CHƯƠNG 1 Bài khoá luận đã nêu ra được các yếu tố cốt lõi để khái quát về đề tài của mình. Từ đó, người đọc sẽ có cái nhìn toàn diện hơn, dễ dàng nắm bắt được trọng tâm của bài viết. Ở chương này các nội dung được trình bày bao gồm lý do chọn đề tài và nêu một vài vấn đề đã xảy ra trước đây liên quan đến thanh khoản. Ngoài ra, tác giả cũng làm rõ về mục tiêu, câu hỏi, đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Từ đó, xác định các phương pháp nghiên cứu phù hợp, trình bày nội dung, ý nghĩa và kết cấu đề tài của bài khoá luận này. 8 CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Giới thiệu Ở chương này trình bày một số lý thuyết liên quan đến thanh khoản như: khái niệm, lý thuyết liên quan đến thanh khoản và rủi ro thanh khoản để người đọc nắm được các lý thuyết cơ bản về thanh khoản cũng như làm nền tảng cho nghiên cứu này. Từ đó, xác định các phương pháp đo lường đồng thời lược khảo một vài nghiên cứu thực nghiệm trước đây và đưa ra một vài yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu ở chương sau. Cơ sở lý thuyết về thanh khoản của NHTM 2.
Khái niệm thanh khoản Ngày nay khi nhắc đến thuật ngữ “thanh khoản” đã có khái niệm không đồng nhất, cụ thể có các thuật ngữ tiêu biểu như: “Thanh khoản được coi là thước đo các khoản tương đương tiền có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền mặt mà không mất giá trị sẵn có để đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn” (Penman, 2007). Theo Moir (1997) đã định nghĩa rằng: “’Thanh khoản của một tổ chức là khả năng thanh toán khi đến hạn”. Theo Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (2000) thì “Thanh khoản hay khả năng tài trợ cho việc tăng lên của tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi chúng đến hạn mà không gây ra những khoản tổn thất không thể chấp nhận được”. Điều này là rất quan trọng đối với sự tồn tại liên tục trong bất kỳ ngân hàng nào.
Theo Diamond and Rajan (2001) định nghĩa “Thanh khoản của ngân hàng là mức độ dễ dàng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt để ngân hàng có thể đáp ứng các nghĩa vụ của mình đúng hạn mà không phải gánh chịu bất kỳ tổn thất không thể chấp nhận được nào”. Ngoài ra thanh khoản cũng được hiểu “Là lượng tiền mặt có sẵn của ngân hàng để đáp ứng yêu cầu rút tiền của người gửi tiền hoặc yêu cầu của người đi vay khi cấp tín dụng cho cá nhân, công ty hoặc chính phủ”. 9 Theo Praet and Herzberg (2008) cho rằng thanh khoản có ba định nghĩa cơ bản thường được sử dụng: “(1) thanh khoản của các công cụ tài chính phản ánh sự dễ dàng khi chúng có thể chuyển đổi thành tiền mặt mà không bị mất đi giá trị của chúng; (2) thanh khoản của thị trường được định nghĩa là khả năng thị trường giao dịch một khối lượng tài sản hoặc chứng khoán nhất định mà không ảnh hướng đáng kể đến giá của chúng; (3) thanh khoản của tiền tệ liên quan đến số lượng tài sản có thanh khoản hoàn toàn lưu thông trong nền kinh tế, thường được đo bằng tỷ lệ của nó trên GDP danh nghĩa”. Qua các định nghĩa trên, khái niệm thanh khoản được hiểu theo cách đơn giản là “khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt nhanh chóng với chi phí hợp lý và khả năng thanh toán nợ khi đến hạn mà không gây bất kỳ tổn thất nào không thể chấp nhận được”.
