Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành Phát triển nông thôn của tác giả Phạm Thị Yến (Khoa Kinh tế, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, năm 2007) được thực hiện trong bối cảnh tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra nhanh chóng tại tỉnh Bình Dương. Địa bàn nghiên cứu là Thị trấn Dĩ An, huyện Dĩ An – nơi giữ vai trò trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện và là cửa ngõ giao thương quan trọng thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Sự hình thành và hoạt động hiệu quả của các cụm, khu công nghiệp tập trung (điển hình là Khu công nghiệp Sóng Thần I và Sóng Thần II) đã thúc đẩy kinh tế chuyển dịch mạnh mẽ sang công nghiệp, thương mại và dịch vụ, đồng thời thu hút lượng lớn lao động nhập cư. Tuy nhiên, sự phát triển này đi kèm với mật độ dân cư gia tăng đột biến, hạ tầng kỹ thuật đô thị chưa theo kịp, dẫn đến sức ép nghiêm trọng lên môi trường sống, đặc biệt là nguồn tài nguyên nước và điều kiện vệ sinh nước sinh hoạt của cư dân địa phương.

Về phương diện lý luận và thực tiễn diện rộng, tác giả dẫn báo cáo của Liên Hiệp Quốc (công bố ngày 05/03/2003 tại Diễn đàn thế giới lần thứ 3 về nước tại Kyoto, Nhật Bản) cho thấy nguy cơ toàn cầu có thể mất 1/3 nguồn nước sạch trong vòng 20 năm do bùng nổ dân số và ô nhiễm môi trường, hiện có khoảng 12.000 km³ nước sạch bị ô nhiễm và hơn 2,2 triệu người tử vong mỗi năm do các bệnh liên quan đến nguồn nước cùng điều kiện vệ sinh kém. Tại Việt Nam, tài nguyên nước mặt tuy chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy sông ngòi thế giới nhưng phân bố không đều theo không gian, thời gian và phụ thuộc tới 60% vào lượng nước sinh ra ngoài biên giới (trong đó lưu vực sông Mê Kông chiếm 447 km³, tương đương 88%). Tại địa bàn Thị trấn Dĩ An, mạng lưới sông suối tự nhiên hầu như không có, nguồn nước sinh hoạt và sản xuất phụ thuộc gần như hoàn toàn vào tầng nước ngầm, trong khi hệ thống cấp nước sạch đô thị chưa phủ kín và công tác quản lý khai thác còn nhiều bất cập.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định và đánh số theo văn bản như sau:

  1. Tìm hiểu hiện trạng nguồn nước và tình hình sử dụng nước trong sinh hoạt của các hộ dân trên địa bàn Thị trấn Dĩ An.
  2. Xác định những nhân tố ảnh hưởng đến tình hình sử dụng nước.
  3. Tìm hiểu nhận thức và nguyện vọng của người dân về nguồn nước sạch.
  4. Đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình hình cung cấp và sử dụng nước sinh hoạt cũng như ý thức bảo vệ tài nguyên nước của người dân.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tình hình khai thác, chi phí, lượng dùng nước sinh hoạt, nhận thức về nước sạch và các yếu tố kinh tế - xã hội chi phối hành vi sử dụng nước của hộ gia đình.
  • Phạm vi không gian: 7 khu phố trực thuộc Thị trấn Dĩ An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương (gồm các khu phố: Nhị Đồng, Thắng Lợi 1, Thắng Lợi 2, Bình Minh 1, Bình Minh 2, Thống Nhất và Đông Tân).
  • Phạm vi thời gian: Số liệu điều tra sơ cấp được thu thập vào năm 2007; số liệu thứ cấp thu thập qua các báo cáo thống kê, tài liệu ban ngành trong giai đoạn từ năm 2000 đến 6 tháng đầu năm 2007.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và văn bản quy phạm áp dụng

Khóa luận xây dựng hệ thống khái niệm và cơ sở khoa học dựa trên các tài liệu chuyên ngành về khoa học môi trường và công nghệ xử lý nước:

