CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Nghĩa của từ và hiện tượng đồng nghĩa 1. Nghĩa của từ 1. Từ tiếng Việt F.
Saussre nhận xét: “…Ngôn ngữ có tính chất kỳ lạ và đáng kinh ngạc là không có những thực thể thoạt nhìn có thể thấy ngay được, thế nhưng người ta vẫn biết chắc là nó tồn tại, chính sự giao lưu giữa những thực thể đó tạo thành ngôn ngữ”, trong số những thực thể đó có cái mà ngôn ngữ học vẫn gọi là từ [24, tr. Định nghĩa phổ biến hiện nay được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ cho là phù hợp với từ như sau: “Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định, dùng để đặt câu” [6, tr. Từ tiếng Việt là một đơn vị thuộc hệ thống các đơn vị ngôn ngữ tiếng Việt. Qua các công trình khảo sát về từ tiếng Việt, chúng tôi thấy có một số nhận định về đặc điểm của từ được nhiều người đồng tình như sau: - Từ tiếng Việt không biến đổi về hình thức ngữ âm theo các nghĩa tương liên trong câu.
- Ranh giới hình vị trùng với ranh giới âm tiết nên hình thức ngữ âm chuẩn của từ tiếng Việt được hiện thực hóa bằng những dấu hiệu ngoài từ. - Các đặc điểm nói trên có quan hệ trực tiếp đến từ ngữ nghĩa được hiện thực hóa trong tâm thức người Việt. - Dấu hiệu đặc trưng của từ là tính hệ thống, hoàn chỉnh, có thể phân chia thành các bộ phận và có khả năng tái hiện dễ dàng trong lời nói. [8] Từ những đặc điểm trên của từ tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu đã rút ra định nghĩa: “Từ của tiếng Việt là một số âm tiết cố định, bất biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc kiểu) cấu tạo nhất định, tuân 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com theo những đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu” [6, tr.
Nghĩa của từ Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là “phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người” (V. Xét về mặt lý thuyết, ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu, mỗi ký hiệu ngôn ngữ bao giờ cũng gồm hai mặt: âm và nghĩa. Hai mặt này gắn kết với nhau, không tách rời, có cái nọ thì phải có cái kia, giống như “hai mặt của một tờ giấy” vậy. Ý nghĩa của từ cùng với hình thức âm thanh được hình thành và ổn định dần dần trong lịch sử phát triển ngôn ngữ.
Và chúng được từng cá nhân lĩnh hội, tích lũy và sử dụng trong hoạt động giao tiếp. Theo Hoàng Phê, nghĩa của từ là “một tập hợp những nét nghĩa có quan hệ quy định lẫn nhau,v. Mỗi nghĩa từ là một tổ hợp đặc biệt những thành tố ngữ nghĩa, gọi là các nét nghĩa” (dẫn theo [21]). “Ý nghĩa của từ vừa là cái riêng cho từng từ, vừa là cái chung cho những từ cùng loại.
Nắm được cái chung, cái riêng trong ý nghĩa thì mới thực sự hiểu từ, thực sự hiểu được những cái tinh tế trong từ và mới hiểu được những đặc sắc của từng ngôn ngữ ở phương diện nội dung” [21]. Nghĩa của từ, ở mức khái quát được gọi là nghĩa từ vựng hay ý nghĩa từ vựng. Trong cấu trúc của nghĩa từ vựng có các thành phần nghĩa sau: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thái. Ý nghĩa biểu vật của từ là nghĩa ứng với sự vật hiện tượng, trạng thái tính chất được từ gọi tên.
