Giới thiệu dự án
Tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986 bước vào thời kỳ Đổi mới với sự chuyển dịch hệ hình tư duy nghệ thuật sâu sắc. Nền văn học chuyển từ khuynh hướng sử thi - lãng mạn hướng về cộng đồng sang khuynh hướng thế sự - đời tư, đào sâu vào bi kịch thân phận cá nhân và tính phức tạp của bản thể người. Trong tiến trình hiện đại hóa đó, trần thuật học (Narratology) nổi lên như một công cụ thiết yếu để giải mã các cấu trúc văn bản nghệ thuật. Theo các khảo sát lý luận văn học đương đại, hơn 70% các đổi mới về hình thức tiểu thuyết hậu hiện đại đều bắt nguồn từ kỹ thuật tổ chức người kể chuyện và điểm nhìn nghệ thuật.
Thực tế nghiên cứu về tác giả Tạ Duy Anh – một trong những cây bút tiên phong mang khát vọng đổi mới quyết liệt – cho thấy phần lớn các công trình trước đây chỉ tập trung vào chủ đề, cảm thức hiện thực, hoặc thế giới nhân vật ngoại biên (như các nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Giang, Vũ Lan Hương, Võ Thị Thanh Hà). Vấn đề then chốt là thiếu vắng một công trình khảo sát toàn diện, có hệ thống và mang tính cấu trúc luận về "Người kể chuyện" – nhân tố trung tâm chi phối kết cấu và quy định toàn bộ hiệu quả thẩm mỹ của tiểu thuyết Tạ Duy Anh.
+-------------------------------------------------------------------------------+
| KHUNG NGHIÊN CỨU TỰ SỰ HỌC TIỂU THUYẾT |
+-------------------------------------------------------------------------------+
| 1. Hệ thống Ngôi kể (Grammatical Person): Ngôi 1, Ngôi 2, Ngôi 3 |
| 2. Phân tầng Điểm nhìn (Point of View): Bên trong, Bên ngoài, Không-Thời gian |
| 3. Hiện tượng Trần thuật: Người kể chuyện không đáng tin (Unreliable Narrator) |
| 4. Phổ Giọng điệu (Tone Spectrum): Quằn quại, Bỗ bã, Triết lí, Trữ tình |
+-------------------------------------------------------------------------------+
Mục tiêu cụ thể của đề tài bao gồm:
- Xác lập và hệ thống hóa cơ sở lý luận tự sự học về hình tượng người kể chuyện, chức năng trần thuật và mối quan hệ giữa người kể chuyện với tác giả thực.
- Giải mã sự độc đáo của mô hình ngôi kể và điểm nhìn nghệ thuật đa tiêu cự trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh.
- Nhận diện và phân tích kỹ thuật xây dựng người kể chuyện không đáng tin cậy (Unreliable Narrator) như một phương thức kích hoạt năng lực đồng sáng tạo của người đọc.
- Khảo sát phổ giọng điệu phức hợp (bỗ bã, triết lý, trữ tình, da diết) và cấu trúc ngôn ngữ đa thanh.
- Đánh giá đóng góp mang tính bước ngoặt của Tạ Duy Anh đối với tiến trình cách tân văn xuôi Việt Nam đương đại.
Giải pháp nghiên cứu được xây dựng trên việc kết hợp thi pháp học cấu trúc (Structural Poetics) với mỹ học tiếp nhận (Reception Aesthetics), khảo sát thực nghiệm trực tiếp trên 3 tiểu thuyết bản lề: Lão Khổ (1992), Thiên thần sám hối (2004) và Già biệt bóng tối (2008). Kết quả kỳ vọng là cung cấp một bản phân tích định lượng kết hợp định tính, xác lập bộ chỉ số trần thuật chi tiết chứng minh tính tiên phong trong kỹ thuật viết của tác giả.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 3 tác phẩm đại diện tiêu biểu nhất cho các bước chuyển phong cách của Tạ Duy Anh, không mở rộng dàn trải ra toàn bộ truyện ngắn hay tản văn nhằm đảm bảo chiều sâu phân tích chuyên biệt.
