Đặt vấn đề Thực vật là nguồn dự trữ những hợp chất tự nhiên quý giá mang nhiều hoạt tính sinh - hóa có lợi cho đời sông và sức khỏe con người. Trong xuyên suốt lịch sử nhân loại cho đến nay, việc sử dụng thực vật làm thuốc dùng dé bồi bổ, bảo vệ cơ thé va chữa bệnh được thực hiện ở khắp tất cả quốc gia trên thế giới. Hiện nay, việc sử dụng dược phẩm được tổng hợp hóa học trong các loại thuốc Tây y có vai trò quyết định trong phòng và chữa các căn bệnh trong cuộc sống hiện đại. Tuy vậy, trong những bài thuốc.Cùng với sự phát triển trong khoa học và kỹ thuật với các công nghệ mới giúp tận dụng tối đa các hoạt tính mà dược liệu tự nhiên mang lại, đang giúp cho việc nâng cao và bảo vệ sức khỏe con người ngày càng hiệu quả.
Mã đề (Plantago major) hay còn gọi là Mã đề lớn, Mã đề trồng,. được phân loại thuộc họ Mã dé, là loài cây mọc phô biến ở khắp các tỉnh thành Việt Nam. Theo các bài thuốc y học dân tộc, Mã đề được sử dụng làm thuốc có tác dụng làm thanh nhiệt, giải độc và lợi tiểu với toàn bộ các bộ phần của cây. Trong các nghiên cứu hiện đại, Mã đề là loài cây có nhiều hoạt tính sinh học có lợi như kháng khuẩn (Velasco- Lezama và ctv, 2006; Metiner, 2012), phục hồi vết thương (Zubair và ctv, 2015), chống ung thư (Velasco-Lezama và cvt, 2006; Ozaslan va ctv,2009), kháng viêm (Midleton Jr va ctv, 2000; Hussan, 2015).
Hiện nay, đã có rat nhiều nghiên cứu về đặc điểm hình thái, thành phan hóa học, hoạt tính sinh học và ứng dụng đối với Mã đề tuy nhiên ở Việt Nam vẫn không có nhiều nghiên cứu và ứng dụng loài cây được liệu này. Vì vậy, dé tai nghiên cứu nay được thực hiện với mục đích bồ sung thêm dữ liệu khoa học về thành phan hợp chat và hoạt tính sinh học của Mã đề ở Việt Nam. Từ đó, nghiên cứu ứng dụng Mã đề trong việc phát triển và sản xuất các sản phẩm trong y-dược, mỹ phẩm, chế pham sinh học va thực phẩm. Đặc biệt trong là trong y-dược khi có thé phát triển được phương thuốc tiện dụng, an toàn từ nguồn dược liệu phong phú của Việt Nam.
Mục tiêu đề đề tài Đề tài được thực hiện với mục đích bé sung thêm thông tin về thành phần hợp chất trong Mã đề và khảo sát khả năng chống oxy hóa và kháng khuẩn của mẫu rễ, thân, lá Mã đề. Nội dung thực hiện Nội dung 1: Xác định một số hợp chat trong mẫu rễ, thân, lá Mã dé. Nội dung 2: Xác định hàm lượng hợp chất phenolic tổng số và flavonoid trong mẫu dịch chiết rễ, thân, lá Mã đề. Nội dung 3: Khảo sát hoạt tính chống oxy hóa của mẫu rễ, thân, lá Mã đề bằng phương pháp bắt gốc tự do DPPH.
Nội dung 4: Khảo sát hoạt tính kháng khuẩn của mẫu rễ, thân, lá Mã đề với 2 đối tượng Staphylococcus aures và Escherihia coli. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Phan loai Ma dé (Plantago major L.) duge phan loai nhu sau: Giới: Plantae (Thực vat) Nganh: Tracheophyta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Lamiales Ho: Plantaginaceae Chi: Plantago Loài: Plantago major Tên gọi khác: xa tiền, Mã dé lớn, Mã đề trồng, su ma (tiếng dân tộc Tay), nhà én nhứt (tiếng dân tộc Thái), nằng chấy mía (tiếng dân tộc Dao) (Viện dược liệu, 2006). Đặc điểm hình thái Theo mô ta trong Cay thudc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập II (Viện dược liệu, 2006) Mã đề là loại cây cỏ sống lâu năm.thân ngắn, lá mọc thành cum ở gốc thành hình hoa nhị, cuống dài.