Mặc dù có rất nhiều tài liệu lý thuyết, thực nghiệm về thanh khoản và các vấn đề liên quan nhưng vẫn chưa có một định nghĩa thích hợp về thanh khoản cũng như thước đo thanh khoản nhất quán cho tất cả các thị trường. Điều này là do thực tế khái niệm thanh khoản có một vài khía cạnh như số lượng giao dịch, thời gian giao dịch và tác động của giá cả (Liu, 2006). Các lý thuyết về thanh khoản 2. Lý thuyết ưa thích thanh khoản (Liquidity Preference Theory) Thuyết ưa thích thanh khoản có tên gọi tiếng Anh là Liquidity Preference Theory được John Maynard Keynes đưa ra lần đầu tiên vào năm 1936 để giải thích việc xác định lãi suất theo cung và cầu tiền.
Lý thuyết này cho rằng: “các nhà đầu tư sẽ yêu cầu một tỉ suất sinh lời cao hơn đối với các chứng khoán có kỳ hạn dài. Lí do là vì các chứng khoán có thời gian nắm giữ càng dài thì có rủi ro càng lớn. Bên cạnh đó trong điều kiện các yếu tố khác là như nhau, các nhà đầu tư ưa thích nắm giữ tiền mặt hoặc các chứng khoán có thanh khoản cao khác” (Minh Lan, 2019). Theo Keynes (1936), nhu cầu thanh khoản được đánh giá bởi ba động cơ: “Động cơ giao dịch: Đây là nhu cầu thanh khoản cơ bản để thực hiện các giao 10 dịch hàng ngày như mua sắm hàng hoá và dịch vụ.
Mọi người muốn giữ một mức độ thanh khoản đủ để có thể thực hiện các giao dịch này mà không gặp phải khó khăn. Điều này đặc biệt quan trọng đối với những người có thu nhập không đều đặn hoặc biến động. Lượng cầu thanh khoản được xác định bởi mức thu nhập, khi thu nhập càng cao thì nhu cầu tiền mặt để đáp ứng các chi tiêu cơ bản cũng tăng theo. Động cơ phòng ngừa: Động cơ này đề cập đến nhu cầu nắm giữ tiền mặt để đối phó với những thay đổi và trường hợp khẩn cấp không lường trước được.
Người ta muốn giữ một lượng tiền mặt đủ lớn để có thể đối phó với các tình huống khẩn cấp như mất việc làm hoặc chi phí không mong đợi. Nhu cầu đối với lượng tiền cho mục đích này tăng lên khi thu nhập tăng lên. Động cơ đầu cơ: Điều này liên quan đến việc giữ tiền mặt nhằm tận dụng các cơ hội đầu cơ hoặc suy đoán về thị trường tài chính. Người ta có thể muốn giữ một phần tài sản của mình dưới dạng tiền mặt để có thể đầu cơ trên thị trường chứng khoán, thị trường ngoại hối hoặc thị trường trái phiếu.
Khi lãi suất giảm, nhu cầu nắm giữ tiền mặt cho mục đích đầu cơ có thể tăng lên, vì giảm lãi suất có thể làm giảm giá trị của các tài sản khác như trái phiếu và họ muốn nắm giữ tiền mặt để tận dụng lợi ích từ sự giảm giá này. Như vậy, lãi suất càng thấp thì cầu tiền càng cao và ngược lại”. Theo Thomas (2023), “lý thuyết ưa thích thanh khoản cho rằng mọi người ưa thích nắm giữ tài sản có thanh khoản hơn là tài sản kém thanh khoản. Lý thuyết này tập trung vào sự đánh đổi giữa việc giữ tiền và thu lãi từ các tài sản khác”.
