Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA VIỆC ÁP DUNG ERM TRONG VIỆC ĐO LƯỜNG HIỆU QUA HOAT DONG CUA CAC CÔNG TY NIEM YET Chuong 2: MO HINH NGHIEN CUU VA THIET KE NGHIEN CUU Chuong 3: KET QUA NGHIEN CUU VA THAO LUAN Chuong 4: KET LUAN VA DE XUAT PHAN 2. NOI DUNG Chuong 1. CO SO LY LUAN VA THUC TIEN CUA VIEC AP DUNG ERM TRONG VIEC DO LUONG HIEU QUA HOAT DONG CUA CAC CONG TY NIEM YET 1. Co sé lý thuyết 1.
ERM (Enterprise risk management) là gi? Theo Economist Intelligence Unit (SAS, 2008) that bai trong quan tri rui ro 1a một trong những nguyên nhân chính gây ra cuộc khủng hoảng tai chính toàn cầu. Có thé khẳng định rằng trong quá trình kinh doanh, công ty không thể tránh được hoàn toàn những rủi ro, nhưng nếu doanh nghiệp biết đánh giá rủi ro thì doanh nghiệp có thé giảm thiểu tối đa tác động của nó. Sự quan tâm đến quản lý rủi ro doanh nghiệp (ERM) đã phát triển nhanh chóng trong gần 30 năm qua, đặc biệt là sau khi thế giới phải đối mặt với nhiều vụ bê bối tài chính liên quan đến các tập đoàn quốc gia như Parmalat, Enrom, Metallgesellschaft.Vi vậy, quản lý rủi ro cần đứng trên góc độ toàn diện chứ không phải theo cách đặc biệt, theo từng lĩnh vực kinh doanh hoặc theo từng loại rủi ro. Quản lý rủi ro phải duoc tiễn hành một cách có cấu trúc, thông nhất trên toàn công ty.
Abrams, 2006) Khung tích hợp COSO-ERM (2004) chỉ ra rằng để ban quản lý tối đa hóa giá trị công ty, họ phải phát triển các mục tiêu và chiến lược nhăm tăng khả năng công ty đáp ứng các tiêu chuẩn tăng trưởng và đạt được lợi nhuận thị trường thỏa đáng, trong mức độ rủi ro có thé chấp nhận được thông qua việc triển khai hiệu quả các nguồn lực. Dé hoàn thành các mục tiêu của tổ chức, Khung COSO-ERM xác định sáu khả năng mà ERM bao gồm: a) Điều chỉnh chiến lược và khẩu vị rủi ro, b) Nâng cao các quyết định ứng phó với rủi ro, c) Giảm những bat ngờ và tốn thất trong hoạt động, d) Xác định và quản lý nhiều doanh nghiệp và xuyên doanh nghiệp rủi ro, e) Nắm bắt cơ hội, và f) Cải thiện việc triển khai vốn. Mỗi khả năng trong số sáu khả năng này có thể được ánh xạ vào định nghĩa Khung tích hợp COSO-ERM. (Commission, 2004) Có nhiều định nghĩa về ERM, tuy nhiên, theo Ủy ban các tổ chức tài trợ của Ủy ban Treadway (Hiles, 2012) : “ERM là một quy trình, được thực hiện bởi ban giám doc, ban quản lý và các nhân sự khác của đơn vị, được áp dụng trong việc thiết lập chiến lược và trên toàn doanh nghiệp, được thiết kế dé xác định các sự kiện tiềm Gn có thé ảnh hưởng đến đơn vị và quản lý rủi ro trong mức chấp nhận rủi ro của đơn vị, nhằm mang lại sự dam bảo hop lý về việc đạt được các mục tiêu của đơn vị.
” ERM dựa trên tiền đề rằng mọi thực thé tồn tại dé cung cấp giá trị cho các bên liên quan. Các nguyên tắc kinh doanh cơ bản cho thấy rằng rủi ro đi kèm với một quyết định càng lớn thì lợi nhuận tiềm 10 năng mà quyết định đó mang lại càng lớn. Sự không chắc chắn thé hiện cả rủi ro và cơ hội. Rủi ro có thể làm giảm giá trị trong khi cơ hội có khả năng nâng cao giá trị.
