Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập quốc tế, vốn là điều kiện tiên quyết và yếu tố vật chất trực tiếp chi phối năng lực vận hành, duy trì cũng như mở rộng sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp. Sự thành bại của đơn vị phụ thuộc chặt chẽ vào chiến lược tài chính, năng lực khai thác và trình độ quản trị đồng vốn; việc quản lý thiếu hiệu quả có thể dẫn tới thua lỗ, nguy cơ bị sáp nhập hoặc phá sản. Xuất phát từ kỳ thực tập thực tế tại Công ty Cổ phần VILACO – một đơn vị thành viên của Công ty TNHH VICO chuyên sản xuất chất tẩy rửa và hóa mỹ phẩm tại thành phố Hải Phòng, tác giả Nguyễn Ánh Nguyệt đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm nghiên cứu thực trạng tài chính và đề xuất các biện pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn tại doanh nghiệp này.
Theo đề cương và nhiệm vụ nghiên cứu được giao, khóa luận tập trung giải quyết hai nhiệm vụ trọng tâm:
- Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng vốn (bao gồm vốn cố định, vốn lưu động và tổng vốn) tại Công ty Cổ phần VILACO giai đoạn 2012 – 2014.
- Đưa ra một số giải pháp có căn cứ thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần VILACO trong giai đoạn tiếp theo.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian được thực hiện tại Công ty Cổ phần VILACO (địa chỉ: Số 75B, Đường 208, An Đồng, An Dương, Hải Phòng). Phạm vi thời gian tập trung vào việc thu thập, xử lý và phân tích chuỗi dữ liệu tài chính trong 3 năm liên tiếp từ năm 2012 đến năm 2014, đồng thời gắn liền với định hướng phát triển sản xuất kinh doanh của công ty đến năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý luận dựa trên quan điểm kinh tế chính trị Marx-Lenin và lý thuyết tài chính doanh nghiệp hiện đại. Tác giả trích dẫn định nghĩa của Karl Marx: "Vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất", đồng thời mở rộng khái niệm vốn trong nền kinh tế thị trường là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Chu chuyển của vốn được khái quát theo chu trình $T - H - SX - H' - T'$, trong đó hiệu quả đạt được khi kết thúc chu kỳ giá trị thu về lớn hơn điểm bắt đầu ($T' > T$). Tác giả hệ thống hóa 7 đặc trưng cơ bản của vốn: đại diện cho một lượng giá trị tài sản thực tế, luôn vận động sinh lời, gắn liền với chủ sở hữu nhất định, có giá trị theo thời gian, đòi hỏi sự tích tụ tập trung, vận hành như một loại hàng hóa đặc biệt trên thị trường tài chính, và bao gồm cả tài sản hữu hình lẫn tài sản vô hình.
Khóa luận phân loại vốn theo bốn giác độ quản lý:
- Nguồn hình thành: Vốn chủ sở hữu (vốn góp ban đầu, lợi nhuận chưa phân phối, các quỹ dự phòng, phát hành cổ phiếu) và Vốn vay (vay ngân hàng thương mại, tín dụng thương mại từ nhà cung cấp, phát hành trái phiếu).
- Phương thức luân chuyển: Vốn cố định (biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định hữu hình và vô hình, chuyển dần giá trị vào sản phẩm qua nhiều chu kỳ) và Vốn lưu động (ứng trước cho đối tượng lao động và tiền lương, chuyển toàn bộ giá trị trong một chu kỳ sản xuất).
- Thời hạn luân chuyển: Vốn ngắn hạn (dưới 1 năm), vốn trung hạn (từ 1 đến 5 năm) và vốn dài hạn (trên 5 năm).
- Thời gian huy động và sử dụng: Vốn thường xuyên (vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn) và Vốn tạm thời (các khoản nợ ngắn hạn đáp ứng nhu cầu phát sinh đột xuất).
