Phân tích hoạt động Marketing tại Cty Vận tải Đức Tiến - SV. Đào Ngọc Tùng Anh

Khóa luận phân tích hoạt động marketing của công ty cổ phần thương mại vận tải Đức Tiến, nêu thực trạng và đề xuất giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Marketing

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

97
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MARKETING

1.1. Tổng quan về Marketing

1.1.1. Khái niệm Marketing

1.1.2. Vai trò, chức năng của marketing

1.2. Tổng quan về dịch vụ

1.2.1. Khái niệm dịch vụ

1.2.2. Đặc trưng của dịch vụ

1.2.2.1. Tính vô hình
1.2.2.2. Tính không tách rời giữ cung cấp và tiêu dùng
1.2.2.3. Tính không đồng nhất
1.2.2.4. Tính không dự trữ được
1.2.2.5. Tính không chuyển quyền sở hữu được

1.2.3. Phân loại dịch vụ

1.2.3.1. Phân loại theo vai trò của dịch vụ trong sản phẩm cung cấp cho khách hàng
1.2.3.2. Phân loại theo đối tượng trực tiếp của dịch vụ
1.2.3.3. Phân loại theo mức độ hữu hình của sản phẩm cung cấp cho khách hàng
1.2.3.4. Phân loại theo mức độ sử dụng lao động cung cấp dịch vụ
1.2.3.5. Phân loại theo tần suất mua và sử dụng

1.2.4. Tổng quan về marketing hỗn hợp trong kinh doanh dịch vụ

1.2.4.1. Khái niệm marketing hỗn hợp

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VẬN TẢI ĐỨC TIẾN

2.1. Một số nét khái quát về công ty cổ phần thương mại vận tải Đức Tiến

2.2. Quá trình hình thành và phát triển công ty

2.3. Cơ cấu tổ chức của công ty

2.4. Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

2.5. Hoạt động marketing của công ty

2.5.1. Hoạt động nghiên cứu thị trường

2.5.2. Chính sách sản phẩm

2.5.3. Chính sách giá

2.5.4. Chính sách phân phối

2.5.5. Chính sách xúc tiến hỗn hợp

2.5.6. Chính sách con người

2.5.7. Chính sách về quy trình dịch vụ

2.5.8. Chính sách về yếu tố hữu hình

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG MARKETING TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VẬN TẢI ĐỨC TIẾN

3.1. Tổng quan ngành vận tải đường bộ Việt Nam

3.2. Thành tựu và phương hướng phát triển của công ty

3.2.1. Phương hướng phát triển

3.2.2. Đối thủ cạnh tranh của công ty

3.3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động marekting của công ty Cổ Phần Thương mại Vận tải Đức Tiến

3.3.1. Đề xuất về chính sách sản phẩm

3.3.2. Đề xuất về chính sách giá

3.3.3. Đề xuất về chính sách xúc tiến hỗn hợp

3.3.4. Chính sách con người

3.3.5. Các yếu tố hữu hình

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hoạt động marketing của công ty cổ phần thương mại vận tải Đức Tiến

Hoạt động marketing là một phần không thể thiếu trong chiến lược kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào, đặc biệt là trong lĩnh vực vận tải. Công ty cổ phần thương mại vận tải Đức Tiến đã nhận thức rõ vai trò của marketing trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh và tạo dựng thương hiệu. Bài viết này sẽ phân tích thực trạng hoạt động marketing của công ty, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm cải thiện và phát triển hơn nữa.

1.1. Khái niệm và vai trò của hoạt động marketing trong doanh nghiệp

Hoạt động marketing không chỉ đơn thuần là quảng bá sản phẩm mà còn bao gồm việc nghiên cứu thị trường, phân tích nhu cầu khách hàng và xây dựng chiến lược phù hợp. Theo Philip Kotler, marketing là hoạt động của con người hướng tới sự thỏa mãn nhu cầu và ước muốn thông qua tiến trình trao đổi.

