683 ha (năm 2008) vì tỉnh đã đẩy mạnh thực hiện quy hoạch và chuyển đổi đất lâm nghiệp nghèo kiệt sang trồng cây kinh tế; trong đó 90% diện tích chuyển đổi được giao cho các tổ chức, doanh nghiệp trồng mới cao su, đưa diện tích mới trồng trong năm đạt tới 13.045 ha, bù đắp và vượt xa phần diện tích bị xâm hại.

2. Đơn vị chủ rừng nào quản lý diện tích rừng trồng lớn nhất trên địa bàn tỉnh Bình Phước tính đến năm 2011? Tính đến ngày 31/12/2011, đơn vị quản lý diện tích rừng trồng lớn nhất toàn tỉnh là Nông lâm trường Nghĩa Trung với 10.051 ha (trong đó có 32 ha rừng trồng thông thường và 10.019 ha rừng trồng gỗ đặc sản). Đơn vị xếp thứ hai là Ban Quản lý rừng phòng hộ Tà Thiết với 8.078 ha (gồm 1.317 ha rừng trồng và 6.760 ha rừng gỗ đặc sản).

3. Tình trạng chuyển đổi rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cao su tại các dự án giao đất doanh nghiệp ở huyện Bù Đăng gặp phải bất cập gì? Nhiều doanh nghiệp sau khi được giao đất đã buông lỏng quản lý hoặc chỉ tiến hành tận thu lâm sản mà không triển khai trồng mới đúng cam kết. Điển hình là 5 công ty (Đức Thành, Đức Bình, Bảo Nhi, Đăng Duy, Hải Vương) được giao 2.229,6 ha tại huyện Bù Đăng nhưng đã để người dân xâm lấn tới 1.100 ha (gần 50% diện tích). Trên quy mô toàn tỉnh từ năm 2006, trong số 8.916,1 ha rừng giao cho 120 doanh nghiệp chuyển đổi, thực tế mới chỉ có hơn 2.500 ha được trồng cao su, buộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phải kiến nghị thu hồi các dự án vi phạm.

4. Suất đầu tư trồng rừng phòng hộ và đặc dụng theo Dự án 661 tại Bình Phước được điều chỉnh như thế nào? Ban đầu, mức suất đầu tư trồng rừng phòng hộ chỉ là 2,5 triệu đồng/ha (hoặc 6 triệu đồng/ha phân bổ trong 3 năm), mức kinh phí này quá thấp khiến các ban quản lý cơ sở gặp rất nhiều khó khăn trong khâu triển khai và khoán bảo vệ. Đến ngày 23/01/2003, Chính phủ ban hành Công văn số 95/CP-NN chấp thuận tăng suất đầu tư trồng mới từ 2,5 triệu đồng lên 4 triệu đồng/ha đối với rừng phòng hộ và rừng đặc dụng để tháo gỡ vướng mắc cho các đơn vị.

5. Sản lượng khai thác gỗ từ rừng trồng tại Bình Phước trong giai đoạn 2007 - 2010 biến động ra sao? Sản lượng khai thác gỗ biến động không đồng đều: năm 2007 đạt 11.200 m³, năm 2008 giảm xuống còn 8.565 m³ (do rừng chưa đến tuổi khai thác và tỉnh siết chặt quản lý sau nạn phá rừng), sau đó tăng dần và đạt mức 25.610 m³ vào năm 2010 (tăng gần 40% so với năm 2009). Phương thức khai thác chủ yếu vẫn là thủ công và bán cơ giới bằng rìu, búa tại các vùng trồng rừng phân tán.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Bùi Thị Thu Hồng đã phác thảo bức tranh thực trạng biến động sâu sắc của tài nguyên rừng trồng tỉnh Bình Phước giai đoạn 2005 - 2011 dưới tác động đan xen của các chính sách chuyển đổi lâm nghiệp, áp lực dân số và nạn xâm hại đất rừng. Công trình làm nổi bật bước phục hồi diện tích ngoạn mục đạt 53.727 ha vào năm 2011, đồng thời chỉ rõ những lỗ hổng trong quản lý dự án giao đất lâm nghiệp và nguy cơ cháy rừng mùa khô. Hệ thống giải pháp gắn với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và khoanh nuôi bảo vệ theo quy chuẩn bền vững là đóng góp thực tiễn quan trọng, hỗ trợ đắc lực cho công tác quy hoạch lâm nghiệp của địa phương đến năm 2020.