phần mở đầu phần nội dung của khóa luận gồm có ba chƣơng : Chƣơng 1 : Cơ sở lí luận của đề tài – Khái quát về cơ sở hình thành các di tích tôn giáo tín ngƣỡng ở Đồ Sơn. Chƣơng 2 : Một số di tích lịch sử tôn giáo tín ngƣỡng ở Đồ Sơn và tiềm năng khai thác phục vụ du lịch. Chƣơng 3 : Thực trạng và một số giải pháp đẩy mạnh việc khai thác phục vụ phát triển du lịch tại các di tích. Sinh viên: Vũ Thị Duyên – Lớp VH 1003 12 Một số di tích lịch sử tôn giáo tín ngƣỡng ở Đồ sơn và vai trò của nó đối với sự phát triển du lịch PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI – KHÁI QUÁT VỀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH CÁC DI TÍCH TÔN GIÁO TÍN NGƢỠNG Ở ĐỒ SƠN.
Một số khái niệm 1. Khái niệm tài nguyên Theo Phạm Trung Lƣơng và nnk : “Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lƣợng và thông tin có trên trái đất và trong không gian vũ trụ liên quan, mà con nguời có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình”. Trần Đức Thanh : “Tài nguyên là tất cả những nguồn thông tin, vật chất, năng lƣợng đƣợc khai thác phục vụ cuộc sống và sự phát triển của xã hội loài ngƣời. Đó là những thành tạo hay tính chất của thiên nhiên, những công trình, những sản phẩm do bàn tay khối óc của con ngƣời làm nên , những khả năng của loài ngƣời , … Đƣợc sử dụng phục vụ cho sự phát triển kinh tế và xã hội của cộng đồng ”.
Mỗi khái niệm đều có những hạn chế nhất định nhƣng nhìn chung có thể nói ngắn gọn nhƣ sau : “Tài nguyên là tất cả những gì tồn tại trong vũ trụ đƣợc sử dụng để phục vụ cho mục đích sống của con ngƣời”. Hiện nay nhiều học giả , tổ chức đã tiến hành phân loại tài nguyên theo một số cách nhƣ sau : Theo khả năng tái tạo tài nguyên có thể chia thành hai loại : tài nguyên hữu hạn và tài nguyên vô hạn. Những tài nguyên có khả năng tái tạo là những loại tài nguyên đƣợc sử dụng và bảo vệ hợp lí thì có khả năng tái tạo đƣợc nhƣ tài nguyên đất, nƣớc hay một số công trình kiến trúc do con ngƣời xây dựng. Những tài nguyên không thể tái tạo đƣợc là sau khi đƣa vào sử dụng chúng bị cạn kiệt mất đi giá trị ban đầu và không có khả năng tái tạo đƣợc.
Sinh viên: Vũ Thị Duyên – Lớp VH 1003 13 Một số di tích lịch sử tôn giáo tín ngƣỡng ở Đồ sơn và vai trò của nó đối với sự phát triển du lịch Theo nguồn gốc hình thành có hai loại tài nguyên : Tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn. Theo tài nguyên đã đƣợc khai thác và tài nguyên chƣa đƣợc khai thác thì tài nguyên đƣợc phân làm tài nguyên đã đƣợc khai thác và tài nguyên tiềm năng (chƣa đƣợc khai thác). Nói chung tài nguyên có vai trò đặc biệt góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ đời sống con ngƣời. Việc sử dụng tài nguyên một cách hợp lí, hiệu quả cũng nhƣ bảo tồn và tôn tạo các giá trị của tài nguyên không chỉ là việc của mỗi quốc gia, địa phƣơng mà còn là ý thức và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong cộng đồng.
Khái niệm tài nguyên du lịch Theo Th. Bùi Thị Hải Yến : “Tài nguyên du lịch là tất cả những gì thuộc về tự nhiên và các giá trị văn hóa do con ngƣời sáng tạo ra có sức hấp dẫn du khách , có thể bảo vệ , tôn tạo và sử dụng cho ngành du lịch mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trƣờng ”. Theo khoản 4 - điều 4 – chƣơng 1 Luật du lịch Việt Nam năm 2005 quy định : “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con ngƣời và các giá trị nhân văn khác có thể đƣợc sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch , là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”. Cũng giống nhƣ tài nguyên nói chung tài nguyên du lịch gồm có hai loại: Tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.
Trong đó tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các thành phần : địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang đƣợc khai thác hoặc có thể đƣợc sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn gồm có tài nguyên du lịch nhân văn vật thể và tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể. Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể gồm: di sản văn hóa truyền miệng và phi vật thể của nhân loại, các giá trị văn hóa phi vật thể của quốc gia, địa Sinh viên: Vũ Thị Duyên – Lớp VH 1003 14 Một số di tích lịch sử tôn giáo tín ngƣỡng ở Đồ sơn và vai trò của nó đối với sự phát triển du lịch phƣơng: (các lễ hội, nghề và làng nghề truyền thống, văn hóa nghệ thuật, ẩm thực, ngôn ngữ, các đối tƣợng gắn với dân tộc học, các đối tƣợng văn hóa thể thao hoặc những hoạt động có tính sự kiện ,. Trên cơ sở nghiên cứu phƣơng pháp và hệ thống phân loại tài nguyên du lịch đồng thời do phạm vi của bài khóa luận nghiên cứu về “Một số di tích lịch sử tôn giáo tín ngƣỡng .” nên tác giả xin phép đƣợc đi sâu vào những vấn đề sau : 1.