1.2. Đặc điểm của dịch vụ vận tải và ảnh hưởng đến hoạt động marketing

Dịch vụ vận tải có những đặc điểm riêng biệt như tính vô hình, không tách rời giữa cung cấp và tiêu dùng, và tính không đồng nhất. Những đặc điểm này ảnh hưởng lớn đến cách thức mà công ty cổ phần thương mại vận tải Đức Tiến triển khai các hoạt động marketing của mình.

II. Thực trạng hoạt động marketing tại công ty cổ phần thương mại vận tải Đức Tiến

Công ty cổ phần thương mại vận tải Đức Tiến đã triển khai nhiều hoạt động marketing nhằm nâng cao nhận thức của khách hàng về dịch vụ của mình. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua để tối ưu hóa hiệu quả marketing.

2.1. Phân tích thị trường và khách hàng mục tiêu

Công ty đã thực hiện các nghiên cứu thị trường để xác định nhu cầu và hành vi của khách hàng. Tuy nhiên, việc phân tích này vẫn chưa đầy đủ và cần được cải thiện để nắm bắt kịp thời xu hướng thị trường.

2.2. Chính sách sản phẩm và giá cả của công ty

Chính sách sản phẩm của công ty hiện tại chưa đa dạng và chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Giá cả cũng cần được điều chỉnh để cạnh tranh hơn với các đối thủ trong ngành.

III. Vấn đề và thách thức trong hoạt động marketing của công ty cổ phần thương mại vận tải Đức Tiến

Mặc dù công ty đã có những bước tiến trong hoạt động marketing, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Các thách thức này bao gồm sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ và sự thay đổi nhanh chóng của nhu cầu khách hàng.

3.1. Cạnh tranh trong ngành vận tải

Ngành vận tải hiện nay đang chứng kiến sự gia tăng của nhiều đối thủ mới, điều này tạo ra áp lực lớn cho công ty trong việc duy trì thị phần và phát triển thương hiệu.

3.2. Thay đổi trong nhu cầu và hành vi của khách hàng

Khách hàng ngày càng có yêu cầu cao hơn về chất lượng dịch vụ và giá cả. Công ty cần phải nhanh chóng thích ứng với những thay đổi này để không bị tụt lại phía sau.

IV. Giải pháp cải thiện hoạt động marketing tại công ty cổ phần thương mại vận tải Đức Tiến

Để nâng cao hiệu quả hoạt động marketing, công ty cần triển khai một số giải pháp cụ thể nhằm cải thiện chính sách sản phẩm, giá cả và các hoạt động xúc tiến.

4.1. Đề xuất về chính sách sản phẩm

Công ty nên mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ, bao gồm các dịch vụ bổ sung nhằm tăng giá trị cho khách hàng. Việc này không chỉ giúp thu hút khách hàng mới mà còn giữ chân khách hàng cũ.

4.2. Đề xuất về chính sách giá

Cần xem xét lại chiến lược giá để đảm bảo tính cạnh tranh. Việc áp dụng các chương trình khuyến mãi và giảm giá có thể là một cách hiệu quả để thu hút khách hàng.

V. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về hoạt động marketing

Việc áp dụng các giải pháp marketing mới sẽ giúp công ty cổ phần thương mại vận tải Đức Tiến cải thiện hiệu quả kinh doanh và nâng cao sự hài lòng của khách hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, nếu công ty thực hiện đúng các chiến lược marketing, doanh thu sẽ tăng trưởng đáng kể.

5.1. Kết quả từ các chiến dịch marketing đã thực hiện

Các chiến dịch marketing trước đây đã mang lại một số kết quả tích cực, nhưng cần phải đánh giá và điều chỉnh để tối ưu hóa hiệu quả.

