chương 1, tác giả đã chỉ ra tính cấp thiết của đề tài qua các phần cụ thể như mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp và nội dung nghiên cứu cũng như đưa ra được đóng góp và bố cục cho đề tài nghiên cứu. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm về rủi ro thanh khoản Theo A.
Vento (2009), rủi ro thanh khoản là rủi ro xuất hiện khi ngân hàng không còn khả năng về nguồn tài chính để thanh toán các nghĩa vụ nợ vào thời điểm đến hạn hoặc phải sử dụng những nguồn tài chính khác với mức phí cao hơn mặc dùng ngân hàng vẫn còn khả năng thanh toán. Theo Gup và Kolari (2005) nhận định rằng rủi ro thanh khoản là rủi ro phát sinh khi ngân hàng không thể cung ứng đủ số lượng tiền mặt hoặc tài sản tương đương tiền cho nhu cầu thanh khoản tức thời. Bên cạnh đó, Rudolf Duttweiler (2009) cho rằng RRTK hiểu đơn giản là không có khả năng thanh toán tại một thời điểm nào đó hoặc phải huy động các nguồn vốn với chi phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh toán, hoặc do các nguyên nhân chủ quan khác làm mất khả năng thanh toán. Từ những khái niệm trên, tác giả kết luận rằng rủi ro thanh khoản thường diễn xa trong giai đoạn ngắn hạn, khi các NHTM không đáp ứng đủ lượng tiền mặt để đảm bảo khả năng thanh khoản được diễn ra cách kịp thời.
RRTK làm cho các ngân hàng gặp khó khăn hơn trong việc huy động vốn, hoạt động tín dụng và cung ứng vốn cho nền kinh tế. Khi không còn đủ nguồn vốn thì tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và ngân hàng nói chung sẽ gặp nhiều trở ngại, lạm phát gia tăng, quy mô đầu tư suy giảm và kém theo sự suy giảm của nền kinh tế. Từ đó, ảnh hưởng đến đời sống của người dân. Phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản Vodava (2011) cho rằng RRTK có thể đo lường bằng hai phương pháp: Thứ nhất, là khe hở tài trợ; Thứ hai, là các chỉ số thanh khoản.
Trong đó, khe hở tài trợ là sự chênh lệch giữa tài sản và nguồn vốn ở hai thời điểm hiện tại và tương lai. Tuy nhiên, trong mỗi 7 bài nghiên cứu sẽ có những phương pháp đo lường khác nhau, mỗi phương pháp sẽ được xây dựng trên các giả định. Phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản dựa vào khe hở tài trợ Nghiên cứu của Shen và cộng sự (2009) đã chỉ ra rằng điểm mạnh của việc sử dụng khe hở tài trợ để đo lường rủi ro thanh khoản so với việc sử dụng hệ số thanh khoản. Hệ số thanh khoản được tính từ bảng cân đối kế toán ngân hàng nên thường đước sử dụng để dự đoán xu hướng diễn biến của thanh khoản trong khi khe hở tài trợ được tính bằng chênh lệch giữa tài sản và nguồn vốn đối với cả thời điểm hiện tại và tương lai.
Vì vậy, Shen và cộng sự đã đề xuất việc sử dụng khe hở tài trợ để đo lường RRTK. Khe hở tài trợ là một trong những cảnh báo về RRTK trong tương lai của một ngân hàng. Khi ngân hàng có khe hở tài trợ lớn có nghĩa là Tổng dư nợ tín dụng cao hơn so với Tổng nguồn vốn ngân hàng huy động được. Do đó, buộc các ngân hàng phải cắt giảm tiền mặt dự trữ hoặc đi vay bổ sung thị trường tiền tệ và dẫn đến RRTK cao.