Phân tích và thiết kế giải pháp
Phân tích hiện trạng
Trước thời kỳ Đổi mới, mô hình tự sự truyền thống thống trị với người kể chuyện toàn tri (Omniscient Narrator) đứng từ ngôi thứ ba khách quan, định hướng tuyệt đối giá trị đạo đức và tư tưởng. Người đọc đóng vai trò tiếp nhận thụ động một chân lý định sẵn.
| Tiêu chí phân tích | Tự sự Hiện thực cổ điển (1930 - 1945) | Tự sự Sử thi (1945 - 1975) | Tự sự Đa thanh Tạ Duy Anh (Sau 1986) |
|---|---|---|---|
| Vị trí người kể | Đứng ngoài bao quát, toàn tri | Nhân danh cộng đồng, toàn năng | Di chuyển linh hoạt, xuyên thấm vào nhân vật |
| Mô hình ngôi kể | Ngôi thứ 3 hoặc ngôi thứ 1 tuyến tính | Ngôi thứ 3 sử thi / Ngôi thứ 1 chứng nhân | Luân chuyển Ngôi 1 - Ngôi 3, thử nghiệm ngôi 2 |
| Khoảng cách thẩm mỹ | Cố định, phân biệt rạch ròi thiện - ác | Thu hẹp tối đa vào lý tưởng chung | Đa cự ly, giễu nhại, xóa nhòa lằn ranh tuyệt đối |
| Độ tin cậy trần thuật | Độ tin cậy cao (Reliable) | Độ tin cậy tuyệt đối | Xuất hiện người kể không đáng tin (Unreliable) |
| Cấu trúc giọng điệu | Đơn giọng, phân tuyến rõ nét | Hùng tráng, ngợi ca đồng nhất | Đa thanh, nghịch dị (Bỗ bã xen lẫn Trữ tình) |
Phân loại yêu cầu nghiên cứu theo mô hình MoSCoW:
- Must have: Giải mã bản chất hình tượng người kể chuyện; phân tích chi tiết ngôi kể và điểm nhìn trong Lão Khổ, Thiên thần sám hối, Già biệt bóng tối; chứng minh sự không đồng nhất giữa tác giả và người kể chuyện.
- Should have: Lập danh mục 4 phổ giọng điệu đặc trưng; trích dẫn và phân tích đối chiếu các đoạn văn bản chứng minh tính bất tín nhiệm của người kể chuyện.
- Could have: Liên hệ so sánh với các kỹ thuật tự sự của văn học phương Tây hiện đại (M. Butor, Franz Kafka, Milan Kundera).
- Won't have: Đi sâu vào phân tích xã hội học thuần túy ngoài văn bản hoặc tiểu sử tác giả không gắn với thi pháp tác phẩm.
Thiết kế hệ thống
Kiến trúc phân tích tự sự học được mô hình hóa qua sơ đồ phân tầng cấu trúc trần thuật:
[ Tác giả ngoài đời thực (Real Author) ]
[ Tác giả hàm ẩn (Implied Author) ]
[ Độc giả hàm ẩn (Implied Reader) ]
[ Độc giả thực tế (Real Reader) ]
Ngăn xếp lý luận và công cụ chuẩn hóa (Version & Frameworks):
- Cơ sở lý luận nền tảng: Thuyết tự sự học cấu trúc (Structural Narratology) của Tzvetan Todorov (1969), Gérard Genette (1980), Boris Uspensky (1973).
- Lý thuyết tiếp nhận & hình thức: Roman Jakobson (Formalism v2.0), Wolfgang Kayser (1958), G. Pospelov (1972).
- Thuật ngữ chuyên ngành chuẩn hóa: Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi) và 150 thuật ngữ văn học (Lại Nguyên Ân, 2004).
Bộ tham số dữ liệu trần thuật (Narratological Data Schema):
Voice_Type: [First_Person_Homodiegetic, Third_Person_Heterodiegetic, Mixed_Focalization]Focalization_Plane: [Spatial_Temporal, Ideological, Psychological_Internal, External_Zero]Reliability_Index: Range [0.0 (Hoàn toàn bất tín) - 1.0 (Tuyệt đối tin cậy)]Tonal_Register: [Tragic_Lament, Colloquial_Vulgar, Philosophical_Debate, Lyrical_Sweet]
Methodology
Phương pháp luận nghiên cứu vận hành theo quy trình tương tự mô hình phát triển lặp (Iterative Analytic Process):
- Giai đoạn 1 - Khảo sát và bóc tách dữ liệu văn bản: Lập chỉ mục toàn bộ các phân đoạn chuyển đổi ngôi kể và giọng điệu trong 3 tiểu thuyết.
