Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở HUYỆN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của QLXH đối với công tác dân tộc ở huyện 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm dân tộc Hiện nay, còn có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm dân tộc, lí do một phần là vì dân tộc được xem xét từ nhiều quan điểm, lập trường, góc độ khác nhau; phần khác là do hiện thực phong phú phức tạp của các loại hình dân tộc tồn tại ở các quốc gia, khu vực khác nhau trên thế giới.
Chính vì lí do đó mà nhiều định nghĩa đã được nêu ra vẫn chưa thể hiện đầy đủ, trọn vẹn các thuộc tính của các loại hình dân tộc tồn tại trên thế giới. Điều này đặt ra một vấn đề cấp bách mang tính lý luận và thực tiễn đó là việc xây dựng một khái niệm dân tộc hoàn chỉnh và đầy đủ về nội dung. Một bộ phận ý kiến cho rằng, dân tộc cũng như bộ tộc, tức là hình thức một cộng đồng người gắn với xã hội có giai cấp, có nhà nước và các thể chế chính trị. Dân tộc có thể hình thành từ một hoặc nhiều bộ tộc, song đa số là được phát triển lên từ việc hợp nhất nhiều bộ tộc hoặc tộc người.
Từ hình thức cộng đồng trước dân tộc phát triển lên dân tộc là một quá trình có tính liên tục và là một bước nhảy vọt lớn. Một bộ phận khác lại đồng nghĩa dân tộc và cộng đồng mang tính tộc người. Cộng đồng này có thể là bộ phận chủ thể hoặc thiểu số của một dân tộc sinh sống ở nhiều quốc gia khác nhau, liên kết với nhau bằng những đặc điểm chung như ngôn ngữ, văn hóa, nhất là ý thức tự giác tộc người. Mặc dù là một khái niệm đa nghĩa song khái niệm dân tộc có hai ý chính: Thứ nhất, để chỉ cộng đồng dân cư của một quốc gia hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một tộc người.
Thông qua những yếu tố chung về ngôn ngữ, 8 văn hóa, lãnh thổ và ý thức tự giác tộc người tạo nên sự liên kết cộng đồng dân tộc. Thứ hai, dân tộc là một cộng đồng thể chế chính trị, xã hội, tộc người có căn cứ là ở chỗ quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng dân tộc, nhân tố tộc người phát triển cùng với nhân tố chính trị, xã hội. Từ những đặc điểm tự nhiên và xã hội của từng cộng đồng người và được tái tạo, sàng lọc, lưu truyền từ thời kì thị tộc, bộ lạc, bộ tộc và phát triển hơn ở cộng đồng người đã hình thành nhân tố tộc người. Ngay cả trong thời đại giao lưu quốc tế giữa các dân tộc đã phát triển nhân tố tộc người vẫn là những giá trị bền vững.
Nó biểu hiện nổi bật nhất trong ngông ngữ, văn hóa nghệ thuật,phong tục tập quán, tâm lý tình cảm,… dân tộc, tạo thành nét riêng trong tính cách mỗi dân tộc. Đó là lĩnh vực phong phú, sâu sắc, tế nhị và rất nhạy cảm trong thế giới tinh thần của dân cư mỗi dân tộc. Chính vì lý do đó, ở nhiều quốc gia trên thế giới, người ta căn cứ vào tiêu chí ngôn ngữ, văn hóa, ý thức tự giác tộc người để xác định thành phần dân tộc của một người hoặc một nhóm người. Theo Từ điển Tiếng Việt, dân tộc được hiểu như sau: Cộng đồng người hình thành trong lịch sử có chung một lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trưng văn hóa và tính cách,… Tên gọi chung là những cộng đồng người cùng chung một ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hóa, hình thành trong lịch sử từ sau bộ lạc,… cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau, bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung.
Theo nghĩa rộng, “dân tộc là một cộng đồng người thống nhất, có chung một nhà nước, một lãnh thổ, một nền kinh tế, một chế độ chính trị - xã hội, có ngôn ngữ và văn hóa chung, thống nhất”. Theo nghĩa này, dân tộc được hiểu tương đương với quốc gia. Sự hình thành của dân tộc gắn liền với sự ra đời của nhà nước, đó là nhà nước dân tộc. Nhà nước dân tộc có thể là một tộc người, là dân tộc đơn nhất như Triều Tiên, Nhật Bản hoặc cũng có thể là dân 9 tộc đa tộc người như Việt Nam, Trung Quốc và hầu hết các nước khác.
Nhà nước dân tộc phải là nhà nước độc lập, có lãnh thổ toàn vẹn, có chủ quyền. Như vậy, dân tộc theo nghĩa rộng không chỉ là một cộng đồng người hay cộng đồng đa tộc người mà nó còn là một cộng đồng kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội gắn với nhà nước và những điều kiện lịch sử nhất định. Theo nghĩa hẹp, “dân tộc là chỉ một tộc người cụ thể”. Ví dụ: Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tộc người; gồm 54 tộc người trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số về số dân, ngoài ra còn có 53 dân tộc khác cùng sinh sống như: Thái, Mường, Tày, Ê-đê, H’Mông,… Như vậy, khi nói về dân tộc theo nghĩa hẹp tức là nói về tộc người.