Khe hở tài trợ = (Tổng dư nợ tín dụng – Tổng nguồn vốn huy động)/Tổng tài sản 2. Phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản dựa vào các chỉ số thanh khoản Qua việc tham khảo các nghiên cứu trong nước cũng như nước ngoài, tác giả cho rằng các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK không chỉ đơn giản là các yếu tố bên ngoài mà nó còn đến từ các yếu tố quan trọng bên trong. Phương pháp chỉ số thanh khoản được ước tính và đo lường rủi ro thanh khoản của tác giả Aspach và cộng sự (2005), Vodova (2011) tập trung vào các tỷ số thanh khoản như: L1= (Tài sản thanh khoản/Tổng tài sản)x100% Tỷ số trên giải thích được tài sản thanh khoản sẽ chiếm được bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản ngân hàng. Nhờ vậy, giúp đánh giá ngân hàng có còn khả năng thanh khoản tốt hoặc không.
Thông thường, tài sản càng có tính thanh khoản cao thì không sinh thêm lời, do đó ngân hàng cần đánh giá lại tình hình sở hữu tài khoản. 8 L2=[Tài sản thanh khoản/(Tiền gửi + Vốn huy động ngắn hạn)]x100% Tỷ số L2 phản ánh độ nhảy cảm của ngân hàng đối với các loại kinh phí như tiền gửi các hộ gia đình, doanh nghiệp, tổ chức tài chính. Tỷ số này càng cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng tốt. L3=(Tổng cho vay/Tổng tài sản)x100% Nhìn vào tỷ số L3, tác giả có thể đánh giá được khả năng thanh khoản của ngân hàng mạnh hay yếu nhờ vào tỷ trọng của các khoản vay so với tổng tài sản của ngân hàng.
L4=[Tổng cho vay/(Tiền gửi + Vốn huy động ngắn hạn)]x100% Đây là một trong những tỷ số phản ánh số tiền cho vay lớn gấp bao nhiêu lần số tiền huy động được. Cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại Theo Spence (1973), các ngân hàng có quy mô lớn sẽ mang lại tín hiệu tích cực cho việc huy động vốn, giúp mở rộng các nguồn vốn khác nhau, nhờ đó giúp ngân hàng tăng được khả năng thanh khoản. Cũng như Spence (1973), nghiên cứu của Akhatar & Cộng sự (2011) cho rằng ngân hàng có tổng tài sản càng lớn thì khả năng thanh khoản càng cao. Mặc khác, Greg (2009) lại nghĩ rằng quy mô của ngân hàng càng lớn sẽ làm giảm thiểu khả năng thanh toán của ngân hàng.
Nghiên cứu của Innaotta & Cộng sự (2007), việc giảm chi phí huy động vốn sẽ có khả năng đầu tư nhiều vào các tài sản sinh lời với khoản vay có độ rủi ro cao. Do đó, làm ảnh hưởng đến khe hở tài trợ, quy mô của ngân hàng là một trong những yếu tố có tác động đến RRTK của ngân hàng thương mại. Theo Lý thuyết ưa thích thanh khoản của John Maynard Keynes (Keynes Liquidity Preference Theory) cho rằng tiền là tài sản có tính thanh khoản cao, việc nắm giữ nhiều tiền sẽ có lợi về thanh khoản nhưng sẽ gây khó khăn trong việc tạo ra lợi nhuận. Muốn có lợi nhuận cao thì cần phải giảm bớt tài sản thanh khoản để đầu tư vào các tài sản ít thanh khoản hơn và ngược lại.