Ý nghĩa biểu vật quy định phạm vi sự vật mà từ dùng để biểu hiện. Có những từ có ý nghĩa biểu vật hẹp, chỉ ứng với một sự vật hiện tượng duy nhất trong thực tế; ví dụ như từ “nhai” dùng để chỉ hoạt động của miệng người. Song có những từ mà ý nghĩa biểu vật có tính chất khái quát cao, bao hàm một phạm vi sự vật rộng lớn, ví dụ như từ “thành thị” chỉ các thành phố lớn nói chung. Có những từ lại có nhiều nghĩa biểu vật, nghĩa là từ 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đó ứng với nhiều loại ý nghĩa biểu vật trong hiện thực khách quan: ví dụ, “mắt cá” chỉ một bộ phận của con cá đồng thời cũng chỉ một bộ phận trên cơ thể con người.
Ý nghĩa biểu vật xuất phát từ sự phản ánh sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan vào ngôn ngữ, nên sự vật hiện tượng là cơ sở nguồn gốc của ý nghĩa biểu vật. Nghĩa biểu niệm (hay nghĩa sở biểu) là thành phần cơ bản của ý nghĩa từ vựng. Sự vật hiện tượng trong thực tế khách quan được phản ánh vào ngôn ngữ thành ý nghĩa biểu vật và từ có ý nghĩa biểu vật thì sẽ có ý nghĩa biểu niệm tương ứng. Ý nghĩa biểu niệm là những hiểu biết mà từ gợi ra về các sự vật hiện tượng, hoạt động, trạng thái, tính chất.
Những hiểu biết này bao gồm những hiểu biết về thuộc tính, đối tượng, tổng hợp tất cả các thuộc tính đó tạo thành nội dung khái niệm. Mỗi thuộc tính đó được phản ánh trong nghĩa biểu niệm của từ thành một nét nghĩa. Và mỗi nét nghĩa như vậy có thể có mặt trong ý nghĩa biểu niệm của các từ. Ví dụ, các từ “anh”, “em”, “chị” cùng có chung một nét nghĩa là cùng chỉ những người cùng bố mẹ với mình nhưng ngoài ra mỗi từ lại có một nét nghĩa riêng biệt nữa.
Ý nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định. Giữa các nét nghĩa lại có quan hệ với nhau. Nghĩa biểu thái “là một phạm trù rất rộng bao gồm mọi đặc tính khác nhau của từ cần yếu về mặt ngữ nghĩa” [2, tr. Đó là các đặc tính về sắc thái nghĩa như: phương ngữ/ toàn dân, khẩu ngữ/ văn chương, cũ/ mới, thông tục/ trang trọng, v.
Việc xác định các thành phần này không đơn giản vì không có đủ tiêu chuẩn chặt chẽ để phân loại, và vì tất cả các từ có thể thay đổi sắc thái của chúng một cách nhanh chóng. Nhiều nhà nghiên cứu căn cứ vào những vấn đề liên quan đến nghĩa từ để nhận diện từ đồng nghĩa. Alechsandrova đã nêu ra thủ pháp nhận diện từ đồng nghĩa như sau: “chỉ những đơn vị từ vựng nào được sử dụng ở ý nghĩa trùng nhau ít nhất trong một kết cấu chung 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và có khả năng kết hợp trùng nhau một phần mới có thể được thừa nhận là thay thể được lẫn nhau và do đó là đồng nghĩa” (dẫn theo [35]). Còn trong cuốn Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Nga, tác giả đã “cố gắng đưa vào các dãy đồng nghĩa những từ biểu thị một khái niệm và dựa vào sự có thể thay thế giữa từ đầu mục của dãy và từ đồng nghĩa trong ngữ cảnh đồng nhất” (dẫn theo [35]).
Nét nghĩa Nét nghĩa (semantic feature) “là những yếu tố ngữ nghĩa chung cho nghĩa của các từ thuộc cùng một nhóm từ, hoặc riêng cho nghĩa của một từ, đối lập với nghĩa của những từ khác trong cùng một nhóm. Nét nghĩa được diễn đạt bằng từ (hoặc tổ hợp từ)” [20, tr. Ví dụ (trích dẫn theo Hoàng Phê), nghĩa của hai từ vợ và chồng có yếu tố ngữ nghĩa chung là “nói trong mối quan hệ với người đã kết hôn với mình”. Khi đem đối lập với nhau thì vợ và chồng lại có thể phân tích ra thành những thành tố ngữ nghĩa “phụ nữ”, “đàn ông”, “đã kết hôn”.