Tộc người trong quốc gia - dân tộc có nhiều tộc người hợp thành là một thành phần trong cơ cấu của dân tộc – quốc gia đó. Các tộc người bình đẳng (thiểu số cũng như đa số), cùng sinh sống, có chung chế độ chính trị, nhà nước, luật pháp, kinh tế, văn hóa nhưng lại có văn hóa tộc người riêng của mình (ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lối sống,…. Nước ta có 54 thành phần dân tộc, trong đó dân số của 53 DTTS chỉ chiếm khoảng 14% dân số cả nước. Quy mô dân số giữa các DTTS có sự chênh lệch đáng kể, một số DTTS có số dân dưới 1000 người: Si la, Pu Đăm, Brâu, Ơ Đâu, Pu Péo.
Mỗi dân tộc đều được hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử dân tộc và có bản sắc văn hóa riêng. Sự kết hợp bản sắc văn hóa riêng của các dân tộc đã tạo nên sự đa dạng, phong phú trong văn hóa đất nước. Sự thống nhất trong đa dạng là đặc điểm của nền văn hóa cộng đồng các dân tộc. Ở nước ta, các dân tộc có truyền thống đoàn kết, xây dựng một cộng đồng dân tộc thống nhất.
Đoàn kết trong mối hệ giữa các dân tộc nước ta là đặc điểm thống nhất và xuyên suốt trong mọi thời kỳ lịch sử của dân tộc. Dù sống ở các địa bàn khác nhau nhưng các dân tộc đều có chung một vận mệnh lịch sử. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống đoàn kết giữa các dân tộc ngày càng được củng cố và phát triển, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trở thành nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Một số đặc điểm cơ bản của các dân tộc cùng cư trú, tồn tại và phát triển trên lãnh thổ Việt Nam: 10 Một là, cộng đồng các dân tộc Việt Nam cùng nhau chung sống đoàn kết và hòa hợp.
Ngay từ những ngày đầu lập nước, các dân tộc đã luôn cố gắng chung sức, chung lòng chống chọi với thiên nhiên, bão lũ và tinh thần đoàn kết ấy ngày càng được củng cố lớn mạnh và phát huy trong lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc. Trong sự nghiệp cách mạng của nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, truyền thống đoàn kết, thống nhất dân tộc không ngừng được củng cố và phát triển, tạo nên sức mạnh để chiến thắng thiên tai và chiến thắng thù trong giặc ngoài, tạo nên những thắng lợi to lớn cho cách mạng Việt Nam. Hai là, các dân tộc cư trú xen kẽ nhau, trình độ phát triển không đồng đều tuy nhiên không có sự phân chia về lãnh thổ và chế độ xã hội riêng. Mối quan hệ đoàn kết thống nhất của cộng đồng dân tộc Việt Nam được phản ánh thông qua hình thái cư trú xen kẽ nhiều dân tộc anh em.
Trong những năm qua, cùng với quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tính chất đan xen đó ngày càng được tăng lên. Hiện nay, ở các tỉnh miền núi hầu như không có tỉnh, huyện nào chỉ có một cộng đồng hay dân tộc sinh sống, như: Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Kom Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng,… Sự khác biệt về địa bàn cư trú, phong tục tập quán, lối sống và tâm lý là nguyên nhân dẫn đến sự phát triển không đồng đều về kinh tế - xã hội của từng vùng, miền dân tộc. Một số dân tộc có dân số ít, ở vùng sâu, vùng xa điều kiện kinh tế- xã hội vẫn còn nhiều khó khăn như: Si La, Brâu, Ơ Đâu, Pu Péo,…. Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên sự phong phú, đa dạng, thống nhất của nền văn hóa Việt Nam.
Mỗi dân tộc đều có phong tục, tập quán, tâm lý, lối sống, tín ngưỡng tôn giáo mang tính đặc thù, tạo nên sự độc đáo văn hóa riêng của từng dân tộc, tồn tại trong tính đa dạng và thống nhất của nền văn hóa Việt Nam. Khái niệm công tác dân tộc Theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc thì khái niệm công tác dân tộc được hiểu như sau: Công tác 11 dân tộc là những hoạt động quản lý về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các DTTS cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đối với sự phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn mới, công tác dân tộc được xác định là có vị trí vô cùng quan trọng. Do vậy, cần nâng cao nhận thức trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị về vị trí, nhiệm vụ của công tác dân tộc trong tình hình mới hiện nay.
Coi việc quán triệt và thực hiện tốt các chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước là nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương. Khi nói đến chính sách dân tộc, công tác dân tộc là nói đến chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước dành cho đồng bào các DTTS về mặt pháp lý.