  • Khái niệm nước sạch: Dựa trên định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1984), nước sạch là nước không màu, không mùi, không vị, không chứa các chất hòa tan và vi khuẩn vượt quá giới hạn cho phép, tuyệt đối không có vi sinh vật gây bệnh.
  • Khung tiêu chuẩn kỹ thuật: Tác giả áp dụng Tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống ban hành kèm theo Quyết định số 1329/2002/BYT-QĐ ngày 18/04/2002 của Bộ Y tế. Văn bản này quy định 112 chỉ tiêu chia làm 5 nhóm (Cảm quan và thành phần vô cơ: 32 chỉ tiêu; Các chất hữu cơ: 26 chỉ tiêu; Hóa chất bảo vệ thực vật: 33 chỉ tiêu; Hóa chất khử trùng và sản phẩm phụ: 17 chỉ tiêu; Mức nhiễm xạ và vi sinh vật: 4 chỉ tiêu). Trong đó, khóa luận viện dẫn chi tiết 15 chỉ tiêu kiểm tra thường xuyên thuộc cấp độ giám sát A (như Độ màu ≤ 15 TCU, pH 6,5 - 8,5, Clo dư 0,3 - 0,5 mg/l, Độ đục ≤ 2 NTU, Độ cứng CaCO₃ ≤ 300 mg/l, Hàm lượng Sắt ≤ 0,5 mg/l, Coliform tổng số = 0, E. coli = 0).
  • Lý thuyết ô nhiễm nước và đặc trưng nguồn nước: Phân tích đặc tính tài nguyên nước mặt và nước ngầm. Nước ngầm ít cặn lơ lửng nhưng chứa nhiều khoáng chất hòa tan, dòng chảy chậm (không có dòng chảy rối) nên khi nhiễm bẩn các chất ô nhiễm không thể pha loãng, phân tán hay tự làm sạch nhanh chóng như nước mặt. Tác giả cũng phân loại các tác nhân gây ô nhiễm: kim loại nặng (As, Pb, Cr, Cd, Hg...), anion (CN⁻, NO₃⁻, SO₄²⁻), vi sinh vật gây bệnh, các chất hữu cơ tổng hợp (như hoạt chất TBS - Tetrazopylene benzen sulfonate trong bột giặt anionic không bị phân hủy sinh học, xà phòng).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận định lượng kết hợp định tính trong phát triển nông thôn và kinh tế tài nguyên:

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập tài liệu, báo cáo kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch cấp thoát nước và số liệu y tế từ UBND Thị trấn Dĩ An, Phòng Kinh tế huyện Dĩ An, Trung tâm Y tế dự phòng huyện Dĩ An và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương.
  • Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Tiến hành điều tra chọn mẫu trực tiếp thông qua phỏng vấn 100 hộ gia đình tại 7 khu phố trên địa bàn thị trấn bằng bảng hỏi soạn sẵn (Phiếu điều tra gồm 3 phần: Thông tin người phỏng vấn, Thông tin nhân khẩu - kinh tế hộ, Thông tin tình hình sử dụng nước sinh hoạt).
  • Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để mã hóa, làm sạch, tổng hợp dữ liệu, thống kê mô tả, phân tích tần số, tỷ lệ phần trăm và thiết lập bảng chéo (cross-tabulation) nhằm tìm hiểu mối liên hệ giữa các biến số (mức thu nhập, nhận định chất lượng nước với nhu cầu sử dụng nước máy).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Đặt vấn đề

Chương này thiết lập tính cấp thiết của đề tài, nêu bật vai trò sinh tồn của nước đối với sự phát triển văn minh nhân loại, dẫn chứng các nền văn minh lớn hình thành bên các lưu vực sông (Tigre - Euphrate, sông Nil, sông Hằng, Hoàng Hà, sông Hồng). Tác giả đối chiếu thách thức an ninh nguồn nước toàn cầu với hiện trạng tài nguyên nước mặt của Việt Nam, đồng thời chỉ ra tính chất đặc thù của huyện Dĩ An và Thị trấn Dĩ An: sự phát triển công nghiệp làm gia tăng mạnh mẽ nhu cầu dùng nước và lượng chất thải, trong khi nhận thức và hạ tầng còn hạn chế, tạo áp lực lớn lên nguồn nước ngầm. Chương 1 xác định rõ 4 mục tiêu nghiên cứu, phạm vi không gian tại 7 khu phố và bố cục gồm 5 chương của khóa luận.