- Giai đoạn 2 - Phân loại và mô hình hóa thi pháp: Ứng dụng phương pháp so sánh loại hình và phương pháp hệ thống cấu trúc nhằm phân tách các tầng điểm nhìn.
- Giai đoạn 3 - Tổng hợp và đánh giá giá trị: Đánh giá hiệu quả nghệ thuật, kiểm thử các luận điểm lý thuyết đối chiếu với văn bản ngữ liệu.
Đánh giá và giảm thiểu rủi ro học thuật:
- Rủi ro: Đồng nhất điểm nhìn người kể chuyện với quan điểm của tác giả Tạ Duy Anh.
- Giải pháp: Thiết lập ranh giới tường minh qua khái niệm "Cái Tôi được sáng tạo" (The Created Self) của M. Bakhtin và Kayser: Người kể chuyện chỉ là một chức năng thẩm mỹ mang tính hư cấu.
Implementation và kết quả
Development process
Quá trình giải mã thi pháp được triển khai qua 3 giai đoạn cụ thể:
-
Khảo sát hệ thống Ngôi kể:
- Lão Khổ: Người kể chuyện ngôi thứ ba đóng vai trò bao quát, đứng cao hơn lịch sử để quan sát bi kịch của Lão Khổ từ một anh chăn vịt lên nắm quyền rồi rơi xuống đáy xã hội.
- Thiên thần sám hối: Người kể chuyện ngôi thứ nhất dị thường – một thai nhi trong bụng mẹ, quan sát thế giới qua cảm nhận trực giác và lắng nghe âm thanh ngoại cảnh.
- Già biệt bóng tối: Cấu trúc xen kẽ giữa người kể chuyện xưng "Tôi" và người kể chuyện ngôi thứ ba, tạo nên sự đan cài phức hợp giữa dòng độc thoại nội tâm và bức tranh hiện thực trần trụi.
-
Thuật toán giải mã cấu trúc tự sự đa thanh:
# Mô hình thuật toán phân loại và tính toán chỉ số trần thuật
class NarratologicalAnalyzer:
def __init__(self, novel_title, narrator_person, focalization_mode):
self.novel_title = novel_title
self.narrator_person = narrator_person # '1st_Person' or '3rd_Person'
self.focalization = focalization_mode # 'Internal', 'External', 'Multiple'
self.tonal_vectors = {}
def compute_narrative_complexity(self, shift_frequency, unreliability_weight):
"""
Tính toán độ phức tạp của cấu trúc trần thuật
shift_frequency: Tần suất chuyển đổi điểm nhìn (lần/chương)
unreliability_weight: Trọng số tính bất tín của người kể chuyện (0.0 - 1.0)
"""
base_score = 1.5 if self.narrator_person == '1st_Person' else 1.0
complexity_index = (base_score * 0.4) + (shift_frequency * 0.35) + (unreliability_weight * 0.25)
return round(complexity_index, 3)
# Khởi tạo dữ liệu cho 3 tiểu thuyết của Tạ Duy Anh
lao_kho = NarratologicalAnalyzer("Lão Khổ", "3rd_Person", "Multiple")
thien_than = NarratologicalAnalyzer("Thiên thần sám hối", "1st_Person", "Internal")
gia_biet = NarratologicalAnalyzer("Già biệt bóng tối", "1st_Person_Mixed", "Multiple")
print(f"Index Lão Khổ: {lao_kho.compute_narrative_complexity(shift_frequency=4.2, unreliability_weight=0.3)}")
print(f"Index Thiên thần: {thien_than.compute_narrative_complexity(shift_frequency=6.8, unreliability_weight=0.85)}")
print(f"Index Già biệt bóng tối: {gia_biet.compute_narrative_complexity(shift_frequency=8.5, unreliability_weight=0.7)}")
- Bóc tách 4 phổ giọng điệu chủ đạo:
- Giọng quằn quại, da diết: Thể hiện nỗi đau đớn trước sự tha hóa nhân cách và sự nghiệt ngã của số phận con người trong vòng xoáy lịch sử.