ERM cho phép ban quản lý xác định, đánh giá và quản lý những rủi ro này khi đối mặt với sự không chắc chắn. Theo ERM, ban quản lý có thể đánh giá rủi ro trên cơ sở toàn doanh nghiệp. Điều này khác với cách tiếp cận rủi ro theo phương pháp truyền thống, việc quan lý rủi ro đã bi phân mảnh thành các “silo”, trong đó công ty quản lý từng rủi ro một cách riêng biệt, thường dọc theo ngành nghề kinh doanh của mình. Quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM) là giải pháp giải quyết những bat cập của việc sử dụng phương pháp tiếp cận dựa trên silo để quản lý rủi ro một cách tổng thê và có hệ thống.
Do đó, sự ra đời và phát triển của ERM ngụ ý một sự thay đổi trong cách quan lý rủi ro, từ cách tiếp cận rời rạc bị giới hạn thành cách tiếp cận tích hợp, liên tục và trên phạm vi rộng. Nói cách khác, ERM giúp ban quản lý đạt được các mục tiêu về hiệu suất và lợi nhuận của đơn vị cũng như ngăn ngừa thất thoát nguồn lực. Mối quan hệ giữa quan tri rủi ro và do lường hiệu quả hoạt động? Từ quan điểm lý thuyết, mối quan hệ tích cực đã được thiết lập giữa ERM và hiệu quả hoạt động của công ty. Việc áp dụng phương pháp quản lý toàn diện giúp các công ty có thé chap nhận mức độ rủi ro cao hơn, hưởng lợi từ việc đa dang hóa va giảm bớt sự kém hiệu quả vốn có trong việc phân tán rủi ro giữa các bộ phận hoặc khu vực khác nhau.
Các công ty sử dụng ERM nên nâng cao kiến thức về rủi ro ở cấp độ tổng hợp dé làm cho vốn đầu tư và khả năng sinh lời hiệu quả hơn (Liebenberg, 2011); (André P. (MH Tripp, 2008) cho răng ERM giúp các công ty điều chỉnh khâu vị rủi ro phù hợp với chiến lược của họ và cải thiện khả năng ứng phó với rủi ro, dẫn đến giảm tồn thất. Vì lý do này, các công ty có thé đạt được sự cân bằng tốt hơn giữa rủi ro và hiệu quả hoạt động lâu dài (Alexander Bohnert, 2019); (Philipp Lechner, 2018). Ngoài ra, ERM còn giúp giảm chi phí phòng ngừa rủi ro bằng cách ngăn chặn việc phòng ngừa rủi ro trùng lặp và tập trung hoàn toàn vào rủi ro còn lại.
(Liebenberg, 2011) lập luận 11 rằng ERM giúp giảm chi phí liên quan đến việc áp dụng biện pháp xử lý rủi ro riêng lẻ và cho phép phòng ngừa rủi ro tự nhiên giữa các hoạt động kinh doanh khác nhau. Tương tự, (Michael Mcshane, 2011) lập luận rằng ERM có thé làm tăng giá trị của công ty vì rủi ro của danh mục đầu tư tổng hợp có thể nhỏ hơn tổng rủi ro riêng lẻ. Theo tài liệu COSO cập nhật (COSO, 2017) , lợi ích của ERM bao gồm “tăng phạm vì cơ hội, xác định và quản lý rủi ro trên toàn đơn vị, tăng kết quả và lợi thể tích cực đông thời giảm những bat ngờ tiêu cực, giảm sự biến động trong hiệu suất, cải thiện triển khai nguồn lực và nâng cao khả năng phục hồi của doanh nghiệp ”. Từ quan điểm thực nghiệm, có nhiều bài báo khác nhau đã phân tích tác động của hệ thống ERM đối với hiệu quả hoạt động của công ty, mang lại những kết quả khác nhau, mặc dù hầu hết các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh rằng hiệu ứng tích cực được tạo ra.
