ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một nước có truyền thống về y học cổ truyền từ hàng nghìn năm nay với những danh y nổi tiếng như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông. Bên cạnh đó Việt Nam cũng là một nước có tiềm năng lớn về động thực vật mà trong đó nhiều cây và con đã được sử dụng làm thuốc, góp phần tích cực vào công tác phòng và chữa bệnh cho nhân dân. Nắm bắt được ưu thế này từ lâu Đảng, nhà nước, Bộ Y tế đã khuyến khích sưu tầm, nuôi trồng và phát triển những nguyênliệu thuốc có nguồn gốc thiên nhiên. Đây cũng là xu hướng chung của y học thế giới: hướng tới nguồn nguyên liệu làm thuốc từ thiên nhiên do ưu thế là giá thành rẻ, ít độc.
Trong xu hướng chung như thế trường Đại học Tôn Đức Thắng đã kết hợp với Khoa Dược – Đại học Y Dược TP.HCM nghiên cứu một số các cây thuốc ở Việt Nam. Sự kết hợp trong đề tài nghiên cứu như thế sẽ phát huy được thế mạnh của các trường trong cả lĩnh vực nuôi trồng phát triển dược liệu và nghiên cứu đánh giá được khả năng sử dụng làm thuốc của các dược liệu này. Trong quá trình nghiên cứu một số cây thuốc ở nước ta, chúng tôi nhận thấy cây diếp cá ngoài việc sử dụng làm rau sống từ lâu và rất phổ biến còn là cây thuốc dân gian sử dụng rất nhiều để điều trị các bệnh: trĩ, mụn nhọt, áp xe phổi… Một số nghiên cứu gần đây đã phát hiện thêm nhiều tác dụng quí của diếp cá như: tác dụng chống oxy hóa, tác dụng chống viên tuyến vú [10], có tác dụng kháng viêm [21,28]. Diếp cá đã được đưa Dược điển Việt Nam IV.
Đây là một cây dược liệu quí cần có sự quan tâm hơn nữa của các cơ quan trong việc quy hoạch các vùng trồng, đầu ra và các biện pháp kỹ thuật giúp nâng cao chất lượng cây. Tuy nhiên ở Việt Nam mà cụ thể là các tỉnh phía Nam việc trồng diếp cá hiện nay vẫn mang tính tự phát, gia đình chủ yếu phục vụ làm gia vị. Chưa có những nghiên cứu nhằm qui hoạch phát triển cây này theo hướng làm thuốc. Chưa có những nghiên cứu chi tiết và đầy đủ về điều kiện nuôi trồng dược liệu này.
Về phương pháp kiểm nghiệm, Dược điển Việt Nam IV đã đưa ra các chỉ tiêu đánh giá chất lượng diếp cá. Tuy nhiên các chỉ tiêu này chủ yếu vẫn dựa trên cây diếp cá trồng ở phía Bắc. Chưa có đánh giá về chất lượng cây diếp cá mọc trên các vùng phía Nam. Ngay cả tác dụng dược lý của diếp cá Việt Nam cũng chỉ dựa trên kinh 1 nghiệm dân gian chưa có những thử nghiệm đầy đủ.
Chính vì lí do trên chúng tôi đã chọn đề tài: Bước đầu khảo sát vùng trồng diếp cá (H. cordata thumb) ở các tỉnh Long An, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh đánh giá khả năng dùng làm thuốc của diếp cá tại vùng khảo sát”. Mục tiêu của đề tài là khảo sát vùng trồng diếp cá ở Bình Dương, Long An, TP Hồ Chí Minh, so sánh chất lượng diếp cá thu từ các vùng khảo sát đồng thời nghiên cứu một số tác dụng dược lý của diếp cá nhằm làm sáng tỏ công dụng của cây này trong dân gian. Để thực hiện mục tiêu tổng quát trên, đề tài cần đạt các mục tiêu cụ thể sau: Khảo sát các cùng trồng diếp cá ở các tỉnh Long An, Bình Dương và TP Hồ Chí Minh.
Mô tả đặc điểm hình thái của cây diếp cá, sơ bộ điều tra kỹ thuật trồng và thu hoạch. Thu mua nguyên liệu Xử lý nguyên liệu. Đánh giá chất lượng của cây diếp cá tại vùng khảo sát dựa trên các tiêu chuẩn của Dược điển Việt Nam IV như: Xác định độ ẩm Xác định độ tro toàn phần Tỷ lệ tạp chất Tỷ lệ vụn nát Đặc điểm vi phẩu của diếp cá tươi, bột diếp cá khô Hàm lượng chất chiết trong nguyên liệu Định lượng hàm lượng tinh dầu trong nguyên liệu Khả năng kháng khuẩn của tinh dầu diếp cá 2 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2. TỔNG QUAN VỀ THỰC VẬT HỌC 2.