Hệ thống chỉ tiêu định lượng được tác giả xây dựng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn bao gồm 3 nhóm chính:
- Nhóm chỉ tiêu tổng vốn: Vòng quay tổng vốn ($DTT / \text{Tổng vốn bình quân}$), Tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn ($ROA = LNST / \text{Tổng vốn bình quân}$), Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ($ROE = LNST / \text{Vốn CSH bình quân}$).
- Nhóm chỉ tiêu vốn lưu động: Vòng quay vốn lưu động ($DTT / \text{VLĐ bình quân}$), Thời gian một vòng quay vốn lưu động ($\text{Số ngày trong kỳ} / \text{Vòng quay VLĐ}$), Hiệu quả sử dụng vốn lưu động ($LNST / \text{VLĐ bình quân}$), Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động ($\text{VLĐ bình quân} / DTT$).
- Nhóm chỉ tiêu vốn cố định: Hiệu suất sử dụng vốn cố định ($DTT / \text{VCĐ bình quân}$), Hiệu quả sử dụng vốn cố định ($LNST / \text{VCĐ bình quân}$), Sức sinh lời của TSCĐ ($LNST / \text{Nguyên giá TSCĐ bình quân}$), Suất hao phí của TSCĐ ($\text{Nguyên giá TSCĐ bình quân} / DTT$), Hệ số đảm nhiệm vốn cố định ($\text{VCĐ bình quân} / DTT$).
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả sử dụng là phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp, kết hợp giữa phương pháp so sánh (so sánh số tuyệt đối, số tương đối, phân tích chiều ngang theo chuỗi thời gian 2012 - 2014 và phân tích chiều dọc theo tỷ trọng cơ cấu) cùng phương pháp tỷ lệ (tính toán các hệ số luân chuyển, khả năng sinh lời và mức độ tự chủ tài chính). Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu là các văn bản kế toán chính thức của Công ty Cổ phần VILACO, bao gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2012 – 2014, cùng các báo cáo nội bộ về cơ cấu lao động và định mức kỹ thuật do Phòng Kế toán - Tài chính cung cấp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp
Chương này trình bày toàn diện khung lý thuyết về vốn và quản trị tài chính doanh nghiệp. Tác giả làm rõ bản chất kinh tế của vốn, các tiêu thức phân loại vốn phổ biến và vai trò của vốn đối với tư cách pháp nhân cũng như tính liên tục trong hoạt động kinh doanh. Về phương diện lý luận, hiệu quả sử dụng vốn được xác định là mối tương quan giữa kết quả đầu ra (doanh thu, lợi nhuận) và chi phí vốn đầu vào, phản ánh trình độ khai thác nguồn lực nhằm tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu.
Chương 1 thiết lập chi tiết 12 công thức đánh giá định lượng cho tổng vốn, vốn lưu động và vốn cố định. Đồng thời, tác giả phân loại và phân tích sâu các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn thành hai nhóm:
- Nhóm nhân tố khách quan: Sự biến động của chu kỳ kinh tế vĩ mô; chính sách tiền tệ và lãi suất tín dụng; chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp; sự hoàn thiện của thị trường tài chính và khung khổ môi trường pháp lý (đặc biệt là Luật Chứng khoán).
- Nhóm nhân tố chủ quan: Đặc điểm ngành nghề và chu kỳ sản xuất kinh doanh; tính chất sản phẩm (hàng tiêu dùng nhanh có vòng đời ngắn, tiêu thụ nhanh giúp quay vòng vốn nhanh hơn so với ngành công nghiệp nặng); trình độ tổ chức quản lý, theo dõi định mức vốn và năng lực chuyên môn, phẩm chất của đội ngũ cán bộ quản lý cùng lực lượng lao động trực tiếp.
Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần VILACO qua các năm 2012 - 2014
Chương 2 tập trung phân tích thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và cơ cấu tài chính của VILACO. Công ty được thành lập tháng 12 năm 2003 theo quyết định của UBND thành phố Hải Phòng (ĐKKD số 0203000653), với 80% vốn góp từ Công ty TNHH VICO (thương hiệu bột giặt "Vì Dân"). Doanh nghiệp vận hành dây chuyền liên tục, khép kín với các dòng sản phẩm: chất tẩy rửa (bột giặt Vì Dân, bột giặt Tide gia công cho P&G, nước giặt và nước xả Lord, nước tẩy Javel), sản phẩm nhà bếp (Two Lemon, Vico Pet), sản phẩm cá nhân (dầu gội và sữa tắm Azole, nước rửa tay White), nước đóng chai đóng bình và đồ uống tự động. Quy mô nhân sự năm 2014 là 232 lao động, trong đó trình độ đại học chiếm 33,62%, công nhân kỹ thuật chiếm 49,13% (trên 50% thợ bậc 3/7 trở lên), và 68% lao động nằm trong độ tuổi 30 - 45.
Bảng tổng hợp kết quả sản xuất kinh doanh của VILACO qua 3 năm:
| Chỉ tiêu |
Năm 2012 |
Năm 2013 |
Năm 2014 |
So sánh 2013/2012 (%) |
So sánh 2014/2013 (%) |
| Doanh thu thuần (đồng) |
160.520.477.267 |
147.476.278.997 |
185.207.213.519 |
-8,13% |
+25,58% |
| Lợi nhuận sau thuế (đồng) |
4.497.799.154 |
628.731.695 |
5.111.117.667 |
-86,88% |
+712,93% |
| Tổng lao động (người) |
253 |
234 |
232 |
-7,51% |
-0,85% |
| Thu nhập bình quân (đồng/tháng) |
3.000.000 |
3.500.000 |
4.200.000 |
+16,67% |
+20,00% |
| Thuế TNDN (đồng) |
386.118.439 |
209.577.232 |
1.441.597.294 |
-45,72% |
+587,86% |
Năm 2013, doanh thu và lợi nhuận sụt giảm mạnh do giá nguyên liệu hóa chất nhập khẩu tăng vọt (nguyên liệu ngoại nhập chiếm trên 50% cơ cấu sản xuất bột giặt) nhưng công ty chưa kịp điều chỉnh giá bán. Sang năm 2014, tình hình phục hồi rõ nét nhờ công ty ký kết nhiều hợp đồng quy mô lớn: gia công bột giặt cho tập đoàn P&G đạt doanh số khoảng 80 tỷ đồng, xuất khẩu nước giặt và sữa tắm sang thị trường Trung Quốc, Thái Lan thu về hơn 45 tỷ đồng, và phát triển hơn 15 nhà phân phối cho phân khúc bình dân thu về trên 10 tỷ đồng.
Về cơ cấu tài sản và vốn:
- Vốn cố định luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn do đặc thù đầu tư nhà xưởng, máy móc công suất lớn (năm 2012 chiếm 64,83%; năm 2013 chiếm 68,45%; năm 2014 chiếm 63,63% tương ứng 47.486.049.083 đồng).
- Vốn lưu động chiếm tỷ trọng thấp hơn (năm 2012 chiếm 35,17%; năm 2013 chiếm 31,55%; năm 2014 chiếm 36,37% tương ứng 27.143.345.211 đồng).
Về cơ cấu nguồn vốn:
- Nợ phải trả chiếm ưu thế nhưng có xu hướng giảm dần qua các năm: năm 2012 chiếm 67,78% (48.010.974.040 đồng); năm 2013 giảm xuống 65,75% (44.658.033.351 đồng); năm 2014 còn 61,98% (46.257.346.364 đồng).
- Vốn chủ sở hữu tăng trưởng đều đặn: từ 22.822.947.546 đồng (32,22%) năm 2012 lên 23.263.930.253 đồng (34,25%) năm 2013 và đạt 28.372.047.930 đồng (38,02%) năm 2014, thể hiện mức độ tự chủ tài chính tăng lên.