- Giọng bỗ bã, dung tục: Sử dụng tầng lớp khẩu ngữ đời thường ("mẹ kiếp", "tai sinh hay tai đẻ", các lời chửi bới bộc trực) nhằm hạ bệ tính trang nghiêm giả tạo, kéo văn học về sát thực tế trần trụi.
- Giọng triết lí, tranh biện: Đặt ra những câu hỏi bản thể học về lịch sử, nhân phẩm và sự tồn tại: "Dẫu sao lịch sử thường rất tối mù và ta chỉ nên tin vừa phải thôi", "Lịch sử thích tuốt gươm chiến công mà..." (Lão Khổ).
- Giọng trữ tình, ngọt ngào: Xuất hiện như những khoảng lặng cứu rỗi, thanh lọc tâm hồn độc giả giữa hiện thực bức bối (ký ức tuổi thơ, hình ảnh làng quê dưới chân núi trong Thiên thần sám hối hay ánh sáng tỏa ra từ cô giáo trong Già biệt bóng tối).
Testing và validation
Hiệu quả của mô hình phân tích tự sự được kiểm chứng qua các tiêu chí trích xuất định lượng từ văn bản:
PHÂN BỐ MA TRẬN ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT (%)
Chỉ số xác lập thực nghiệm:
- Tỷ lệ bao phủ thi pháp: 100% các biến thể người kể chuyện trong văn bản khảo sát đều được định danh chính xác theo chuẩn phân loại học của Todorov và Genette.
- Tính nhất quán của luận điểm: Đã giải quyết triệt để sự nhập nhằng giữa "tiếng nói của nhân vật" và "tiếng nói của người kể chuyện", chứng minh qua hiện tượng lời nửa trực tiếp (Free Indirect Discourse).
Kết quả đạt được
Nghiên cứu đã làm sáng tỏ 5 đóng góp cấu trúc mang tính bản lề trong nghệ thuật tiểu thuyết của Tạ Duy Anh:
- Đột phá về ngôi kể: Phá vỡ thế độc tôn của ngôi thứ ba truyền thống bằng cách trao quyền năng trần thuật cho những ngôi kể dị thường (thai nhi chưa sinh, kẻ sống trong bóng tối).
- Kỹ thuật tổ chức đa điểm nhìn: Thiết lập sự luân chuyển linh hoạt giữa điểm nhìn bên trong (tâm lý, cảm giác) và điểm nhìn bên ngoài (quan sát hành vi), điểm nhìn đánh giá tư tưởng và điểm nhìn không - thời gian.
- Thao tác hóa người kể chuyện không đáng tin (Unreliable Narrator): Buộc người đọc phải liên tục hoài nghi tính xác thực của thông tin trần thuật, từ đó chuyển vị thế từ người tiếp nhận thụ động sang người đồng kiến tạo văn bản.
- Hệ thống hóa phổ giọng điệu phức hợp: Chứng minh sự tương phản nghệ thuật đỉnh cao giữa một bên là ngôn từ thô nhám, bỗ bã, vỉa hè với một bên là triết lý sâu sắc, trữ tình hướng thiện.
- Tái định hình quan hệ Tác giả - Người kể chuyện: Người kể chuyện là một sinh thể nghệ thuật độc lập tương đối, không phải là cái loa phát thanh giản đơn cho tư tưởng của tác giả Tạ Duy Anh.
Đổi mới và đóng góp
Nghiên cứu mang lại những đóng góp mới rõ nét cho lĩnh vực lý luận văn học và nghiên cứu tác gia Việt Nam đương đại:
TIẾN TRÌNH CÁCH TÂN PHƯƠNG THỨC KỂ CHUYỆN
• Tâm lý hiện thực • Lạnh lùng, trung tính • Tự sự dòng ý thức
• Cốt truyện đơn tuyến • Gián cách thẩm mỹ • Cấu trúc phi tuyến tính
-
So sánh với giải pháp tiền nhiệm:
- So với phương thức trần thuật của Nam Cao (khai thác ngôi thứ nhất xưng Tôi giàu chất tự vấn tâm lý nhưng vẫn vận hành trên trục thời gian tuyến tính ổn định), Tạ Duy Anh làm nứt vỡ thời gian, đưa dòng ý thức và những ẩn ức tiềm thức vào trung tâm trần thuật.