5.2. Tương lai của hoạt động marketing tại công ty

Công ty cần tiếp tục đổi mới và sáng tạo trong các hoạt động marketing để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường và khách hàng.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai của hoạt động marketing

Hoạt động marketing đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của công ty cổ phần thương mại vận tải Đức Tiến. Việc cải thiện và tối ưu hóa các hoạt động marketing sẽ giúp công ty không chỉ tồn tại mà còn phát triển bền vững trong tương lai.

6.1. Tóm tắt những điểm chính trong nghiên cứu

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc cải thiện hoạt động marketing là cần thiết để nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty.

6.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Công ty cần xây dựng một chiến lược marketing dài hạn, tập trung vào việc phát triển thương hiệu và nâng cao chất lượng dịch vụ.

24/07/2025
Khóa luận hoạt động marekting của công ty cổ phần thương mại vận tải đức tiến thực trạng và giải pháp

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MARKETING 1. Tổng quan về Marketing 1. Khái niệm Marketing Theo Philip Kotler – giáo sư marketing nổi tiếng của Mỹ định nghĩa: “Marketing là hoạt động của con người hướng tới sự thỏa mãn nhu cầu và ước muốn thông qua tiến trình trao đổi”.

Đây là định nghĩa hết sức xúc tích thể hiện đầy đủ nội dung của marketing đó là tổng hợp tất cả mọi hoạt động trao đổi hai chiều giữa cả khách hàng và người làm marketing để hiểu và đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.Ansoff, chuyên gia nghiên cứu marketing của Liên Hợp Quốc: “Marketing là khoa học điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh kể từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, nó căn cứ vào nhu cầu biến động của thị trường hay nói khác đi là lấy thị trường làm định hướng”. Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, 2007: “Marketing là hoạt động thông qua các tổ chức, các quy trình nhằm sáng tạo truyền thông, chuyển giao những sản phẩm mang lại giá trị cho khách hàng, đối tác và toàn bộ xã hội”. Như vậy, Marketing chính là làm việc với thị trường để biến các trao đổi tiềm tang thành hiện thực nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của con người. Người làm marketing cần phải xác định những đối tượng khách hàng, định rõ nhu cầu của họ… thông qua các hoạt động chính như phát triển sản phẩm, nghiên cứu thị trường, quảng cáo, định giá, phân phối, phục vụ… Nhìn chung, các khái niệm marketing đã chỉ ra hai hoạt động cơ bản của marketing đó là:  Thứ nhất: Nắm bắt, thấu hiểu nhu cầu, mong muốn và hành vi của khách hàng thông qua các hoạt động nghiên cứu, phân tích, đánh giá, tổng hợp.

 Thứ hai: Thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó bằng việc thiết kế, phát triển các sản phẩm/ dịch vụ và các công cụ marketing hỗn hợp (marketing mix) của doanh nghiệp. Trên thực tế còn tồn tại nhiều định nghĩa về marketing khác nhau, nhưng có thể thấy rằng, mọi định nghĩa marketing đều hướng đến các nội dung cơ bản đó là quá trình quản lý các hoạt dộng của doanh nghiệp nhằm làm hài long khách hàng mục tiêu từ đó tạo ra chỗ đứng vững trãi trong tâm trí của khách hàng. Sinh viên: Đào Ngọc Tùng Anh – Lớp: 9 Khóa luận tốt Trường Đại học Dân Lập Hải 1. Vai trò, chức năng của marketing Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp là một chủ thể kinh doanh, một cơ thể sống của đời sống kinh tế.

Cơ thể đó cần có sự trao đổi chất vưới môi trường bên ngoài – thị trường. Quá trình trao đổi chất đó càng diễn ra thường xuyên, liên tục, với quy mô ngày càng lớn thì cơ thể đó càng khỏe mạnh và ngược lại. Chính vì vậy, marketing càng trỏe nên quan trọng khi nó có vai trò kêt nối hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với thị trường, có nghĩa là đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hướng theo thị trường, biết lấy nhu cầu và mong muốn của khách hàng làm chỗ dựa vững chắc cho mọi quyết định kinh doanh. Marketing phản ánh một chức năng cơ bản của kinh doanh, giống như chức năng sản xuất, tài chính, quản trị nhân lực, kế toán, cung cấp vật tư… Về mặt tổ chức của doanh nghiệp, chức năng cơ bản của marketing là tạo ra khách hàng cho doanh nghiệp.

