Đặt vấn đề Tỷ lệ mắc bệnh gút và tăng acid uric máu đang gia tăng trên toàn thế giới (Becker, 2015; Roddy, 2007). Bệnh chủ yếu ở nam giới, nhưng cũng phô biến ở phụ nữ lớn tuổi (Kramer, 2002), sau thời kì mãn kinh làm tăng nguy cơ mắc bệnh gút ở phụ nữ (Hak, 2010). Bệnh gút gần đây đã vượt qua bệnh viêm khớp dạng thấp dé trở thành bệnh viêm khớp phổ biến nhất ở Hoa Kỳ (Beara-Lasic, 2010). Ở Anh, bệnh git là một bệnh viêm khớp phô biến ảnh hưởng đến 1,4% dân só, với tỷ lệ hiện mắc bệnh cao tới 7% ở nam giới trên 75 tuổi (Baker, 2009).
Ty lệ mắc bệnh gút ở một số dân tộc như Maori ở New Zealand cao tới 6,1% nói chung và 30% ở nam giới nói riêng trên 75 tuổi (Winnard, 2012). Ở Việt Nam, ty lệ tăng acid uric máu đạt 12,6% đối với người trên 40 tuổi (công bố năm 2015) và đạt 43,2% đối với nam giới dưới 40 tuổi (công bố năm 2020) (Phạm Thu Hằng, 2021). Bệnh gut (gout) là một loại viêm khớp đột ngột gây sưng đỏ va đau ở các khớp, bệnh xảy ra khi acid uric trong máu tăng cao làm lắng đọng các tinh thé urat ở khớp gây ra tinh trạng viêm ở khớp. Nguyên nhân gây ra bệnh gut là do rối loạn chuyền hóa acid uric trong cơ thé.
Các yếu tố có thé làm tăng khả năng mắc bệnh gut: mắc các bệnh ly về thận ( viêm cầu thận, suy thận,.) làm giảm chức năng thận khiến acid uric tích tụ trong cơ thể ngày càng tăng; các bệnh về tim; sử dụng các loại thuốc điều trị bệnh như ung thư, tăng huyết áp; di truyền; sử dụng rượu bia, thuốc lá thường xuyên; ăn quá nhiều thực phẩm giàu chất đạm, các động thực vật chứa nhiều purin như hai sản, nam, tring, nội tang động vat. Bệnh gut cũng giống như đa số các bệnh xương khớp khác, khó có thé điều tri dứt điểm bệnh hoàn toàn mà chỉ có thé sử dụng thuốc dé kìm hãm và kiểm soát tình trạng bệnh. Các thuốc có nguồn gốc hóa dược điều trị bệnh gút mãn tính dù có ưu điểm nỗi bật như hiệu quả tức thời dé sản xuất, dé sử dụng và bảo quản; nhưng hạn chế lớn nhất là tác dụng phụ của thuốc và tính kháng thuốc khi sử dụng trong thời gian dài. Chính vì lẽ đó việc sử dụng có loại dược phẩm thiên nhiên có tac dụng hiệu quả, an toan, ít tác dụng phụ dé phuc vu cho viéc điều trị căn bệnh gút là vấn đề cần thiết không chỉ riêng Việt Nam mà còn là cả nước trên thế giới.
1 Dinh lăng (Polyscias fruticosa (L.) Harms) thuộc họ Nhân sâm (Araliaceaae). Ở Việt Nam, từ lâu Dinh lăng đã được trồng và sử dụng phổ biến. Ngoài tác dụng bồi bổ va tăng cường sức khỏe, Dinh Lang còn được biết tới với tác dụng khác như lợi tiểu, kháng viêm, giảm đau, hạ sốt, ức chế enzyme (Bensita et al., 1998; Nguyễn Thị Thu Hương và Lương Kim Bich, 2001; Hồ Lương Nhật Vinh, 2014). Nghiên cứu tại Trung tâm Sâm và Dược liệu TP.HCM đã sang lọc được cao chiết ethanol 80% từ Đinh lăng thể hiện hoạt tinh chống oxy hóa bắt gốc tự do DPPH, ức chế peroxy hóa lipid tế bào, ức chế xanthine oxidase mạnh hơn cao chiết nước, cao chiết ethanol 45%.
Tuy nhiên vẫn ít có nghiên cứu tác dụng của Dinh lăng trong việc hỗ trợ điều trị một số triệu chứng của bệnh gút. Dựa vào kết quả nghiên cứu trên nên đề tài lựa chọn cao chiết ethanol 80% từ Dinh lăng (Polyscias fruticosa (L.) Harms) dé nghiên cứu tác dụng hạ acid uric máu, kháng viêm, giảm đau, nhằm tìm ra được liệu có tác dụng theo hướng hỗ trợ điều trị bệnh gút. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh gút của cao chiết tiềm năng từ Dinh lăng. Nội dung nghiên cứu Nội dung 1: Khảo sát độc tính cấp đường uống cao chiết ethanol 80% từ Đinh lăng lá nhỏ.