Chương 2: Tổng quan địa bàn nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và thực trạng kinh tế - xã hội của Thị trấn Dĩ An:

  • Điều kiện tự nhiên: Diện tích tự nhiên đạt 1.043,47 ha (chiếm 17,36% diện tích toàn huyện). Địa hình bằng phẳng lượn sóng nhẹ, thấp dần từ Tây sang Đông với độ dốc 3 - 8°, độ cao trung bình 20 - 40 m. Khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhiệt độ trung bình 25,8°C – 26,9°C; độ ẩm trung bình 82%/năm; lượng mưa bình quân trên 1.700 mm/năm (phân bố chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm trên 90%); tổng số giờ nắng khoảng 2.800 giờ/năm.
  • Tài nguyên đất và nước: Tài nguyên đất gồm 2 nhóm chính: đất nâu vàng trên phù sa cổ (1.009,34 ha, chiếm 96,73%) và đất xám gley (34,13 ha, chiếm 3,27%). Về thủy văn, thị trấn hầu như không có sông suối; nguồn nước phụ thuộc vào nước ngầm thuộc hai tầng chứa nước: tầng trầm tích dọc sông Đồng Nai (lưu lượng 0,1 - 0,5 l/s) và tầng phù sa cổ (tầng khai thác chính của các công trình giếng khoan, lưu lượng 63 - 150 m³/h).
  • Kinh tế - xã hội: Năm 2005, kết dư ngân sách toàn thị trấn đạt trên 2 tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Thương mại - Dịch vụ - Nông nghiệp. Trên địa bàn có 2 KCN lớn (Sóng Thần I và Sóng Thần II) với 225 công ty, xí nghiệp hoạt động năm 2005. Lĩnh vực dịch vụ phát triển mạnh, đặc biệt có 1.251 hộ kinh doanh và 1.275 dãy phòng trọ với hơn 35.655 người thuê trọ. Dân số năm 2005 là 21.236 người thường trú (tính cả dân số tạm trú đô thị lên tới 63.531 người), tỷ lệ gia tăng dân số 4,07% (trong đó tăng cơ học chiếm 2,97%). Đất nông nghiệp năm 2006 chỉ còn 105,73 ha (10,13%), trong khi đất phi nông nghiệp chiếm 937,74 ha (89,87%).

Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này trình bày cơ sở lý luận về nước sạch theo khuyến cáo của WHO và Quyết định 1329/2002/BYT-QĐ của Bộ Y tế; làm rõ bản chất các dạng ô nhiễm nước (vật lý, hóa học, sinh học) và các vấn đề tài nguyên nước như hạn hán, lũ lụt, úng nước, ô nhiễm nguồn nước ngọt. Tác giả trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu thứ cấp qua ban ngành và số liệu sơ cấp qua mẫu điều tra 100 hộ dân tại 7 khu phố bằng bảng hỏi cấu trúc, kết hợp kỹ thuật thống kê mô tả và phân tích định lượng trên phần mềm Excel.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 tập trung phân tích khối lượng dữ liệu điều tra thực tế, làm rõ các khía cạnh kinh tế, xã hội, kỹ thuật và môi trường liên quan đến nước sinh hoạt:

  • Đặc trưng nhóm hộ điều tra (n = 100 hộ, 424 nhân khẩu):
    • Quy mô hộ: Nhóm hộ 4 - 5 người chiếm tỷ lệ cao nhất (47%), hộ 1 - 3 người chiếm 35%, hộ 6 - 9 người chiếm 15% và hộ trên 9 người chiếm 3%.
    • Trình độ học vấn: Cấp 2 chiếm 36,08%, cấp 3 chiếm 29,25%, cấp 1 chiếm 17,92%, trên cấp 3 chiếm 8,25%, trên đại học chiếm 0,24% và chưa đi học chiếm 8,25% (địa phương không có người mù chữ).
    • Độ tuổi và nghề nghiệp: Lao động trong độ tuổi chiếm 59,91% (254 người), học sinh - sinh viên chiếm 24,29%. Về cơ cấu nghề nghiệp của 254 lao động: công nhân chiếm đa số với 42,13% (107 người), lao động tự do chiếm 26,77%, buôn bán chiếm 12,99%, thất nghiệp chiếm 12,20%, công chức chiếm 5,91% và không có người làm nông nghiệp.
    • Thu nhập và chi tiêu: Thu nhập bình quân đầu người toàn thị trấn đạt 1.020.000 đồng/người/tháng, chi tiêu bình quân là 663.000 đồng/người/tháng. Hộ có dịch vụ phòng trọ đạt thu nhập bình quân khoảng 2.065.000 đồng/hộ/tháng.
Thu nhập và chi tiêu bình quân phân theo khu phố (ĐVT: 1.000 đồng/người/tháng):
- Khu phố Nhị Đồng:    Thu 962  | Chi 616 | Thu thuần: 346
- KP Thắng Lợi 1:      Thu 1.051| Chi 670 | Thu thuần: 381
- KP Thắng Lợi 2:      Thu 998  | Chi 642 | Thu thuần: 356
- KP Bình Minh 1:      Thu 1.089| Chi 700 | Thu thuần: 389
- KP Bình Minh 2:      Thu 926  | Chi 666 | Thu thuần: 260
- KP Thống Nhất:       Thu 1.209| Chi 697 | Thu thuần: 512
- KP Đông Tân:         Thu 903  | Chi 651 | Thu thuần: 252
- Mức trung bình:      Thu 1.020| Chi 663 | Thu thuần: 357
  • Hiện trạng khai thác và sử dụng nguồn nước:
    • Nguồn nước sử dụng: Trong 100 hộ điều tra, có tới 92 hộ (92%) sử dụng nước giếng ngầm (khoan/đào). Chỉ có 8 hộ (8%) sử dụng nước máy do Nhà máy nước An Phú cung cấp, tập trung ở mặt tiền các trục lộ chính (KP Bình Minh 1 có 5 hộ, KP Thống Nhất có 3 hộ). Toàn bộ 5 khu phố còn lại (Nhị Đồng, Thắng Lợi 1, Thắng Lợi 2, Bình Minh 2, Đông Tân) tỷ lệ dùng nước máy là 0%. Không có hộ nào dùng nước mặt hay nước mưa.
    • Lượng nước sử dụng: Bình quân toàn thị trấn là 237 lít/người/ngày (cao nhất là KP Bình Minh 2 đạt 275 lít/người/ngày; thấp nhất là KP Đông Tân đạt 187 lít/người/ngày).
    • Chi phí dùng nước: Hộ dùng nước giếng chỉ tốn tiền điện bơm nước ước tính 3.500 đồng/người/tháng (chiếm 0,34% tổng chi tiêu). Hộ dùng nước máy trả theo giá 3.000 đồng/m³ và phí thuê bao 7.000 đồng/tháng/hộ, bình quân chi phí là 24.050 đồng/người/tháng (chiếm 1,44% tổng chi tiêu).
    • Chi phí đầu tư ban đầu: Hộ dùng nước giếng tốn bình quân 2.500.000 đồng/hộ (khoan giếng: 1.200.000 đồng; máy bơm: 600.000 đồng; bồn chứa: 500.000 đồng; bình lọc: 200.000 đồng). Đối với nước máy, chi phí lắp đặt đồng hồ và ống dẫn cho hộ mặt đường là 985.000 đồng/hộ, nhưng đối với hộ nằm sâu trong hẻm chi phí này vượt mức 2.000.000 đồng/hộ.
Chỉ tiêu so sánh Hộ sử dụng nước giếng Hộ sử dụng nước máy
Tỷ lệ hộ sử dụng 92% (92 hộ) 8% (8 hộ)
Chi phí đầu tư ban đầu 2.500.000 đồng/hộ 985.000 đồng/hộ (mặt tiền) đến >2.000.000 đồng/hộ (hẻm sâu)
Chi phí hàng tháng/người Khoảng 3.500 đồng/người/tháng Khoảng 24.050 đồng/người/tháng
Tỷ trọng trong chi tiêu 0,34% 1,44%
  • Nhận thức và nhu cầu chuyển đổi sang nước máy của 92 hộ dùng giếng:
    • Nhận thức: 70,65% hiểu nước sạch đơn thuần là "trong, không mùi, không phèn"; 11,96% không biết; 9,78% cho rằng nước đã qua lọc; 5,43% cho rằng đã qua hóa chất; chỉ 2,17% nhận thức nước sạch phải qua xét nghiệm.
    • Xử lý nước ăn uống: 71,74% hộ không xử lý gì (sử dụng trực tiếp nước giếng để ăn uống); 25,00% dùng bình lọc; 3,26% mua nước bình.
    • Nhu cầu nước máy: Có 51 hộ (55,43%) có nhu cầu chuyển sang nước máy; 41 hộ (44,57%) không muốn chuyển do tâm lý tiếc vốn đầu tư giếng khoan ban đầu và nhận thức nước giếng vẫn còn "trong, ngọt". Phân tích chéo cho thấy mức thu nhập tỷ lệ thuận với nhu cầu nước sạch: nhóm thu nhập <0,8 triệu đồng/tháng chỉ có 30,77% muốn dùng nước máy, trong khi nhóm thu nhập >1,5 triệu đồng/tháng có tỷ lệ 100%.
Mức thu nhập bình quân (triệu đồng/người/tháng) Tổng số hộ khảo sát Có nhu cầu dùng nước máy (Số hộ - %) Không có nhu cầu (Số hộ - %)
< 0,8 26 8 (30,77%) 18 (69,23%)
> 0,8 – 1,0 26 12 (46,15%) 14 (53,85%)
> 1,0 – 1,2 18 13 (72,22%) 5 (27,78%)
> 1,2 – 1,5 15 11 (73,33%) 4 (26,67%)
> 1,5 – 2,0 4 4 (100,00%) 0 (0,00%)
> 2,0 3 3 (100,00%) 0 (0,00%)
Tổng cộng 92 51 (55,43%) 41 (44,57%)
  • Vấn đề môi trường, ô nhiễm và sức khỏe:
    • 100% hộ dân địa phương dùng hệ thống thoát nước dạng hầm tự hoại thấm vào lòng đất. Nước thải từ các lò mổ bò, cơ sở chế biến thực phẩm, luyện kim và hóa chất xả trực tiếp ra mương rãnh. Tuyến cống thoát nước Dĩ An – Truông Tre (KP Bình Minh 2) bị san lấp khiến nước ứ đọng, tràn mặt đường.
    • Quản lý nhà nước bị buông lỏng, hàng ngàn hộ và doanh nghiệp tự do khoan giếng khiến mực nước ngầm tại nhiều khu vực hạ thấp từ 40 - 46 m so với trước đây.
    • Tình hình bệnh tật: Số liệu Trung tâm Y tế dự phòng huyện Dĩ An ghi nhận trong 6 tháng đầu năm 2007 có 138 ca mắc các bệnh liên quan đến nguồn nước:
Tên nhóm bệnh liên quan đến nguồn nước Số người nhiễm (ca) Tỷ lệ (%)
Bệnh về đường tiêu hóa 52 37,68%
Viêm da 34 24,64%
Đau mắt 29 21,01%
Bệnh phụ khoa 23 16,67%
Tổng cộng 138 100,00%