- vợ: “phụ nữ” – “đã kết hôn” – “nói trong mối quan hệ với chồng”. - chồng: “đàn ông” – “đã kết hôn” – “nói trong mối quan hệ với vợ”. Có thể thấy, các thành tố nghĩa “đã kết hôn”, “ nói trong mối quan hệ với người đã kết hôn với mình” là những nét nghĩa chung cho cả vợ và chồng. Còn thành tố nghĩa “phụ nữ” là nét nghĩa riêng cho từ vợ và thành tố nghĩa “đàn ông” là nét nghĩa riêng cho từ chồng.
Bản thân mỗi nét nghĩa, đến lượt chúng, cũng có thể coi như là một nghĩa, và có thể phân tích thành những nét nghĩa nhỏ hơn. Trên lý thuyết, sự phân tích có thể tiếp tục cho đến khi đạt đến những thành tố ngữ nghĩa cơ bản không còn có thể phân tích được nữa (được gọi là nghĩa vị) [20, tr. Trong Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, các tác giả đồng nhất nghĩa vị với nét nghĩa và cho rằng: “Nghĩa vị biểu hiện mặt nội dung của đơn vị ngôn ngữ ở bình diện giao tiếp. Một từ có thể có một nghĩa vị - đó là các từ đơn nghĩa; 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoặc một vài nghĩa vị - đó là các từ đa nghĩa” (dẫn theo [47]).
Như vậy, một từ đa nghĩa thì nét nghĩa sẽ nhiều hơn từ đơn nghĩa. Để một từ có thể được sắp xếp vào một nhóm nào đó, từ đó phải có đặc điểm chung nào đó với các từ trong nhóm. Đặc điểm này chính là nét nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu niệm của từ. Đỗ Việt Hùng cho rằng: “Nét nghĩa là những phần nghĩa thể hiện thuộc tính sự vật mà từ biểu thị, dựa vào đó mà từ có thể thuộc vào một trong các nhóm từ vựng ngữ nghĩa được phân chia theo chủ đề” [12, tr.
Đây cũng chính là cơ chế xác định các dãy đồng nghĩa trong hệ thống từ vựng của ngôn ngữ. Tức là, hiện tượng đồng nghĩa là hiện tượng có nhiều mức độ tùy theo số lượng các nét nghĩa chung trong các từ. Mức độ đồng nghĩa thấp nhất khi các từ chỉ có chung một nét nghĩa đồng nhất. Số lượng các nét nghĩa đồng nhất tăng lên thì mức độ đồng nghĩa giữa các từ với nhau càng cao.
Mức độ đồng nghĩa cao nhất xảy ra khi các từ đó có tất cả các nét nghĩa hoặc đại bộ phận các nét nghĩa trùng nhau, chỉ khác một hoặc một vài nét nghĩa cụ thể nào đó. Trường nghĩa 1. Khái niệm trường nghĩa Lý thuyết về trường nghĩa đã được các nhà ngôn ngữ học đề cập đến từ rất sớm. Những ý tưởng về mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ trong ngôn ngữ đã được nhà bác học người Nga M.
Pokrovxki viết vào năm 1896: “Từ và ý nghĩa của chúng không tồn tại tách rời nhau mà liên kết với nhau trong tư tưởng của chúng ta và độc lập với ý thức của chúng ta thành những nhóm nhất định. Cơ sở để tập hợp những nhóm như vậy là sự đồng nhất hay trái ngược trực tiếp giữa chúng về ý nghĩa” (dẫn theo [35]).