Chương 1. Khái quát về tín ngưỡng thờ Thần và không gian văn hoá quận Ba Đình. Truyền thuyết và tín ngưỡng liên quan đến việc phụng thờ thánh Linh Lang. Di tích và lễ hội thờ thánh Linh Lang trên dia bàn quận Ba Đình Chương L KHÁI QUÁT VÈ TÍN NGƯỠNG THO THAN VÀ KHÔNG GIAN VĂN HOÁ QUẬN BA ĐÌNH 1.
- Khái quát về tín ngưỡng thờ Thần Tín ngưỡng thờ Thần ở Việt Nam là lĩnh vực đã được nhiều tác giả nghiên cứu và bước đầu có những quan điểm thống nhất. Bên cạnh tín ngưỡng thờ Thần còn xuất hiện một tín ngưỡng khác mà nội dung của nó vẫn còn đang là vấn đề gây nhiều tranh cãi cũng như các ý kiến trái chiều từ phía các nhà nghiên cứu. Đó là tín ngưỡng thờ Thánh. Có hay không một Đạo Thánh ở Việt Nam? Tín ngường thờ Thánh khác gì tín ngưỡng thờ Thần? Do phạm vi nghiên cứu của luận văn có giới hạn, nên dưới đây chỉ là những nhận định sơ lược mà tác giả đã tìm hiểu được trong quá trình nghiên cứu của mình.
Tên gọi Thánh, Thần và sự khác biệt của hai khái niệm Tục ngữ có câu “Chuông làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ”. Dân gọi tất cả là “chư vị đức thánh”. Ta gặp rất nhiều đền dai, nhiều lễ hội mang tên các thánh chứ không phải các thần. Tuy nhiên, khi đi sâu vào trong, ta vẫn thấy vị được thờ thực chất vẫn là Thần nào đó.
Dân thường dùng chữ thánh nhưng vẫn hiểu đó là thần. Theo thói quen chung, do ảnh hưởng của tín ngưỡng đa thần bắt nguồn căn rễ từ xa xưa, dân ta thường gọi các lực lượng siêu trần, các nhân vật linh thiêng. ấy là thần. Song, chữ thần thường bị triều đình phong kiến lợi dụng, kéo họ vào hàng ngũ bách thần để tôn vinh cho chế độ.
Vì thế mới có việc phong thần Những vị thần được vua chúa phong cho các tước hiệu Hạ đẳng, Trung đẳng, Thượng đẳng phúc thần thậm chí là đại vương, có vẻ tôn quý nhưng thực ra đã làm mất đi giá tri dich thực của các thần. Thần là ở cõi thiêng, là phải đứng trên con người, dù con người ấy là ai đi nữa. Nhưng vua lại ban cho các thần những. mỹ từ, phẩm trật, dù cao đến đâu cũng vẫn chỉ là bề tôi, chịu sự sai phái của nhà vua.
Để tỏ rõ uy quyền của chế độ quân chủ, nhà vua đòi hỏi các đắng thiêng ấy. phải tuân thủ trật tự của chế độ, phải bảo hộ lê dân. Khá nhiều thần tích cho biết thần được vua sai đi dẹp giặc, được giao phó công này việc nọ (tắt nhiên ở trong. Thần cũng có thể bị rút tên khỏi bảng phong thần.
Dân gian không dám nói ra, song về căn bản họ không chấp nhận thái độ bề trên với các thần linh như vậy. Các quan viên hương chức trong làng phải tuân theo sắc phong ấy của triều đình, chứ dân chúng thì không quan tâm mấy, mac cho bao nhiêu thần được phong cấp này cấp nọ, bởi họ đã sáng tạo ra các Thánh, từ để chỉ các thần linh riêng của mình. Thánh mới thực là biểu tượng thiêng liêng, của họ. Chế độ phong kiến chỉ lợi dụng được chữ Thần, chứ không lợi dụng được.
chữ Thánh. Chữ Thánh (_ ) ở trên một bên chữ Nhĩ (nghĩa là nghe), một bên chữ Khẩu (nghĩa là nói), ở dưới chữ Vương (nghĩa là vua). Thánh là vị có thể nghe hiểu và phán bảo được mọi điều trên tài cả vua. Bởi thế, vua chỉ có thể phong thần, tôn thánh chứ không thẻ phong thánh.