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Chương cuối tóm tắt toàn bộ phát hiện thực tế: nguồn nước ngầm đang chịu nguy cơ ô nhiễm nặng do chất thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt; tỷ lệ sử dụng nước máy quá thấp (8%); lượng nước dùng hàng ngày rất lãng phí (237 lít/người/ngày so với định mức 100 lít ở thành thị và 20 lít ở nông thôn). Từ đó, tác giả đưa ra các kiến nghị mang tính hệ thống đối với chính quyền cấp tỉnh/huyện, UBND thị trấn và người dân địa phương.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Xác lập bức tranh thực trạng sử dụng nước: Đến giữa năm 2007, 92% hộ dân tại thị trấn công nghiệp Dĩ An vẫn sử dụng nước ngầm tự khai thác, mạng lưới nước máy đô thị mới chỉ phục vụ được 8% số hộ ở mặt tiền đường lớn.
  • Đo lường mức độ lãng phí tài nguyên: Lượng nước sinh hoạt sử dụng trung bình đạt 237 lít/người/ngày, cao hơn rất nhiều so với định mức sinh hoạt tiêu chuẩn của đô thị Việt Nam thời điểm đó (khoảng 100 lít/người/ngày).
  • Chỉ ra rào cản chuyển đổi: Rào cản không chỉ nằm ở mạng lưới đường ống chưa phủ kín, mà còn do chi phí đấu nối vào ngõ hẻm quá cao (>2.000.000 đồng/hộ), sự chênh lệch chi phí vận hành (dùng nước máy tốn 24.050 đồng/tháng so với 3.500 đồng tiền điện bơm nước giếng) và nhận thức cảm quan sai lệch của 70,65% người dân về khái niệm "nước sạch".
  • Ghi nhận hiện trạng suy giảm và ô nhiễm tài nguyên: Mực nước ngầm tụt giảm 40 - 46 m; ghi nhận 138 ca mắc bệnh dịch tễ trong 6 tháng đầu năm 2007 do điều kiện vệ sinh nguồn nước.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

