Đặt vấn đề Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới có gió mùa, có ánh nắng chan hoà, lượng mưa déi dao và độ 4m cao. Một số nơi gần chí tuyến hoặc vùng núi cao có tính chất khí hậu ôn đới. Được mẹ thiên nhiên ưu đãi với hệ thực vật phong phú tốt tuoi. Từ ngày xưa ông cha ta đã phát hiện và kết hợp các loài cây, cỏ lại với nhau dé chữa bệnh.
Kế thừa những tinh hoa của ông cha ta dé lại với nền y học ngày càng phat triển chúng ta không ngừng tìm kiếm và nghiên cứu những cây, cỏ chứa các hợp chất dược liệu dé phòng ngừa và chữa bệnh. Cây cối xay (hay gọi là cây dang xay, kim hoa thảo, ma mãnh thảo, nhĩ hương thảo) tên khoa học là Abutilon indicum, thuộc ho Bông, mọc hoang ở khắp nơi trên cả nước từ vùng đồng bang ven biển đến trung du và cả vùng núi thấp (dưới 600 m). Còn mọc tại các nước vùng nhiệt đới châu Á, Malaysia, Indonesia. Cây cối xay có chứa nhiều nhớt, thường mọc ở đất khô.
Thường người ta dùng lá, thân, rễ và quả tươi hay khô phơi khô kết hợp với các thảo được khác làm các bài thuốc chữa bệnh. Vỏ cây còn cho một thứ sợi trắng bóng, dùng làm dây buộc. Thân, cành, lá, hoa, quả, rễ của cây cối xay đều có dược chất. Nó đã được đã được sử dụng trong các bai thuốc đông y với công dụng giải biểu nhiệt, hoạt huyết, lợi tiểu.
Chủ trị: Cảm mạo phong nhiệt, sốt cao, đau đầu, tai ù, điếc, sốt vàng da, tiểu tiện vàng đỏ, đái rắt, đái buốt, phù thũng, lở ngứa, dị ứng (theo Dược điển Việt Nam). Tuy nhiên cây cối xay chưa được được biết đến và sử dụng phổ biến và ít người biết đến công dụng của nó mang lại. Vì vậy, đề tài “Khảo sát các hợp chất và hoạt tính sinh học dịch chiết của cây cối xay (Abutilon indicum) thu hái tại tỉnh phú yên ” nhằm phân tích các hợp chất có trong cây cối xay dé có thé hiểu hơn giá trị dược liệu của cây cối xay. Mục tiêu đề tài Khảo sát thành phần hợp chất và đánh giá hoạt tính kháng vi sinh, oxy hóa của dịch chiết cây cối xay.
Nội dung thực hiện Khảo sát thành phần hợp chất dược liệu trong dịch chiết cây cối xay. Khảo sát hoạt tính sinh học của dịch chiết cây cối xay. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Khái quát chung về cây cối xay Cây cối xay hay gọi là cây đằng xay, kim hoa thảo, ma mãnh thảo, nhĩ hương thảo thuộc: Giới: Plantae Bộ: Malvales Họ: Malvaceae Chi: Abutilon Loai: Abutilon indicum J a „ Hình 1.
Cây côi xay Cây mọc hoang ở khắp nơi trên cả nước từ vùng đồng bằng ven biển đến trung du và cả vùng núi thấp (dưới 600 m). Còn mọc tại các nước vùng nhiệt đới châu Á, Malaysia, Indonesia. Cây cối xay có chứa nhiều nhớt, thường mọc ở đất khô. Cây ưa âm, ưa ánh sáng, chịu được bóng ở thời kì cây còn nhỏ.
Cây ra hoa quả nhiều hàng năm, lá rụng vào mùa đông hoặc mùa khô. Mỗi quả có nhiều hạt, khi chín tự mở ra, hạt phát tán xung quanh, mùa xuân hạt nảy mam, cay con mọc xung quanh gốc cây me (thường thay nhiều vào tháng 3-5). Người ta trồng làm thuốc bằng cách nhân giống từ hạt, gieo vào đầu mùa mưa. Sau khi chặt, phần còn lại của cây vẫn có khả năng tái sinh.
Mùa hoa: tháng 2-3, mùa quả: tháng 4-6. Theo Ngô Xuân Quang (2012), cây cối xay là loại cây gỗ nhỏ, thân non màu xanh, có nhiều lông mịn, một bên thân có màu tím, một bên màu xanh. Lá đơn, mọc cách, dài 8-9 cm, rộng 8-11 cm. Phiến lá hình tim mũi nhọn, mép lá răng cưa không đều, màu xanh đậm ở mặt trên và nhạt hơn ở mặt dưới, có lông mịn ở cả hai mặt, gân chân vịt có 8- 9 gân chính, có lông mịn.