- Chi phí tài chính năm 2014 giảm 20,13% (từ 3.962.480.766 đồng xuống 3.165.018.611 đồng) nhờ công ty chủ động cắt giảm nợ vay ngân hàng, đưa chi phí lãi vay giảm 801.358.637 đồng (-20,50%). Tuy nhiên, chi phí quản lý kinh doanh năm 2014 tăng 7,66% lên 9.605.076.807 đồng do giá xăng dầu tăng làm đội chi phí vận chuyển, cùng với sự gia tăng hàng tồn kho dự trữ.
Đánh giá tổng quát cho thấy công ty đã giữ vững thương hiệu, mở rộng thị phần quốc tế và cải thiện năng lực tự chủ vốn. Dẫu vậy, hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn bị cản trở bởi tình trạng đọng vốn tại các khoản phải thu khách hàng và lượng hàng tồn kho cao.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần VILACO
Dựa trên định hướng phát triển của công ty đến năm 2020 – mở rộng nhà máy sản xuất bột giặt mới nâng công suất lên 100.000 tấn/năm, hoàn thiện đưa vào sử dụng từ năm 2015 – tác giả đề xuất 3 giải pháp trọng tâm:
- Đẩy mạnh công tác thu hồi nợ, giảm các khoản phải thu:
- Lý do: Phân tích cơ cấu nợ phải thu (Bảng 19) cho thấy vốn bị khách hàng chiếm dụng lớn, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nhanh và làm phát sinh chi phí vốn vay.
- Nội dung: Rà soát, phân loại kỳ hạn nợ khách hàng; thắt chặt quy chế bán chịu; áp dụng chính sách chiết khấu thanh toán linh hoạt cho các đơn vị thanh toán sớm; quy định trách nhiệm thu hồi công nợ gắn trực tiếp với lương, thưởng của nhân viên kinh doanh phòng Thương mại.
- Dự tính kết quả: Bảng 20 tính toán mức cắt giảm công nợ tồn đọng, giúp giải phóng lượng vốn lưu động quay trở lại chu kỳ kinh doanh.
- Giảm lượng hàng tồn kho:
- Lý do: Bảng 21 phản ánh giá trị hàng tồn kho (nguyên vật liệu và thành phẩm) chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản ngắn hạn, gây ứ đọng vốn và phát sinh chi phí lưu kho, bảo quản.
- Nội dung: Ứng dụng mô hình dự trữ tối ưu; lập kế hoạch mua sắm nguyên vật liệu hóa chất theo sát tiến độ sản xuất của các phân xưởng; đẩy mạnh công tác tiêu thụ, giải phóng hàng chậm luân chuyển; cân đối tỷ lệ tồn kho an toàn giữa các nhóm sản phẩm giặt tẩy và chăm sóc cá nhân.
- Dự tính kết quả: Bảng 22 dự báo tốc độ quay vòng vốn lưu động gia tăng và giảm chi phí bảo quản nguyên vật liệu.
- Giảm chi phí quản lý kinh doanh:
- Lý do: Chi phí quản lý kinh doanh năm 2014 tăng 7,66% (đạt trên 9,6 tỷ đồng), trong đó chi phí xăng dầu, vận chuyển và quản lý kho chiếm tỷ lệ cao (Biểu đồ 2 và Biểu đồ 3).
- Nội dung: Tối ưu hóa lộ trình vận tải và giao nhận hàng hóa; tiết kiệm chi phí văn phòng phẩm và điện năng; rà soát định mức tiêu hao nhiên liệu của đội xe giao hàng; tinh gọn khâu điều hành trung gian.
- Dự tính kết quả: Bảng 23 mô phỏng mức tiết giảm chi phí quản lý, trực tiếp nâng cao lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh và cải thiện chỉ tiêu ROA, ROE.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã trích xuất và phân tích đầy đủ hệ thống dữ liệu tài chính của Công ty Cổ phần VILACO giai đoạn 2012 – 2014, mang lại các kết quả định lượng cụ thể:
- Phản ánh chính xác xu hướng biến động nguồn vốn: Tổng nguồn vốn sau khi giảm từ 70,83 tỷ đồng (2012) xuống 67,92 tỷ đồng (2013) đã tăng trưởng lên 74,63 tỷ đồng (2014). Vốn chủ sở hữu tăng trưởng 24,31% sau 3 năm (từ 22,82 tỷ đồng lên 28,37 tỷ đồng).