Tên gọi [3] Diếp cá hay còn có tên khác cây lá giấp, rau giấp cá, rau diếp tanh, ngư tinh thảo, râu trầu (H’Mông), chờ mờ mía (Dao), Chameleon, Heartleaf, Houttuynia Herb (Anh), là dược liệu đã được sử dụng lâu đời ở Việt Nam. Tên khoa học là Houttuynia cordata Thumb., họ Lá Giấp Saururaceae được đặt để tôn vinh Marteen Houttuyn (1720 – 1798), thầy thuốc và nhà thực vật học Hà Lan, chuyên về Rêu và Quyết thực vật 2. Vị trí phân loại [5] Chi Houttuynia thuộc họ Saururaceae. Vị trí của chi trong giới thực vật Bảng 2.
Vị trí phân loại chi Houttuynia trong giới thực vật Giới Planta Ngành Magnoliophyta Lớp Magnoliopsida Bộ Piperales Họ Saururaceae Chi Houttuynia 2. Mô tả cây Cây thảo, mọc lâu năm, ưa chỗ ẩm ướt, có thân rễ mọc ngầm dưới đất. Rễ nhỏ mọc ở các đốt, thân mọc đứng cao 40 cm, có lông hoặc ít lông. Lá mọc cách, hình tim, đầu lá hơi nhọn hay nhọn hẳn.
Hoa nhỏ màu vàng nhạt, không có bao hoa, mọc thành bông, có 4 lá bắc màu trắng, trông toàn bộ bề ngoài của cụm bông và lá bắc giống như một cây hoa đơn độc. Hoa nở vào mùa hạ, các tháng 5-8. Toàn cây vò có mùi tanh như cá. Diếp cá từ lâu đã được trồng lấy lá làm rau ăn.
Tại tây nam Trung Quốc, chẳng hạn các tỉnh Vân Nam, Quý Châu và Tứ Xuyên, các rễ phụ cũng được dùng như là rau. 3 Ở Việt Nam, diếp cá được dùng nhiều ở các tỉnh phía nam. Ở vùng núi cao mát như Sapa (Lào cai), diếp cá mọc hoang dài hàng kilômet ven suối, thường dùng ăn lá sống kèm với nhiều món như thịt nướng, chả giò, bún, gỏi cuốn. Nhật đã có các công nghệ chế biến diếp cá thành các loại thực phẩm như trà rượu.
Cây diếp cá Hình 2. Phân bố, sinh thái Chi Houttuynia chỉ có một loài diếp cá, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, Châu Á, từ Nhật Bản, Trung Quốc đến Việt Nam, Lào, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á khác. Ở Việt Nam, cây mọc hoang dại các tỉnh miền núi, trung du và đồng bằng. Cây còn được trồng ở nhiều nơi để làm rau và làm thuốc.
Diếp cá là loài ưa ẩm và chịu bóng, thường mọc ở đất ẩm, nhiều mùn dọc theo các bờ khe suối, mương nước trong thung lũng và ở vùng đồng bằng. Cây sinh trưởng gần như quanh năm, mạnh nhất trong mùa xuân hè, có hoa quả hàng năm trên những cây không bị ngắt ngọn và hái lá thường xuyên, có khả năng tái sinh chồi mạnh từ thân rễ. Ở vùng thị trấn Tam Đảo và núi Ngọc Linh, diếp cá mọc nhiều đến mức ảnh hưởng đến các loài cây khác. Thu hái cành lá quanh năm, thường dùng tươi, có thể phơi hay sấy khô để dùng dần.
TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC Thành phần chủ yếu của diếp cá gồm tinh dầu, flavonoid, alkaloid, và các acid béo… 2. Tinh dầu Thành phần chính của tinh dầu diếp cá là các nhóm aldehyd và các dẫn chất ceton như methyl n-nonyl ceton (đây là chất làm cho diếp cá có mùi tanh), 1-decanal, 1- dodecanal là những chất không kháng khuẩn. Chất có tác dụng kháng khuẩn là 3- oxododecanal. 4 Nhóm terpen gồm các chất: α-pinen, camphen, myrcen, limonen, linalol, bornyl acetat, geraniol và caryophylen.