Lý thuyết cho vay thương mại và thanh khoản Theo nghiên cứu của Smith (1776) cho rằng: “cho vay thương mại chủ yếu là ngắn hạn và với giả định này, ngân hàng chắc chắn rủi ro cao trong một cuộc khủng hoảng tài chính ngay cả khi danh mục cho vay của ngân hàng đã phù hợp với các tiêu chuẩn lý thuyết. Về cơ bản, đây là lý thuyết về quản lí tài sản có nhấn mạnh thanh khoản, các ngân hàng có thể duy trì thanh khoản cần thiết để đáp ứng các yêu cầu rút tiền gửi của khách hàng”. 11 Lý thuyết cho vay thương mại bên cạnh việc đánh giá TK của các khoản cho vay thương mại đã không chú ý tới tính chất thanh khoản nguồn vốn của các khoản cho vay phi thương mại nên không đảm bảo TK cho ngân hàng. Thực tế, có rất nhiều khoản tiền gửi không được đáo hạn khi đến hạn mà tiếp tục gia hạn mới, bởi vì những nguồn tiền như vậy có thể được dùng để cho hoạt động vay trung và dài hạn.
Do đó, “lý thuyết hàm ý các ngân hàng luôn trong tình trạng rủi ro cao, đặc biệt là rủi ro thanh khoản và các khoản cho vay càng tăng thì rủi ro thanh khoản càng tăng” (Nguyễn Đăng Khoa và cộng sự, 2023). Mô hình Diamond – Dybvig (Diamond – Dybvig Model) Mô hình Diamond – Dybvig được xuất bản vào năm 1983 bởi Douglas Warren Diamond và Philip Hallen Dybvig là một trong các mô hình tiêu biểu nhất giúp hiểu về các vấn đề liên quan đến TK và rủi ro trong hệ thống NH, tài chính. Mô hình này giải thích tại sao NH chọn phát hành các khoản gửi thanh toán linh hoạt hơn so với tài sản của họ bởi vì cần phải đáp ứng mong đợi của khách hàng về TK. Đồng thời, nhằm hiểu tại sao NH phải đương đầu với các vụ tháo chạy ngân hàng (bank run), khi một số lượng lớn khách hàng yêu cầu rút tiền trước hạn do mất niềm tin vào khả năng thanh toán của ngân hàng, gây ra sự suy giảm về thanh khoản và rủi to đối với tính ổn định của NH (Diamond, 2007).
Theo Diamond và Dybvig (1983), mô hình bắt đầu với giả định rằng có hai nhóm người tiêu dùng: những người cần thanh khoản ngay lập tức để đối phó với các chi phí không mong muốn và những người có mục tiêu đầu tư lâu dài. Mô hình đã chỉ ra rằng đầu tư kinh doanh thường đòi hỏi phải chi tiêu ở hiện tại để thu được lợi nhuận trong tương lai. Vì vậy, họ thích các khoản vay có thời gian đáo hạn dài (nghĩa là thanh khoản thấp). Mặt khác, những người tiết kiệm cá nhân (cả hộ gia đình và doanh nghiệp) có thể có những nhu cầu tiền mặt đột ngột, không thể đoán trước do những khoản chi tiêu không lường trước được.
Vì vậy, họ yêu cầu các tài khoản có thanh khoản cao cho phép họ truy cập ngay vào tiền gửi của mình (các tài khoản tiền 12 gửi có kỳ hạn ngắn). “Tuy nhiên, tình hình trở nên nguy hiểm khi quá nhiều người tiêu dùng cùng rút tiền cùng một lúc. Điều này dẫn đến việc ngân hàng phải đối mặt với tình trạng chạy rút tiền, trong đó ngân hàng không đủ tiền mặt để đáp ứng yêu cầu rút tiền của tất cả các khoản tiền gửi” (Diamond, 2007). Theo Đỗ Thiên Anh Tuấn (2022) trình bày các chính sách để ứng phó với vấn đề tháo chạy ngân hàng như: “Đình chỉ quyền rút tiền: Một lệnh đình chỉ quyền rút tiền tạm thời sẽ được ngân hàng trung ương ban hành.
Bản thân các ngân hàng gặp trục trặc cũng có thể đưa ra các lệnh đình chỉ như vậy trừ khi luật pháp ngăn chặn điều đó. Khi cơn hoảng loạn qua đi thì lệnh đình chỉ quyền rút tiền sẽ được tháo bỏ dần.