- Chỉ rõ mức độ chuyển dịch đòn bẩy tài chính: Cơ cấu nợ phải trả giảm từ 67,78% xuống 61,98%, trong đó công ty trả bớt nợ vay ngân hàng ngắn hạn làm giảm chi phí lãi vay từ 3,91 tỷ đồng xuống 3,11 tỷ đồng năm 2014.
- Đánh giá sự hồi phục của lợi nhuận: Sau năm 2013 đầy khó khăn (LNST chỉ đạt 628,73 triệu đồng), công ty đã bứt phá năm 2014 với LNST đạt 5,11 tỷ đồng nhờ mở rộng đơn hàng gia công P&G và xuất khẩu.
- Hệ thống hóa 3 nhóm giải pháp tài chính vi mô gắn liền với các bảng tính toán dự tính hiệu quả kinh tế (Bảng 20, Bảng 22, Bảng 23), cung cấp cơ sở để doanh nghiệp cân đối lại các khoản phải thu, hàng tồn kho và chi phí quản lý.
Về mặt đóng góp học thuật và thực tiễn, tác giả đã vận dụng lý thuyết quản trị vốn vào một ngành sản xuất đặc thù (hóa mỹ phẩm, phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu và công nghệ tự động hóa cao). Các đề xuất giải pháp đều gắn liền với số liệu tồn đọng thực tế trên báo cáo tài chính, có dự tính định lượng thay vì chỉ dừng lại ở các kiến nghị chung chung.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận bộc lộ một số hạn chế do phạm vi và điều kiện thực hiện:
- Giới hạn dữ liệu: Phân tích tài chính dựa trên số liệu 3 năm (2012 – 2014), chưa bao quát được chu kỳ kinh doanh dài hạn của doanh nghiệp sau khi hoàn thành dự án nhà máy mới năm 2015.
- So sánh ngành: Báo cáo chủ yếu phân tích biến động nội bộ công ty qua các năm, chưa đối chiếu chi tiết các chỉ số tài chính (ROA, ROE, vòng quay vốn) với chỉ số trung bình ngành hóa mỹ phẩm hoặc các đối thủ cạnh tranh trực tiếp do hạn chế về nguồn thông tin bảo mật.
- Tác giả tự nhận định do trình độ cá nhân và thời gian nghiên cứu có hạn nên các giải pháp quản trị rủi ro biến động giá nguyên liệu hóa chất quốc tế và công cụ tài chính phái sinh bảo hiểm tỷ giá chưa được đào sâu nghiên cứu.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng chuỗi dữ liệu tài chính giai đoạn sau năm 2015 khi nhà máy công suất 100.000 tấn/năm chính thức đi vào vận hành, đồng thời nghiên cứu bổ sung mô hình quản trị rủi ro thanh khoản và rủi ro tỷ giá cho các doanh nghiệp sản xuất chất tẩy rửa phụ thuộc vào thị trường xuất nhập khẩu.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kế toán và Quản trị kinh doanh khi thực hiện các đề tài khóa luận, đồ án tốt nghiệp về chủ đề phân tích báo cáo tài chính và quản trị vốn doanh nghiệp sản xuất. Phần cơ sở lý luận cung cấp hệ thống công thức chỉ tiêu đánh giá tổng vốn, vốn cố định và vốn lưu động có tính ứng dụng cao.
Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp sản xuất hóa mỹ phẩm tiêu dùng, nội dung phân tích thực trạng tại Chương 2 và các mô hình dự tính kết quả tại Chương 3 (Bảng 20, 22, 23) cung cấp bài học thực tiễn về việc kiểm soát chi phí lãi vay, cân đối tỷ trọng nợ phải trả, phương pháp xử lý nợ đọng khách hàng và giải phóng hàng tồn kho trong bối cảnh giá nguyên liệu đầu vào biến động.