Cuống lá hình trụ, dai 8-9 cm, màu xanh ở mặt lưng và màu tím ở mặt bụng, có nhiều lông mịn, lông dài hơn ở nơi giáp giữa cuống và phiến lá, gốc cuống hơi phình, dài 3-5 mm, có màu xanh; có đốt gần ngọn cuống. Lá kèm: có lông, hình chỉ đài 3-5 mm, màu xanh, hơi tím ở gốc, đỉnh có chấm màu tím đen. Hoa đơn độc ở nách lá gần ngọn, đều, lưỡng tính. Cuống hoa hình trụ đài 5-7 em, màu xanh, có lông mịn, có đốt gan ngon.
Đề hoa mau xanh, lồi hình chén, dài 1,5-2 mm, mặt ngoài có lông min. Đài hoa: 5 lá dai đều, màu xanh, dính nhau ở phần dưới tạo thành ống hình chén cao 2-3 mm, trên chia 5 thùy hình tam giác dai 2-3 mm, đỉnh có mũi nhọn dai 0,2-0,5 mm; nhiêu lông min ngăn ở mặt ngoài va dai ở mặt trong; có 1 gân kéo dài từ gôc tới đỉnh lá đài; tiền khai van. Trang hoa: 5 cánh hoa màu vàng tươi, đều, rời, hình nêm thuôn nhỏ về phía gốc, móng ngắn hình tam giác dính vào đáy ống chỉ nhị; nhiều gân dọc màu vàng; tiền khai vặn theo chiều kim đồng hồ. Bộ nhị: nhiều, chỉ nhị có lông, màu vàng, dính nhau ở phần dưới thành ống hình trụ dai 4,5-5,5 mm, bao lay bầu và vòi nhụy, bên trên rời hình sợi dài 2,5-3 mm; bao phấn màu vàng, hình than, dài 0,5-1 mm, rộng 0,3- 0,5 mm, 1 6, nứt đọc, hướng ngoại, đính giữa; hat phan rời, màu vàng, hình cầu gai, đường kính 40-60 um.
Bộ nhụy: 16-20 lá noãn rời xếp cạnh nhau, 16-20 6 mỗi ô có 3 noãn, bầu trên đài 3-4 mm, có lông màu trắng phủ kín mặt ngoài; 16-20 vòi nhụy đính đỉnh bau, màu xanh nhạt, dai 4-5 mm, phía dưới dính nhau thành 1 ống đài 1,5-2 mm nằm trong ống chỉ nhị, bên trên rời choãi ra mọi hướng xen lẫn bao phan; đầu nhụy hình khôi tròn, màu trăng. Quả bé màu xanh khi non, giả có màu đen, gôm nhiêu quả hình Hình 2. Hình thái cây cối xay (Abutilon indicum). a) Ré cây cối xay; b) Thân trưởng thành cây cối xay; e) Hat cây cối xay; d) Hoa cây cối xay; e) Mặt trên lá cây cối xay; f) Mặt dưới cây coi xay; g) Quả cây cối xay.
Công dụng của cây cối xay Ở Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cán bộ quân dân y Nghĩa Bình phát hiện cây Cối xay có tác dụng chống viêm mạnh và đùng chữa đau khớp. Thử nghiệm trên chuột nhất trắng gây viêm bằng tiêm dịch treo kaolin vào gan bàn chân, thuốc đã ức chế phù nề được 84. Trong đông y, nó là một vị thuốc quý, có vị hơi ngọt, tính mát, có công hiệu giảm đau do cảm gió, thanh huyết nhiệt, giải độc lọc máu, khai khiếu, hoạt huyết, chữa mụn nhọt, thông tiểu tiện, chữa sốt, chữa tiểu đỏ. Thường dùng chữa số mũi, sốt cao, nhức dau do phong nhiệt, viêm tuyến mang tai truyền nhiễm, đau tai, ù tai, giảm thính lực, tiểu tiện ít, nước tiểu vàng, tiểu rat, tiểu buốt,.