Gọi là Thần thì dễ bị lẫn lộn, còn gọi là Thánh thì không lẫn lộn bao giờ. Thánh gần với người ta hơn và không phải vị thần nào cũng được tôn là thánh. Thần thuộc vào một thế giới siêu nhiên, theo quan niệm vạn vật hữu linh. Thần là vị tài giỏi phán bảo mọi điều mọi nhẽ, mọi nơi mọi lúc.
Thần ở chốn cao xa, vô cùng huyền diệu, không. rõ xuất xứ, không biết hành tung. Người thường luôn thấy bản thân mình cách. biệt với thế giới thin linh.
Những vị thần Sám, thần Non, Thuỷ thần. Không ai biết được các ngài như thế nào, chỉ có thể tưởng tượng là các ngài có quyền uy. và năng lực vô song. ‘Thanh là một sự tập trung hoàn thiện đề tạo nên biểu tượng.
Nếu như trong số các vị được tôn là “thần” cũng có tốt, có xấu (tà thần) thì trong tâm thức dân gian, thánh thường phải là những thần - người hoàn mỹ, là chỗ dựa cho quần chúng nhân dân. Không cần có nhiều hư cấu, con người có thể tạo ra thế giới thánh, quan niệm được sự hiện diện thường xuyên của thánh, bởi lẽ thánh là siêu trần nhưng vẫn hiện thực. Thánh có ở khắp nơi: ở chỗ đương thời, ở hôm qua và ngày mai, giữa thanh thiên bạch nhật hay trong đêm trường tăm tối, đều có thể tìm đến thánh. Tìm đến thánh nhưng chính là để hoàn thiện bản thân mình, bởi chữ Thánh còn mang ý nghĩa tôn vinh, để chỉ vào một bậc tài năng xuất sắc, đạo.
đức cao cả. Nếu với thần linh, khi nhận thức của dân gian còn nhiều mơ hồ, chưa biết nguồn gốc, hành tung và cảm thấy không thể tiếp cận thì với Thánh, họ đã có thể lịch sử hoá vị thần được thờ, sự sáng tạo của bản thân giúp họ có. thể hình dung về vị thần đó một cách cụ thể hơn, theo ý mình mong muốn và tưởng tượng. Thánh có thẻ là nhân vật huyền thoại hoặc có thực.
Hình dung ra thánh, dân gian tưởng tượng về những con người trong cõi thiêng có nhiều công. lao đóng góp với trằn thế, từ những việc ích lợi cho làng xóm quê hương đến sự nghiệp chiến đấu cho cả dân tộc. Tiếp đó là tài năng, đức độ của các ngài. Dứt khoát họ đều là những tắm gương đẹp về sự công bằng chính trực, về sự chí nhân chí thiện.
Cách tưởng tượng của người dân về sự nghiệp và tài đức của các thánh là ở lối tư duy thực tiễn, không phải dựa trên một sự viễn vông nào. Tóm lại, từ một góc độ nhất định đẻ nhìn nhận thì Thánh và thờ Thánh chỉ là cách gọi đân gian để chỉ một biểu tượng, một sang tao ma ban chat vn la mot tín ngưỡng cô truyền của người Việt: tín ngưỡng thờ Thần. Tín ngưỡng thờ thần của người Việt Tín ngưỡng thờ thần là một tín ngưỡng rất phổ biến của người Việt Nam Nó xuất phát từ lòng tin là xung quanh người sống, cùng với thế giới hiện hữu. của chúng ta, có một thế giới vô hình, ở đó các thần linh khắp mọi nơi theo doi và phù trợ cho thế giới của người sống.
Tín ngưỡng thờ thần của người Việt, có nhiều cách phân loại, các học giả đã đưa ra những quan điểm khác nhau. Tác giả Nguyễn Duy Hinh trong “7ín ngưỡng thành hoàng Uiệt Nam” khi nghiên cứu về thần điện thành hoàng làng, căn cứ vào bản chất thần đã chia thành: 1. Sơn thần và Thủy thần tức thần sông núi (sơn xuyên) bao gồm núi, gò đồng, ao hồ có hiện tượng thiêng, kể cả rắn 2. Thần Đá, Cây, Rừng, Đắt (thé thin), ké cả Nð Nường.