Câu hỏi thường gặp
-
Công ty Cổ phần VILACO có mối quan hệ sở hữu như thế nào với Công ty TNHH VICO?
VILACO được thành lập vào tháng 12 năm 2003, là công ty thành viên của Công ty TNHH VICO (đơn vị thành lập từ tháng 1/1994, sở hữu thương hiệu bột giặt "Vì Dân"). Vốn điều lệ ban đầu của VILACO do các thành viên đóng góp, trong đó VICO nắm giữ 80% vốn.
-
Cơ cấu vốn của VILACO giai đoạn 2012 – 2014 có đặc điểm gì nổi bật?
Vốn cố định luôn chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng vốn của công ty (năm 2012 chiếm 64,83%, năm 2013 chiếm 68,45%, năm 2014 chiếm 63,63%), trong khi vốn lưu động dao động từ 31,55% đến 36,37%. Nguyên nhân do công ty đầu tư hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất tự động công suất lớn (dây chuyền sản xuất bột giặt, hệ thống chiết rót, đóng chai tự động).
-
Nguyên nhân chủ yếu nào khiến lợi nhuận sau thuế năm 2013 của VILACO sụt giảm hơn 86% so với năm 2012?
Nguyên nhân chính là sự biến động tăng mạnh của giá nguyên vật liệu đầu vào trên thị trường quốc tế, trong khi nguyên liệu ngoại nhập chiếm trên 50% chi phí sản xuất bột giặt của công ty. Doanh nghiệp không thể điều chỉnh giá bán sản phẩm kịp thời theo biến động chi phí, dẫn tới doanh thu thuần giảm 8,13% và lợi nhuận sau thuế giảm từ 4,50 tỷ đồng xuống còn 628,73 triệu đồng.
-
Những yếu tố thực tế nào giúp doanh thu và lợi nhuận sau thuế năm 2014 của công ty tăng trưởng mạnh?
Năm 2014, VILACO ký kết được nhiều hợp đồng lớn: hợp đồng gia công bột giặt cho tập đoàn P&G đạt doanh thu khoảng 80 tỷ đồng; xuất khẩu nước giặt, sữa tắm sang thị trường Trung Quốc và Thái Lan thu về trên 45 tỷ đồng; mở rộng thêm 15 nhà phân phối cho phân khúc bình dân thu về trên 10 tỷ đồng. Đồng thời, công ty cắt giảm nợ vay ngân hàng giúp tiết kiệm hơn 801 triệu đồng chi phí lãi vay.
-
Tác giả đề xuất những giải pháp cụ thể nào tại Chương 3 để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn?
Tác giả đề xuất 3 giải pháp gắn với dự tính kết quả cụ thể: (1) Đẩy mạnh công tác thu hồi nợ và giảm các khoản phải thu thông qua chính sách chiết khấu thanh toán và ràng buộc trách nhiệm kinh doanh; (2) Giảm lượng hàng tồn kho bằng cách tối ưu hóa kế hoạch mua nguyên vật liệu và đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tồn đọng; (3) Giảm chi phí quản lý kinh doanh thông qua việc tối ưu hóa chi phí vận chuyển, xăng dầu và định mức quản lý hành chính.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Ánh Nguyệt đã giải quyết toàn diện mục tiêu nghiên cứu về thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần VILACO qua giai đoạn 2012 – 2014. Bằng hệ thống số liệu kế toán chi tiết, đề tài đã chỉ rõ những điểm mạnh trong tăng trưởng doanh thu, gia tăng vốn chủ sở hữu năm 2014 cũng như những hạn chế tồn đọng về quản lý chi phí và ứ đọng vốn lưu động năm 2013. Ba nhóm giải pháp được đề xuất tại Chương 3 có căn cứ thực tế, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp hoàn thiện năng lực tự chủ tài chính và nâng cao hiệu suất vốn trong giai đoạn mở rộng sản xuất đến năm 2020.