(Othmar Manfred Lehner, 2012) đã xem xét 25 bài viết về mối liên hệ giữa ERM và việc tạo ra giá trị và kết luận răng có băng chứng về mối quan hệ tích cực giữa việc thực hiện chương trình ERM và việc tạo ra giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, họ cũng chỉ ra một số kết quả có mối liên hệ tiêu cực hoặc không đáng kể. Tổng cộng, tác động của ERM đối với 64 biện pháp tạo ra giá trị đã được kiểm tra và trong 78% trường hợp mối tương quan là tích cực, 17% trong số đó các nhà nghiên cứu không tìm thấy bat kỳ loại tác động nào đến việc tạo ra giá trị và 5% thậm chí đã báo cáo những trải nghiệm tiêu Cực. Dựa vào việc bé nhiệm các Giám đốc Rui ro (CRO) làm người đại diện cho việc áp dụng ERM, (Lam, 2001) nhận thấy rằng các công ty có thê “giảm lỗ và biến động thu nhập” và cải thiện lợi nhuận trên vốn và giá trị cô đông bằng cách triển khai ERM.
Cũng sử dụng các CRO làm đại diện cho việc triển khai quy trình ERM, (Warr, 2010) nhận thấy rằng các công ty áp dụng ERM trải qua việc giảm bớt sự biến động của thu nhập nhưng không tìm thấy sự hỗ trợ chung cho việc ERM tạo ra giá trị qua một số biện pháp bồ sung., 2008) nhận thấy rằng phản ứng của thị trường đối với việc 12 áp dụng ERM, được ủy quyền bởi CRO, là đặc thù của công ty. Sử dụng phương pháp Khảo sát Delphi, (Giorgino, 2013) chỉ ra rằng ERM không chi đơn thuần là bổ nhiệm một CRO mà còn xác định một số khía cạnh quan trọng khác của quy trình ERM hiệu quả bao gồm báo cáo tính độc lập của chức năng quản lý rủi ro, mức độ nguồn lực quản lý rủi ro, xác định các quyên sở hữu rủi ro, xác định và truyền đạt các vai trò. Các công ty tham gia vào ERM có thé giảm khả năng phá sản hoặc gặp khó khăn (Alexander Bohnert, 2019); (Gallagher, 2015); (Liebenberg, 2011); (Philipp Lechner, 2018). (Stulz, 1996) lập luận rang quản ly rủi ro làm giảm khả năng phá hủy giá trị trong các cuộc khủng hoảng tài chính.
Các tác giả khác như (Mohsen Jafari, 2011); (Michael Mcshane, 2011) và (Liebenberg, 2011) cũng cho rằng ERM khiến kha năng phá sản ít hơn và cắt giảm chỉ phí vốn trung bình mà công ty có thê tiếp cận. Ngoài ra, các cơ quan xếp hạng đã bắt đầu kết hợp ERM trong quy trình xếp hạng của họ (Robert E. Hoyt, 2015), được cho là có liên quan đáng ké đến việc giảm chi phí vốn của một công ty. (Thomas Berry-Stölzle, 2018) thảo luận về nhiều lập luận mang tính khái niệm về lý do tại sao việc áp dụng ERM có thé giảm chi phí nói trên cũng như cải thiện điểm số toàn cầu nếu họ có xếp hạng ERM.
Kết quả này cũng tương tự với kết quả mà (Michael Mcshane, 201 1) tìm thấy giữa xếp hạng Chất lượng ERM của Standard & Poor và giá trị công ty (Tobin's Q) trong ngành bảo hiểm. Cũng thông qua Tobin's Q, (Gallagher, 2015) đã điều tra tác động của mức độ trưởng thành của chương trình ERM đối với giá trị công ty và kết qua của họ cho thay các tổ chức đã đạt đến mức độ trưởng thành của ERM thé hiện giá trị cao hơn. (Don Pagach, 2010) đã nghiên cứu tác động của việc áp dụng ERM đối với hiệu suất dài hạn, kiểm tra các đặc điểm tài chính và thị trường. Họ nhận thấy tác động nhỏ do việc áp dụng ERM, đặt câu hỏi liệu nó có thể đạt được mục tiêu của mình hay không.