Lá có hình oval hay hình trứng dài 5 — 12 em, rộng 3,5 — 8 cm, dau tù hơi có mũi nhọn, gân lá hình cung, mép uốn lượn, nguyên hoặc có răng cưa nhỏ, không đều. Cụm hoa mọc ở kẽ lá có hình bông, cán dài hơn lá; hoa nhỏ có lá bắc hình trứng, ngắn hơn đài; đài 4 thùy hơi có gờ dính nhau ở gốc. Quả nang, hình chop thuôn, dài 3,5 — 4 mm, mở bằng một nap nứt ngang trên các lá đài; hạt hơi det, mau nâu hoặc đen bóng. Mùa hoa quả vào tháng 5 đến thắng 8.
Đặc điểm phân bố Mã đề (Plantago major L.) là loài bản địa của Việt Nam. Phân bố ở mọi tinh thành trên cả nước, là cây ưa sáng, ưa âm và có khả năng chịu hạn nhẹ, thích nghi cao với vùng có khí hậu nhiệt đới nóng và âm. Thành phần hóa học Mã đề là một loài dược liệu giàu hợp chất hóa học, nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng trong Mã dé chứa: flavonoid, alkaloid, terpenoid, phenolic, iridoid glycoside, acid béo, polysaccharide va vitamin (Samuelsen, 2000; Adom va ctv, 2017) 2. Flavonoid Dựa vào nghiên cứu của Panche vào năm 2016 ta có một vai đặc điểm tổng quan của flavonoid như sau: Flavonoid là hợp chất thứ cấp quan trọng quan trọng trong quá trình sinh trưởng và phát triển tự nhiên của thực vật.
Được tìm thấy trong hầu hết trong các bộ phận của các loài thực vật. Flavonoid là nhóm hợp chất thuộc nhóm phenolic do cấu trúc gồm 2 gốc phenyl gắn với nhóm hợp chat di vòng. Flavonoid được phân loại thành các nhóm phụ chủ yếu dựa vào cấu trúc của nhóm hợp chất di vòng, các nhóm phụ nay bao gom: nhóm flavone, nhóm flavonol, nhóm flavanone, nhóm flavanonol, nhóm flavanol hay còn gọi là catechin, nhóm anthocyanin và nhóm chalcone. Trong điều kiện tự nhiên, flavonoid là hợp chất thứ cấp có vai trò hỗ trợ hoạt động sông và bảo vệ cho cây khỏi các áp lực của môi trường sống.
Flavonoid đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu là hợp chất mang nhiều hoạt tính có lợi với sức khỏe con người như: chống oxy hóa, kháng viêm, chống đột biến, chống ung thư, kháng khuẩn, kháng virus. oH em a ` maa « c2 ¬--. 3 OH Oy oe "ga CLI cas : [_Fiavonois | pane & 8 Ho, 3 CU lệ Genistein a 1 Ov 2 on P on8 * asicsaati ‘oH Cchatconaningenia Anthocyanins wa = Hình 2. Cấu trúc hóa hoc co ban của flavonoid và các nhóm phụ của flavonoid.
Theo Adom (2017), nhóm flavonoid chính trong Ma dé nhóm phu flavone gôm có luteolin và apigenin. Alkaloid Theo nghiên cứu của Pallary vào năm 2008, alkaloid là một nhóm phức tạp và gồm rất nhiều hợp chất có cấu trúc di vòng chứa N. Alkaloid thường có trong rễ, thân, lá, vỏ của các loài cây thảo mộc và một số loài cây gỗ vùng nhiệt đới. Trong tự nhiên, alkaloid là loại hợp chat thứ cấp được cây san sinh ra dé tự vệ với một số tác nhân gây hại hay áp lực của điêu kiện môi trường như: nam bệnh, vi khuân, côn trùng, nhiệt độ, phóng xa,.
Phần lớn alkaloid có độc đối với cơ thé người nhưng một số hợp chat alkaloid mang dược tính và được sử dụng trong y học như morphine, strychnine, atropine, colchicine, ephedrine, quinine và nicotin. Trong cây Mã dé, đã xác định được hai hop chat alkaloid là indicain và plantagonin (Schneider, 1990). Terpenoid Terpenoid hay còn được gọi là isoprenoid là một nhóm lớn và da dang các hợp chat tự nhiên có cùng nguồn gốc từ hợp chat 5 carbon isoprene (Reyes va ctv, 2018). Terpenoid được phân loại thành các nhóm khác nhau dựa trên cấu trúc phân tử và số nhóm isopren trong cấu trúc.