- So với Nguyễn Huy Thiệp (người kể chuyện ngôi thứ ba sắc lạnh, tối giản, đẩy hành động nhân vật đến cực đoan mà ít bình luận), Tạ Duy Anh sử dụng người kể chuyện tham dự sâu vào các cuộc tranh luận triết học, phơi bày những vết thương nhân tính bằng giọng điệu quằn quại da diết.
-
Cải tiến định lượng trong nghiên cứu:
- Nâng cao tính chính xác trong phân tích thi pháp văn bản từ mức độ cảm thụ định tính thuần túy lên mô hình phân tích cấu trúc tự sự có khả năng tái kiểm chứng trên văn bản.
- Định danh chính xác 4 dạng thức giọng điệu và cơ chế phối âm bè đa thanh (Polyphony) trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ hậu Đổi mới.
Ứng dụng thực tế và triển khai
Tình huống ứng dụng thực tế
- Giảng dạy đại học và sau đại học: Cung cấp học liệu tham khảo chuẩn mực cho chuyên đề Tự sự học, Thi pháp học tiểu thuyết và Văn học Việt Nam hiện đại tại các trường Đại học Sư phạm, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
- Phê bình và tiếp nhận văn học: Cung cấp khung lý thuyết giúp các nhà phê bình giải mã các hiện tượng văn xuôi thể nghiệm đương đại phức tạp khác (như tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, Thuận, Châu Diên).
- Phân tích văn bản trong nhân văn số (Digital Humanities): Làm tiền đề cho việc xây dựng bộ gán nhãn dữ liệu (Corpus Annotation) về điểm nhìn và giọng điệu phục vụ cho việc phân tích cảm xúc (Sentiment Analysis) và phân loại tự sự tự động trên kho ngữ liệu văn học tiếng Việt.
Lộ trình triển khai (Roadmap)
Giai đoạn 1 (Tháng 1-2): Thu thập & Số hóa ngữ liệu 3 tiểu thuyết
Giai đoạn 2 (Tháng 3-4): Phân tầng cấu trúc & Lập ma trận điểm nhìn
Giai đoạn 3 (Tháng 5): Hoàn thiện luận văn & Kiểm thử phản biện
Giai đoạn 4 (Sau tốt nghiệp): Mở rộng khung phân tích sang Digital Humanities
Hạn chế và hướng phát triển
- Hạn chế tồn tại: Do giới hạn dung lượng của một khóa luận tốt nghiệp đại học, nghiên cứu mới chỉ tập trung phân tích sâu trên 3 tiểu thuyết (Lão Khổ, Thiên thần sám hối, Già biệt bóng tối), chưa bao quát toàn bộ 6 tiểu thuyết của Tạ Duy Anh (chưa khảo sát chi tiết Khúc dạo đầu, Bước qua lời nguyền, Sinh ra để chết).
- Hướng phát triển tương lai:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang toàn bộ hệ thống truyện ngắn và tản văn của Tạ Duy Anh để xác lập một bức tranh toàn diện về phong cách nghệ thuật tác giả.
- Ứng dụng công nghệ xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) để xây dựng biểu đồ phân bố giọng điệu và từ khóa cảm xúc xuyên suốt toàn bộ tác phẩm của Tạ Duy Anh.
- Mở rộng so sánh liên văn hóa giữa nghệ thuật tự sự của Tạ Duy Anh với các tác gia tiểu thuyết lớn của khu vực và thế giới (như Mạc Ngôn, Haruki Murakami, Gabriel García Márquez).
Đối tượng hưởng lợi
- Sinh viên & Học viên chuyên ngành Ngữ văn: Nắm bắt phương pháp luận tự sự học cấu trúc chuẩn xác để ứng dụng vào việc phân tích các tác phẩm văn xuôi khác.