Ngoài ra tinh dầu còn chứa acid caprinic, laurinaldehyd, benzamid, acid hexadecanoic, acid decanoic, acid palmitic, acid linoleic, acid oleic, acid stearic, aldehyd capric, acid chlorogenic, lipid và vitamin K [5] Đại học chiết Giang, Sở Khoa học và Kỹ thuật Y học Trung Quốc đã dùng sắc ký khí/khối phổ (GC/MS) phân tích về tinh dầu của HC bằng cách sử dụng-methyl hóa cột với acetat tetramethylammonium (TMAA). Tinh dầu được chưng cất, các thành phần acid béo được methyl hóa với acetat tetramethyl ammonium (TMAA) ở 250 o C và được xác định bằng GC/MS. Kết quả cho thấy rằng trong số các acid béo được tìm thấy đã được methyl hóa có acid capric, laurat (16,15%), methyl hexadecanoat (9,27%), acid undecanoic, methyl (5,62%), methyl oleat (1,98%), và linoleat methyl (1,40%). Các thành phần chính là (-)-beta-pinen (1,02 %), beta- myrcen (1,62%), 1-terpinen-4-ol (1,59%), decanal (1,49%), và 2-undecanon (1,47%) [18] 2.
Flavonoid [8, 17, 18, 19] − quercetin-3-O-beta-D-galactosid-7-O-beta-D-glucosid − kaempferol-3-O-alpha-L-rhamnopyranosyl-(1-6)-beta-D-glucopyranosid − quercitrin − quercetin-3-O- β-D-galactopyranosid (hyperin) − quercetin-3-O-alpha-L-rhamnopyranosyl-7-O-beta-D-glucopyranosid − phloretin-2’-O-β-D-glucopyranosid (phloridzin) − quercetin-3-O-α-L-arabinofuranosid (avicularin) OH OH HO OH HO OH O O OH O OH HO HO O O OH OH O OH HO O OH HO OH OH O OH HO Quercetin Ptl: 302,24 Quercitrin Ptl: 448,38 Hyperin Ptl: 464,38 5 Các flavonoid đáng chú ý trong diếp cá gồm quercetin, quercitrin, isoquercitrin, hyperin, và phloretin. Các flavonoid này được coi là những hợp chất có tác dụng kháng ung thư và tác dụng ngăn chặn gốc tự do và được dùng để điều trị những bệnh liên quan đến gốc tự do [18], [19] OH HO O OH OH O O OH O OH O HO OH OH OH OH OH Isoquercitrin Ptl: 464,38 Phloretin Ptl: 274 Ngoài ra diếp cá Nhật còn chứa Afzelin OH HO O O OH O HO O HO OH OH Afzelin Đối với diếp cá mọc ở Việt Nam, có tài liệu công bố trong hoa và quả có chứa isoquercitrin, nhưng không có quercitrin; ngược lại trong lá có chứa quercitrin (0,2%), mà không có isoquercitrin. Alkaloid Một số alkaloid có hoạt tính sinh học là aristolactam B, aristolactam A, piperolactam A, norcepharadion B, cepharadion, splendidin được tìm thấy trong dịch chiết methanol của cây diếp cá có tác dụng ức chế 5 dòng tế bào ung thư ở người ( A-549, Sk-MEL-2, XF-489, HCT-15). Ngoài ra còn có dẫn xuất 4,5-dioxo aporphin [20] 6 O O H O O O O O N H N H O H N O O H O Aristolactam A Aristolactam B Norcepharadion B O H O H H O O O O O O N H N O O H H N H O O cepharadion A cepharadion B plendidin 2.
Dẫn chất thơm đơn giản - Chlorogenic methyl ester - (E)-4-Hydroxy-4-[3’ (beta-D-glucopyranosyloxy) butyliden]-3, 5, 5-trimethyl-2- cyclohexan-1-on - 2-(3,4-dihydroxyphenyl) ethyl-beta-D-glucopyranosid - p-hydroxyphenethyl-beta-D-glucosid - Acid 4-(beta-D-glucopyranosyloxy)-3-hydroxy-Benzoic 2. Thành phần khác [27] Thành phần trong cây diếp cá còn có nước 91,5%; protid 2,9%; lipid 0,5%; cellulose 1,8%; dẫn xuất không protein 2,2%; khoáng chất toàn phần 1,1% (trong đó calcium 0,3%, phosphor 0,1%). Người ta còn tìm thấy trong thành phần diếp cá có chứa Fe, Mg, Mn đây là những khoáng chất cần thiết cho cơ thể, và không thấy các kim loại nặng như arsen, cadmin, crom hoặc chì trong mẫu phân tích 2. TỔNG QUAN VỀ TÁC DỤNG DƯỢC LÝ, CÔNG DỤNG 2.
Tác dụng sinh học của cây diếp cá 2.