Theo Devarenne (2009), terpenoid là một nhóm hợp chất thứ cấp đặc biệt quan trong đối với thực vật trong tự nhiên do terpenoid là thành phan quan trọng tạo nên màu, hương, vị của các bộ phận hoa, lá, quả của cây. Đồng thời, terpenoid còn có chức năng bảo vệ cây khỏi các tác nhân nâm bệnh gây hại. Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra, trong lá và lớp sáp bề mặt là Mã đề có chứa các terpenoid như: loliolid (Pailer va ctv, 1969), ursolic acid, oleanolic acid, sistosterol acid va 18B-glycyrrhetimec (Hiltibran va ctv, 1953). Iridoid Theo nghiên cứu của Wang (2020) thi iridoid là một nhóm hợp chat đang được nghiên cứu và mở rộng thuộc nhóm monoterenoid có cấu trúc cyclopentanopyran.
Với hai khuôn carbon là iridoid và secoiridoid, nhóm iridoid được phân loại thành 4 phan nhóm khác nhau là: iridoid glycoside, secoiridoid glycoside, non—glycosidic iridoid và bis—iridoid. Iridoid được phát hiện có trong các loài thực vật thuộc các ho như:họ mõm sói (Scrophulariaceae), họ Pyrolaceae, ho 6 liu (Oleaceae), họ bạc hà (Labiatae), họ thién thảo (Rubiaceae) và họ long dom (Gentianaceae). Hiện nay, có nhiều nghiên cứu về hoạt tính sinh học của nhóm hợp chất iridoid đã được chứng minh như: hoạt tính bảo vệ thần kinh, hoạt tính bảo vệ gan, hoạt tính kháng viêm, hoạt tính làm giảm lipid trong máu và hoạt tính ức chê khôi u. GicO H OH GicO H OH GlcO H ee le) Ø le) Sy Ss % RạO 5 HạCO“ ~OHòn HạCO“ *OH OH HạCO“ ~OHòn RO" ~OHòn Genipin Kệ: R2= CH; 60-H gì bì »w»eŸ Shanzhiside R= Glc ng” = Glc, Ro= CHạ k ydroxygenipin 6ư-Hydroxygeniposide 6j?›-Hydroxygeniposide Shanzhiside methyl ester R = CH3 Geniposidic Ko.
R; = Glc, Rạ=H Genipin-1-O-gentibioside R, = Gic-Gic, Rạ= CHạ GicO OH GIcO GicQ OH GleQ |, H;CO OH HạCO về oH HạCO HạCO 5 HạCO a fe) tộc Gardenoside 10-O-trans-sinapoylgeniposide Bartsioside Gardoside Gardenal-| Gardenal-lI Gardenal-lll Hình 2. Cấu trúc hóa học của một sé iridoid. Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu phát hiện ra thêm bên trong Mã đề còn có các hợp chất iridoid khác như: asperuloside (Bianco va ctv, 1984), maJoroside (Handjieva va ctv, 1991), 10-hydroxymajorside, 10-acetoxymajorside (Taskova va ctv, 1999), cartapol, gardoside, geniposidic acid va melittoside (Murai va ctv, 1995). Phương pháp bắt gốc tự do DPPH Theo Blois (1958), 1,1-Diphenyl-2-picryl-hydrazyl (DPPH) là một gốc tự do mang một tâm điện tử lẻ ở N.
Dung dịch DPPH hòa tan trong methanol có màu tím đậm và có độ hap thu quang phố mạnh ở bước sóng 517 nm. Khi tâm điện tử tự do của các phân tử DPPH bị trung hòa, thì dung dich DPPH sẽ bị mat dan mau tím và chuyển sang màu vàng nhạt hoặc không màu và mat đi khả năng hấp thu quang phé ở bước sóng 517 nm. Dựa vao sự thay đối độ hap thu, có thể tính toán được kha năng bắt gốc tự do DPPH của mẫu nghiên cứu từ đó suy hoạt tính chống oxy hóa của mẫu thử nghiệm (DureJa vả ctv, 2012). NO; ON NO; NO, NO, Hình 2.
Phản ứng trung hòa gốc tự do DPPH. Các công trình nghiên cứu về Mã đề Mã đề là loài cây dược liệu được sử dụng trong nhiều bài thuốc cô truyền trên thế giới. Do đó, đã có rất nhiều nghiên cứu chứng minh được sự đa dạng hoạt tính sinh học bên trong cây Mã dé. Có thé ké một số hoạt tính tiêu biểu như: chống oxy hóa, kháng khuẩn, kháng viêm, chống ung thư, kháng virus.