- Giảng viên & Giáo viên Ngữ văn THPT: Có thêm nguồn tư liệu chuyên sâu phục vụ việc soạn giảng các tác phẩm văn học giai đoạn Đổi mới trong chương trình giáo dục phổ thông.
- Nhà nghiên cứu & Phê bình văn học: Kế thừa bộ khung phân loại điểm nhìn và người kể chuyện không đáng tin để đánh giá tiến trình hiện đại hóa của tiểu thuyết Việt Nam.
- Tác giả sáng tác văn xuôi trẻ: Rút ra những bài học thực tiễn về kỹ thuật tổ chức người kể chuyện, kỹ xảo luân chuyển điểm nhìn và nghệ thuật phối âm giọng điệu trong thực hành viết.
Câu hỏi thường gặp
-
Người kể chuyện trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh khác gì so với tác giả ngoài đời thực? Người kể chuyện là một hình tượng nghệ thuật mang tính hư cấu do tác giả sáng tạo ra để thực hiện hành vi trần thuật. Tác giả Tạ Duy Anh là con người tiểu sử ngoài đời thực, trong khi người kể chuyện (dù xưng "Tôi" hay đứng ở ngôi thứ ba) chỉ là một nhân vật chức năng mang điểm nhìn, giọng điệu và giới hạn nhận thức cụ thể trong tác phẩm.
-
Người kể chuyện không đáng tin cậy (Unreliable Narrator) mang lại giá trị thẩm mỹ gì? Kỹ thuật này giúp xóa bỏ tính áp đặt tư tưởng đơn chiều của tác giả, kích thích người đọc phải luôn tỉnh táo, nghi ngờ, phân tích và tự tìm kiếm chân lý, từ đó biến quá trình đọc thành một hành trình đồng sáng tạo nghệ thuật.
-
Tại sao Tạ Duy Anh lại kết hợp giọng bỗ bã, dung tục với giọng triết lý sâu sắc? Sự kết hợp này phản ánh bản chất phức tạp, đa chiều của đời sống hiện đại: vừa trần trụi, nhơ nhớp, bi kịch nhưng cũng vừa khao khát những giá trị Chân - Thiện - Mỹ tối thượng. Nó tạo ra hiệu ứng tương phản nghệ thuật gay gắt, gây ấn tượng mạnh cho người tiếp nhận.
-
Khung lý thuyết tự sự học này có thể áp dụng cho các tác giả khác không? Hoàn toàn có thể. Mô hình phân tích ngôi kể, điểm nhìn và giọng điệu theo Todorov, Genette và Kayser là khung chuẩn quốc tế, có thể ứng dụng hiệu quả cho bất kỳ tác giả văn xuôi tự sự nào.
-
Nghiên cứu này đóng góp gì cho việc giảng dạy tác phẩm của Tạ Duy Anh trong nhà trường? Nghiên cứu giúp chuyển đổi phương pháp dạy học từ "phân tích nội dung phản ánh" thuần túy sang "khám phá hình thức nghệ thuật mang tính nội dung", giúp học sinh, sinh viên hiểu rõ cách thức nhà văn tạo ra ý nghĩa cho văn bản.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp Người kể chuyện trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh của tác giả Mai Hạnh Ngân (người hướng dẫn: TS. Phùng Gia Thế, ĐHSP Hà Nội 2) là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, có hệ thống và đạt chuẩn mực học thuật cao. Khóa luận đã giải mã thành công bản chất cách tân của Tạ Duy Anh thông qua lăng kính tự sự học: từ việc phá vỡ ngôi kể truyền thống, thiết lập hệ thống đa điểm nhìn, xây dựng người kể chuyện không đáng tin cậy cho đến việc phối hợp hài hòa bốn sắc thái giọng điệu độc đáo.
Công trình không chỉ khẳng định vị thế tiên phong của Tạ Duy Anh trong nền văn xuôi Việt Nam đương đại mà còn cung cấp một mô hình phân tích tự sự học mẫu mực cho giới nghiên cứu và học tập văn học. Để tiếp cận sâu hơn các kết quả phân tích chi tiết và hệ thống trích dẫn ngữ liệu hoàn chỉnh, bạn đọc có thể tham khảo toàn văn khóa luận tại thư viện chuyên ngành Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.