Thiên là những nhân vật thần tiên không phải nhân vật lịch sử. Nhân thần là các nhân vật anh hùng lịch sử, những tiên hiền khai hoang lập ấp, tổ sư các nghề.107] Trong đó, Linh Lang được xếp vào nhóm Thủy thần, mà ở đây cụ thể là thần Ran. Than Ran là một mô típ thủy thần quan trọng nhất trong thần điện thành hoàng của người Việt. Linh Lang được xem là vị thần Rắn nhiều ý nghĩa nhất.
Tác giả còn khẳng định cội nguồn, dạng sớm nhất cổ xưa nhất của thành. hoàng làng là Rắn. Hình tượng Rắn đã gặp nhiều trong tư liệu khảo cổ học lại được thê hiện trong thần thoại thành hoàng một cách sâu đậm. Do tính chất vô cùng phong phú và phức tạp của tín ngưỡng nên nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Duy, trong cuốn “Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam ”, đã phân loại theo mức độ thờ cúng thần: + Thần ở cấp độ gia đình xóm ngõ + Thần ở cấp độ làng ấp + Thần ở cấp độ nước Tín ngưỡng thờ Thân đã thể hiện rất rõ mô hình văn hóa Việt Nam: Nhà - Làng - Nước, trở thành: thần Nhà, thần Làng, thằn Nước.
Trong đó, đội ngũ thần ở các làng ấp lại vô cùng phong phú, có thể phân ra như sau: 1. Thần từ thời nguyên thủy còn bảo lưu lại - Thần là các hiện tượng tự nhiên: như thần ánh sáng, hệ thống thần Tứ pháp (mây, mưa, sắm, chớp), thần tỉnh tú (Nam Tào, Bắc Đâu.) ~ Thần là các đối tượng tự nhiên: + Thần núi + Thủy thần + Thần cây - Thần từ cầu mong sinh sôi nảy nở. Thần thời phong kiến - Than là những vị có công dựng nước, giữ nước ~ Thần là những vị tụ dân khai phá lập làng ~ Thần là những vị mở mang dân trí [14, tr.81] Với cách phân loại này, Linh Lang cũng được xếp vào nhóm Thủy thần Theo nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh, trong “?ín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam " đã kể ra các hình thái tin ngưỡng được phân loại sau: 1. Thờ Tổ tiên 2.
Thờ Thành hoàng làng 3. Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần 5. Tín ngưỡng thờ Chử Đạo Tổ 6. Một số tín ngưỡng nghề nghiệp: thờ Tứ Pháp (cầu mưa), tín ngưỡng, phòn thực, Thánh sư, thờ Cá Ông.36] Trong tín ngưỡng thờ thành hoàng, qua khảo sát người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, tác giả lại phân chia thành ba loại + Thành hoàng có nguồn gốc Thiên thần: Gồm thần Hào Quang, Tứ pháp, một số tinh tú, các vị tiên, thần linh trong.
Đạo giáo + Thành hoàng có nguồn gốc Nhiên thần: Gồm Thành hoàng là Sơn thần, Thành hoàng có nguồn gốc Thủy thần, Thành hoàng có nguồn gốc Thổ thần, Thành hoàng là Cây. + Thành hoàng có nguồn gốc Nhân thần: Gồm các nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa, người khai phá lập làng, hiền sĩ có công mở mang dân trí, người ngoại bang, người chết vào giờ thiêng. 'Về các vị thành hoàng có nguồn gốc thủy thần, có vị là thủy thần rõ rệt nhưng cũng không ít vị đã nhân thần hóa, nhân vật hóa trở thành các vị thần có tên tuổi, gốc tích là các nhân vật lịch sử. Các vị cũng tùy theo từng địa phương mà mang các danh thần khác nhau: thần biển như Nam Hai Dai Vuong Bat Hai Đại Vương; thần sông, hồ đầm như Tam Giang, Trương Hồng - Trương Hát, Linh Lang.
Các thủy thần thường mang dạng rắn, cá, rồng, baba.