Xét về mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành trong hệ thống hoạt động chức năng quản trị doanh nghiệp thì marketing cũng là một chức năng có vai trò kết nối, nhằm đảm bảo sự thống nhất hữu cơ với các chức năng khác bắt nguồn từ những lĩnh vực: sản xuất, tài chính, nhân sự. Như vậy, xét về quan hệ chức năng thì marketing vừa chi phối, vừ bị chi phối bởi các chức năng khác. Cụ thể, khi xác định chiến lược marketing, các nhà quan trị marketing phải đặt ra nhiệm vụ, mục tiêu, chiến lược marketing trong mối tương quan ràng buộc với các chức năng khác. Mặc dù mục tiêu cơ bản của mọi công ty là thu về lợi nhuận, nhưng nhiệm vụ cơ bản của hệ thống marketing là đảm bảo sản xuất và cung cấp các mặt hàng hấp dẫn, có sức cạnh tranh cao cho các thị trường mục tiêu.

Nhưng sự thành công của chiến lược và sách lược marketing còn phụ thuộc và sự vận hành của các chức năng khác trong công ty. Ngược lại, các hoạt động chức năng khác nếu không vì những mục tiêu của hoạt động marketing, thông qua các chiến lược cụ thể, nhằm vào những khách hàng – thị trường cụ thể thì những hoạt động đó sẽ trở nên mò mẫn và mất phương hướng. Đó là mối quan hệ hai mặt, vừa thể hiện tính thống nhất, vừa thể hiện tính độc lập giữa chức năng marketing với các chức năng khác của một cong ty hướng theo thị trường. Marketing khuyến khích sự phát triển và không ngừng hoàn thiện sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho khách hàng, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống cả về vật chất và tinh thần.

Với những thay đổi mau chóng trong nhu cầu, thị hiếu, công nghệ…, mỗi doanh nghiệp không thể chỉ kinh doanh những mặt hàng mà mình Sinh viên: Đào Ngọc Tùng Anh – Lớp: 1 Khóa luận tốt Trường Đại học Dân Lập Hải hiện có. Khách hàng luôn mong muốn và chờ đợi những mặt hàng mới và hoàn thiện hơn. Marketing buộc các doanh nghiệp không những sáng tạo, hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ để phù hợp với nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Marketing nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Thông qua việc nghiên cứu hành vi trước, trong và sau mua của khách hàng, marketing sẽ giúp cho các doanh nghiệp tìm ra những phương án giải quyết, khắc phục những lời phàn nàn, khiếu nại của khách hàng để hoàn thiện hơn về mặt hàng kinh doanh, gia tăng sự hài lòng của khách hàng, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình.

Tổng quan về dịch vụ 1. Khái niệm dịch vụ Trong kinh tế học, Adam Smith từng nhận định rằng “dịch vụ là những nghề hoang phí nhất trong tất cả các nghề như cha đạo, luật sư, nhạc công, cã sĩ, vũ công. Công việc của tất cả bọn họ tàn lụi đúng lúc nó được sinh ra”. Từ định nghĩa này, ta có thể nhận thấy rằng Adam Smith cõ lẽ muốn nhấn mạnh đến khía cạnh “không tồn trữ được” của sản phẩm dịch vụ, tức là được sản xuất và tiêu thụ đồng thời.