Khái niệm di tích lịch sử - văn hóa Theo luật di sản văn hóa của Việt Nam năm 2003: “Di tích lịch sử văn hóa là những công trình xây dựng và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử - văn hóa và khoa học ”. Di tích lịch sử văn hóa chứa đựng những truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hóa, kiến trúc, mỹ thuật của mỗi địa phƣơng, mỗi quốc gia. Di tích lịch sử văn hóa là tài nguyên nhân văn quý giá đƣợc hình thành, bảo tồn, tôn tạo của nhiều thế hệ ở các địa phƣơng và các quốc gia.Vì vậy nhiều di tích lịch sử văn hóa đã trở thành đối tƣợng tham quan, nghiên cứu, thực hiện các nghi lễ tâm linh của nhiều du khách và là nguồn tài nguyên du lịch quý giá. Trong suốt chiều dài lịch sử trải qua bốn nghìn năm dựng nƣớc và giữ nƣớc, với truyền thống uống nƣớc nhớ nguồn,nhớ ơn tổ tiên nên có rất nhiều công trình địa điểm trở thành các di tích lịch sử ghi dấu lại những chiến công oanh liệt chống giặc ngoại xâm, gắn liền với các sự kiện trọng đại của đất nƣớc, dân tộc.
Tính đến ngày 30/12/2006 cả nƣớc ta có 1.367 di tích lịch sử văn hóa đƣợc xếp hạng cấp quốc gia. Các loại di tích lịch sử văn hóa 1. Di tích khảo cổ Các di tích khảo cổ là những di sản văn hóa lịch sử bị vùi lấp trong lòng đất hoặc hiện diện trên mặt đất đƣợc phát hiện khi các nhà khoa học hoặc các cá Sinh viên: Vũ Thị Duyên – Lớp VH 1003 15 Một số di tích lịch sử tôn giáo tín ngƣỡng ở Đồ sơn và vai trò của nó đối với sự phát triển du lịch nhân nghiên cứu khai quật thấy. Các di tích khảo cổ gồm các loại : di chỉ cƣ trú, di chỉ mộ táng, những công trình kiến trúc cổ, những đô thị cổ, những tàu thuyền bị đắm.
Các di chỉ cƣ trú thƣờng tìm thấy trong hang động, các thềm sông cổ, các bãi sƣờn đồi gần các hồ nƣớc hoặc bầu nƣớc, một số đảo gần bờ. Ở Việt Nam các nhà khảo cổ học cũng đã tìm thấy những dấu tích kiến trúc, các công trình kiến trúc và các cổ vật quý minh chứng cho các đô thị, các kinh thành cổ nhƣ: nền cung điện thời Đinh và Tiền Lê ở cố đô Hoa Lƣ, di tích khảo cổ Hoàng Thành – 18 đƣờng Hoàng Diệu – Hà Nội,. Di tích những con tàu đắm thƣờng đƣợc khai quật thấy trên những con đƣờng đi biển. Các di tích lịch sử Các di tích lịch sử là những địa điểm, công trình kỉ niệm, vật kỉ niệm, những cổ vật ghi dấu lịch sự kiện lịch sử, những cuộc chiến đấu, những danh nhân , anh hùng dân tộc của thời kì nào đó trong quá trình lịch sử của mỗi địa phƣơng, mỗi quốc gia.
Các di tích lịch sử bao gồm các loại : Di tích ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng tiêu biểu có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của quốc gia, địa phƣơng Di tích ghi dấu về dân tộc học Các di tích ghi dấu chiến công chống quân xâm lƣợc Di tích ghi dấu cuộc đời, sự nghiệp của các danh nhân, các vị anh hùng dân tộc Di tích ghi dấu những kết quả lao động sáng tạo vinh quang của quốc gia Di tích ghi dấu tội ác của đế quốc, phong kiến. Các di tích kiến trúc nghệ thuật Sinh viên: Vũ Thị Duyên – Lớp VH 1003 16 Một số di tích lịch sử tôn giáo tín ngƣỡng ở Đồ sơn và vai trò của nó đối với sự phát triển du lịch Các di tích kiến trúc nghệ thuật là những công trình kiến trúc có giá trị cao về kĩ thuật xây dựng cũng nhƣ mĩ thuật trang trí hoặc các tác phẩm nghệ thuật điêu khắc, các bức bích họa, các công trình kiến trúc. Trong các di tích kiến trúc nghệ thuật còn mang trong mình những giá trị lịch sử nhƣ : các cổ vật, bảo vật quốc gia, vật kỉ niệm và những giá trị văn hóa phi vật thể nhƣ truyền thống văn hóa, truyền thuyết, các giá trị lịch sử tâm linh, tôn giáo. nên nhiều nhà nghiên cứu gọi chung là di tích lịch sử văn hóa nghệ thuật.
Hiện nay trên thế giới cũng nhƣ Việt Nam có rất nhiều di tích kiến trúc nghệ thuật có giá trị cao về nhiều mặt đã và đang trở thành một điểm hấp dẫn khách du lịch đến tham quan, tìm hiểu, nghiên cứu, học hỏi. Ở Việt Nam di tích kiến trúc nghệ thuật khá đa dạng bao gồm : đình, chùa, đền, miếu, nhà thờ , nhà cổ, lăng mộ, các tòa thành, cung điện, cầu, các tác phẩm điêu khắc, hội họa nổi tiếng, các bi kí, .