Do đó, nghiên cứu của Berger (1995) về các ngân hàng thương 9 mại có lợi nhuận thấp sẽ tập trung hầu hết đầu tư vào các danh mục có rủi ro cao nhằm tăng phần lợi nhuận, vì thế ngân hàng đó sẽ giảm tỷ trọng về tài sản thanh khoản dẫn đến thanh khoản sẽ giảm. Theo Bunda & Desquilbet (2008), việc ngân hàng có lợi nhuận cao sẽ chú trọng hơn trong việc an toàn và hạn chế tăng trưởng tín dụng để tăng cường tài sản thanh khoản. Dựa vào hai lý thuyết là hiệu ứng hấp thụ rủi ro (Risk Absorption Effect) và hiệu ứng kép giữa hiện tượng chèn lấn tiền gửi và hiện tượng cấu trúc vốn rủi ro (Financial Fragility – Crowdung Out Effect), nghiên cứu của Berger & Bouwman (2009) cho thấy rằng các tác động từ khả năng tạo thanh khoản đến vốn của ngân hàng, tác động này là sự khác biệt giữa các ngân hàng lớn và ngân hàng nhỏ với nhau. Đối với các ngân hàng lớn thì có tác động cùng chiều và ngân hàng nhỏ thì tác động ngược chiều giữa vốn và khả năng tạo thanh khoản.
Các yếu tố ngoại vi ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Về mặt lý thuyết, ngân hàng sẽ giữ nhiều thanh khoản trong thời kì kinh tế suy thoái, khi mà cho vay sẽ gặp nhiều rủi ro hơn; ngược lại, trong thời kì tăng trưởng kinh tế, ngân hàng lại có xu hướng giảm dự trữ thanh khoản để có thể cho vay nhiều hơn, trong khi huy động có thể giảm sút, từ đó làm gia tăng khe hở tài trợ, gia tăng rủi ro thanh khoản (Shen và cộng sự, 2009). Tỷ lệ lạm phát: Mối quan hệ gữa lạm phát và rủi ro thanh khoản ngân hàng là một chủ đề còn khá nhiều tranh luận. Perry (1992) chỉ ra quan hệ giữa thanh khoản và hiệu năng ngân hàng tùy thuộc vào mức độ kì vọng lạm phát. Nếu lạm phát được kì vọng hoàn toàn, ngân hàng có thể điều chỉnh lãi suất để gia tăng thu nhập lãi nhanh hơn so với mức độ gia tăng của chi phí lãi.
Ngân hàng do đó có thể gia tăng các khoản cho vay, trong khi do áp lực cạnh tranh, các hoạt động huy động vốn có thể sụt giảm, do đó làm gia tăng khe hở tài trợ, gia tăng rủi ro thanh khoản. Nghiên cứu của Vodová (2011, 2013a, 2013b) cho thấy mức độ thay đổi lạm phát có tác động cùng chiều với rủi ro thanh khoản. Các yếu tố nội vi ảnh hưởng đến Rủi ro thanh khoản Quy mô tổng tài sản: Về mặt lí thuyết kinh tế quy mô, ngân hàng có tổng tài sản càng lớn thì sẽ ít gặp rủi ro thanh khoản hơn. Ngân hàng lớn có thể dựa vào thị trường liên ngân hàng, hay từ hỗ trợ thanh khoản từ phía người cho vay cuối cùng (Vodavá, 2013b).
Thế nhưng, những lập luận gần đây kiểu nư “quá lớn nên khó sụp đổ” (“Too big to fail”) lại cho rằng các ngân hàng lớn, do hƣởng dụng những đảm bảo và lợi thế mang tính ngầm định, có thểg iảm thiểu chi phí huy động vốn và điều đó cho phép họ có thể mạnh dạn đầu tư vào những tài sản nhiều rủi ro hơn, chẳng hạn những khoản cho vay. Do đó, ngân hàng lớn có khả năng đầu tư nhiều hơn vào các khoản cho vay, và từ đó, gia tăng khe hở tài trợ. Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản: Các ngân hàng thường tập trung sử dụng các nguồn vốn vào hoạt động truyền thống là cho vay. Các khoản cho vay thông thường có tính thanh khoản thấp nên những khoản rút tiền lớn và không được dự báo trước có thể dẫn đến việc mất thanh khoản của ngân hàng (Bonin và cộng sự, 2008).
Tỷ lệ Vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản: Chỉ số này được đo bằng vốn chủ sở hữu chia cho tổng tài sản và phản ánh sức khỏe tài chính của ngân hàng.