Trong marketing, Kotler và Amstrong ̣(1991) đã định nghĩa dịch vụ như sau: “Một dịch vụ là một hoạt động hay một lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, trong đó nó có tính vô hình và không dẫn dến sự chuyển giao sở hữu nào cả”. Như vậy, có thể định nghĩa một cách chung nhất: dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới dạng thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoat của con người. Trong thực tế, sản phẩm chào bán của một doanh nghiệp có thể trải rộng từ một mặt hàng thuần túy cho đến một dịch vụ thuần túy. Vì khi mua một sản phẩm, người mua cũng nhận được lợi ích từ một số dịch vụ hỗ trợ kèm theo.

Với mặt hàng cụ thể thuần túy như xà phòng, kem đánh răng hay muối ăn, thì không cần có dịch vụ đi kèm. Một mặt hàng cụ thể kèm dịch vụ là mặt hàng công thêm một hay nhiều dịch vụ để tang khả năng thu hút khách hàng mua, nhất là đối với các sản phẩm hữu hình có công nghệ chế tạo và sử dụng phức tạp. Ví dụ, nhà sản xuất xe hơi bán xe hơi kèm theo dịch vụ bảo hành, chỉ dẫn sử dụng và bao bì, giao hàng Sinh viên: Đào Ngọc Tùng Anh – Lớp: 1 Khóa luận tốt Trường Đại học Dân Lập Hải theo ý khách hàng. Tương tự, một dịch vụ thường bao gồm trong đó là những sản phẩm hữu hình để tang thêm giá trị dịch vụ.

Ví dụ, khách đi máy bay là mua một dịch vụ chuyên chở. Nhưng chuyến đi còn bao hàm một số món hàng cụ thể, như thức ăn, đồ uống và tạp chí của hãng hàng không. Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau về dịch vụ nhưng ta vẫn có được đặc trưng riêng để phân biệt dịch vụ với hàng hóa thuần túy. Từ các đặc trưng này sẽ dẫn đến sự khác biệt về cách làm marketing dịch vụ so với marketing hàng hóa hữu hình.

Đặc trưng của dịch vụ 1. Tính vô hình Dịch vụ là vô hình xuất hiện đa dạng nhưng không tồn tại ở một hình dạng cụ thể nào. Do đó sự cảm nhận của khách hàng trở nên rất quan trong trong việc đánh giá chất lượng. Hàng hóa có hình dạng, kích thước, màu sắc, mùi vị, khách hàng có thể tự do xem xét, đánh giá xem nó có phù hợp với nhu cầu của mình hay không.

Ngược lại, dịch vụ mang tính vô hình, không thể trưng bày, không thể vận hành thử, bởi vậy các giác quan của khách hàng không nhận biết được trước khi mua và sử dụng dịch vụ. Khách hàng cảm nhận chất lượng dịch vụ bằng cách so sánh với chất lượng mong đợi hình thành trong ký ức khách hàng. Tính không tách rời giữ cung cấp và tiêu dùng Hàng hóa được sản xuất tập trung tại một nơi, rồi vận chuyển đến nơi có nhu cầu. Khi ra khỏi dây chuyền sản xuất thì hàng hóa đã hàn chỉnh.

Do đó, nhà sản xuất có thể đạt được tính kinh tế theo quy mô do sản xuất hàng loạt và quản lý chất lượng sản phẩm tập trung. Nhà sản xuất cũng có thể lưu trữ hoặc xuất bán khi có nhu cầu, từ đó dễ thực hiện cân đối cung cầu. Ngược lại, quá trình dịch vụ hình thành và tiêu dùng là cùng một thời điểm. Khách hàng cũng có mặt và cùng tham gia việc cung cấp dịch vụ nên sự tác động qua lại giữa người cung ứng dịch vụ và khách hàng đều ảnh hưởng đến kết quả của dịch vụ.

Phải có nhu cầu, có khách hàng thì quá trình dịch vụ mới thực hiện được. Tính không đồng nhất Dịch vụ không thể cung cấp hàng loạt và không thể tập trung sản xuất như hàng hóa. Do vậy, nhà cung cấp khó kiểm tra chất lượng theo một tiêu chuẩn thống nhất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