Theo lương y Phạm Ngọc thì cây cối xay được dùng dé chữa một số loại bệnh sau: Chữa cảm sốt (kế cả đau đầu, ù tai, bí tiểu tiện), bạch đới: Rễ hoặc lá cây cối xay 4 —8 g, sắc uống ngày | thang, chia 2 lần. Chữa mụn nhot, rắn căn: Dùng lá tươi va hạt cây Dang xay từ § — 12 g, giã nhỏ, thêm nước vắt lay nước cốt uống (dùng trị cả ly), bã đắp lên mụn nhọt hoặc nơi vết rắn can. Chữa vàng da hậu san: Lá cối xay 12 — 16 g, nhân trần 15 g, sắc lay nước uống thay nước trong ngày. Cần uống 5 - 7 ngày liền.
Lam tăng lượng tinh dịch: Hoa Dang xay 15 — 20 g, sắc hãm lay nước uống hang ngày. Làm thông sữa, nhuận tràng (chữa phụ nữ tắc sữa, thiếu sữa, bệnh đường niệu, ung nhot): Dùng đông quỳ tử 10 — 15 g, sắc uống, ngày 1 thang; (đông quỳ tử tức là hạt gia đã chế biến khô của cây cối xay của Trung Quốc, còn gọi là cây Thương ma tên khoa học Abutilon avicenae Gaertn, họ bông Malvaceae, có vi ngọt, tính han, di vào kinh dai trang và tiêu tràng có công năng lợi tiêu, thông sữa, nhuận tràng). Chữa cảm sốt, nhức đầu do phong nhiệt: Cây Cối xay 12-16 g, lá tre 8 g, bạc hà 6g, kinh giới 8 g, kim ngân hoa 12 g. Nấu với 750 ml nước sắc còn 250 ml, chia 2 lần, uống trước bữa ăn.
Chữa sốt vàng da, phụ nữ sau khi sinh bị cảm phong nhiệt: Lá Cối xay 12-16 g, lá cach 16 g, nhân tran 12-16 g, nấu với 500 ml nước. Sắc còn 250 ml, chia 2 lần, uống trước bữa ăn. Chữa đau tai, ù tai, thính lực giảm: Quả Cối xay 30 g (hoặc toàn cay) tươi 60g, nấu canh với thịt heo nạc dé ăn trong bữa cơm. Chữa phụ nữ sau khi sinh bị phủ thũng: Lá Cối xay 20-30 g, ích mẫu 12-16 g, nấu với 300ml nước.
Sắc còn 150 ml, chia 2 lần, uống trước bữa ăn. Kiết ly hay mắt cá màng mộng: Quả Cối xay, hoa Mào gà mỗi vị 30 g, sắc uống. Một số hop chat có trong cây dược liệu 2. Alkaloid Alkaloid là những hợp chất thiên nhiên với nhiều dang cấu trúc khác nhau, có hoạt tính sinh học rõ rệt.
Hiện nay có khoảng 5500 loại alkaloid được biết đến, phần lớn là hợp chất thứ cấp ở thực vật theo Makkar và ctv (2007). Polonopski định nghĩa: "Alkaloid là những hợp chất hữu cơ có chứa nitơ, đa số có nhân dị vòng, có phản ứng kiềm, thường gặp trong thực vật và đôi khi có trong động vật, thường có dược tính mạnh và cho những phản ứng hóa học với một số thuốc thử chung của alkaloid." Tuy nhiên cũng có một số chất được xếp vào nhóm alkaloid nhưng nitơ không có di vòng ma ở mạch nhánh như: ephedrine trong Ma hoàng Ephedra sinica Staf., capsaisin trong Ot Capsicum annuum L., hordenin trong mầm mạch nha Hordenum sativum Jess., colchicine trong hạt cây tỏi độc Colchicum autumnale L. Một số alkaloid không có phản ứng với kiềm như colchicine lấy từ hạt tỏi độc, ricinin lay từ hạt thầu dau Ricinus communis L., theobromin trong hat cây cacao Theobroma cacao L. va có alkaloid phan ứng với acid yếu như arecaidin và guvacin trong hạt cau Areca catechu Lu.
Công dụng của alkaloid rat da dang và phong phú, tùy theo từng loại alkaloid. Tác dụng lên hệ thần kinh: kích thích thần kinh trung ương (strychnine, caffeine). Ức chế thần kinh trung ương (morphin. Codeine), kích thích thần kinh giao cảm (ephedrine), liệt giao cam (yohimbine), kích thích phó giao cảm (pilocarpine), liệt phó giao cảm (atropine), gây tê (cocaine).
Tác dụng hạ huyết áp: reserpine, serpentin. Tác dụng chống ung thư: taxol, vinblastine, vincristine. Tác dụng diệt ký sinh trùng, diệt khuẩn: quinine, berberine, arecoline, emetine.