Nội dung 2: Đánh giá được tác dụng hạ acid uric máu của cao chiết 80% từ Đinh lăng lá nhỏ. Nội dung 3: Đánh giá được tác dụng kháng viêm của cao chiết 80% từ Đinh lăng lá nhỏ. Nội dung 4: Đánh giá được tác dụng giảm đau của cao chiết 80% từ Đinh lăng lá nhỏ. TONG QUAN TÀI LIEU 2.
Giới thiệu về Dinh lăng lá nhỏ 2. Vị trí phần loại Polyscias fruticosa L., thuộc họ Nhân sâm (họ Ngũ gia bì) (Trương Thị Đẹp, 2011) hay còn được gọi é với tên thông dung là cây Goi cá, cây Dinh lăng nếp hoặc Nam dương sâm (Phạm Quỳnh Liên, 2016). Cây được phan j; ` loại như sau: Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida) Phân lớp Hoa Hồng (Rosidae) Bộ Sơn Thu Du (Cornales) Hình 2. Dinh lăng lá nhỏ Họ Ngữ Gia Bi CAratincear) (Tran Van On va ctv, 2016) Chi Polyscias Loai Polyscias fruticosa 2.
Đặc điểm thực vật cây Dinh lăng Mô tả: Cây nhỏ dạng bụi, cao 1,5 — 2m. Thân nhẫn, ít phân nhánh, các nhánh non có nhiều lỗ bì. Lá kép mọc so le, lá chét và các đoạn đều có cuống. Cụm hoa chùy ở ngọn, gồm nhiều tán.
Hoa nhỏ, mau trắng xám. Quả hình trứng, det, mau trắng bạc. Cây Dinh lăng lá nhỏ có kích thước thân khoảng 0,8 — 1,5m, không có gai. Lá kép kiểu xẻ lông chim, độ dài khoảng từ 20 - 40 cm, cuống lá dài khoảng 3 - 10 mm; phiến lá thuôn nhọn dài khoảng 3 - 5 cm, rộng khoảng 0,5 — 1,5 cm, gân lá hình dang lông chim, gân chính hiện rõ, kèm theo là một số cặp gân phụ.
Cụm hoa hình thùy ngắn, mỗi tán tụ thành chùm ở ngọn cành, mang nhiều hoa nhỏ màu trắng xám (Đỗ Huy Bich va ctv, 2006). Phân bố sinh thái Loại cây này có nguồn gốc ở quần đảo Thái Bình Dương và được trồng chủ yếu dé làm cảnh trong các đình chùa, hoặc vườn trong gia đình. Do có những lợi ích trong hỗ trợ điều trị bệnh, người ta đã trồng nó trong các bệnh viện, trạm xá và vườn thuốc từ năm 1961 (Đỗ Huy Bích và ctv, 2006) Dinh lăng là loại cây ưa 4m và có thé hơi chịu bóng, trồng được trên nhiều loại đất. Thậm chí với một lượng đất rất ít trong chậu nhỏ, cây vẫn có thể sống được, theo kiểu cây bonsai.
Trồng bằng cành sau 2 — 3 năm cây có hoa quả. Dinh lăng có khả năng tái sinh vô tính khỏe, với một đoạn thân hoặc cành cắm xuống đất đều trở thành cây mới (Đỗ Huy Bich và ctv, 2006). Bộ phận sử dụng và công dụng Bộ phận sử dụng gồm: rễ, thân, lá. Thu hoạch rễ của những cây đã trồng từ 3 năm trở lên, đem rửa sạch phơi khô ở chỗ mát, thoáng gió dé đảm bảo mùi hương và phẩm chất.
Khi dùng, đem rễ tâm nước gừng tươi 5% sao qua, rồi tam 5% mật ong hoặc mật mía. Lá thu hái quanh năm thường dùng tươi (Võ Văn Chị, 1997) Rễ có vị ngọt, được dùng làm thuốc tăng lực, cải thiện tình trạng suy nhược cơ thể, tiêu hóa kém. Ngoài ra còn dùng chữa ho, ho ra máu, đau tử cung, kiết ly và làm thuốc lợi tiểu, chống độc. Lá có vị nhạt, hơi dang, có tac dụng chữa cam sốt, mụn nhọt sưng tay, sung vu, di ứng man ngứa, mau lành vết thương.
Thân và cảnh chữa thấp khớp, đau lưng. Có thé ding rễ khô tán bột hoặc rễ tươi ngâm rượu uống (Đã Huy Bích và ctv, 2006; Lại Thị Ngọc Hà và ctv, 2010). Thành phần hóa học có trong Dinh lăng Dựa vào công dụng y học tiềm năng của cây Dinh lăng lá nhỏ, các nha khoa học đã đặc biệt chú ý đến việc phân tích những thành phần hóa học có trong rễ, thân và lá của cây. Theo kết quả thu nhận được từ Lương Thị Bích và cộng tác viên cho thấy ở lá, thân và rễ có chứa glycosid, alkaloid, tanin, saponin, flavonoid, chlorophyll, vitamin tan trong nước (BI, B2, Bó, C) và khoảng 20 acid amin như arginin, alanin, tryptophan, metionin, lysin, phenylalanine, prolin, threonine, tyrosine, cysteine, asparagine, acid glutamic,.
NHhsaan i H i eon i 3 roe H,C NH, NH, NH, Arginin Alanin Asparagin ° ° °o ° HạC HS OH HO OH ‘OH NH, NH, CH; NH, Cystein Acid Glutamic Leucin °o ° 9° OH xà Po yh = NH NH, Phenylalanin Prolin Mctionin CH, O °o eo oh ng » Oo NH. NH, x N : Threonin Tyrosin Tryptophan o 2 ^^. HạN NH; Lysin Hình 2. Cac acid amin có trong Dinh lăng (Luong Thị Bích, 2001) Đinh lăng có chứa 2 nhóm hợp chất chính và quan trọng là hợp chất saponin (Cotelle, 2001; Vo Duy Huan, 1998) và polyacetylen (Lutomski, 1992).
Trong đó triterpenoid saponin, cụ thể là acid oleanolic có trong lá, trong khi đó thành phần chính trong rễ là polyacetylen (Kostié Danijela, 2015).4 Cong thức chung saponin triterpenoid của cây Đinh lăng (Proliac J., 1996; Nguyễn Thị Nguyệt và ctv, 1992) Hình 2. Công thức cấu tạo của Acid Oleanolic (Vo Duy Huan va ctv, 1998) Ham lượng saponin toàn phan trong lá là 0,38%. Ngoài ra còn có tinh dầu với thành phần chính là B—elemen, œ-bergamoten, germacren, y-bisabolen (Võ Van Chi, 1997; Võ Xuân Minh và ctv, 1991; Brophy J., 1990) Ø-Elemen Ø-Germacren-D ; : <“ E-y-Bisabolen a-Bergamoten Hình 2. Các tinh dau có trong lá Dinh lăng (Võ Van Chi, 1997; Võ Xuân Minh va ctv, 1991; Brophy J., 1990) Một số polyacetylen có trong cây Dinh lăng như: (8E)-Heptadeca-1,8-dien-4,6- diyn-3,10-diol; Palcarninol; (8Z)-Heptadeca-1,8-dien-4,6diyn-3-ol-10-on; (8E)- Heptadeca-1,8-dien-4,6diyn-3-ol-10-on, Panaxydol (Lutomski J.
Ngoài saponin, flavonoid trong Dinh lang cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm. Saito và cộng sự đã phát hiện ra hai hợp chất flavonoid có trong lá P. fruticosa, đó là kaempferol 3-O-o-L-rhamnopyranoside và quercitrin 3-O-a-L-rhamnopyranoside. Nam 2012, một hợp chat flavonoid mới từ lá Dinh lăng được báo cáo bởi Viện hóa sinh biển - Viện Khoa học va công nghệ Việt Nam là afzelin.
Tác dụng sinh học Cây Dinh Lăng được coi như nhân sâm Việt Nam vi đó có rất nhiều tác dụng tương tự như nhân sâm: là tăng cường sức déo dai và nâng cao sức đề kháng của cơ thé, chống được hiện tượng mệt mỏi, bổ dưỡng, làm cho cơ thể ăn ngon, ngủ yên, tăng khả năng lao động, tăng cân, chống độc (Võ Văn Chi, 1997). Thêm nữa, Đinh Lăng có thê tăng cường sức chịu đựng của co thé đối với yếu tổ tiêu cực như mệt mỏi và sốt. Hồi phục nhịp tim trở lại bình thường. Các chế phẩm từ Dinh Lăng sau khi uống sẽ nhanh chóng hồi phục sức khỏe cho cơ thể, ăn ngon, ngủ tốt.
Ở Campuchia, người ta dùng lá phối hợp với các cây thuốc khác làm bột hạ nhiệt, thuốc giảm đau. Dùng lá dé xông ra mồ hôi và chữa chứng chóng mặt, dùng tươi giã nát đắp ngoài trị viêm thần kinh khớp và vết thương.