Khóa luận phân chia hệ thống giải pháp thành hai nhóm chính:

  • Nhóm giải pháp tổ chức, quản lý:
    • Đối với chính quyền địa phương: Đẩy nhanh tiến độ thi công 4 công trình cấp nước sạch năm 2007 (chiều dài 12.500 m) của Công ty Cấp thoát nước Môi trường tỉnh Bình Dương; xây dựng cơ chế cho hộ nghèo, hộ ở xa trục lộ vay vốn ưu đãi để lắp đặt đường ống dẫn nước vào nhà; nạo vét khơi thông hệ thống thoát nước Dĩ An – Truông Tre dẫn về suối Nhum; tiến hành kiểm tra định kỳ hàng quý các cơ sở sản xuất kinh doanh xả thải; giao Trưởng khu phố giám sát việc khoan giếng và lập hộp thư tiếp nhận phản ánh ô nhiễm từ nhân dân.
    • Đối với công tác quản lý tài nguyên: Thực hiện nghiêm chủ trương của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh: hạn chế cấp mới, dừng gia hạn giấy phép khai thác nước ngầm đối với cơ sở kinh doanh, quy định nghĩa vụ nộp thuế tài nguyên nước; di dời các cơ sở gây ô nhiễm xen cài trong khu dân cư vào các khu công nghiệp tập trung có trạm xử lý nước thải.
    • Đối với người dân: Tự giác khai báo việc khoan giếng; giữ khoảng cách an toàn giữa miệng giếng với nhà tiêu, hố rác; làm bể lọc cát sỏi sơ bộ và bắt buộc đun sôi nước trước khi uống; nâng cao ý thức giữ gìn vệ sinh chung.
  • Nhóm giải pháp quản trị tài nguyên nước:
    • Trong công nghiệp: Khuyến khích doanh nghiệp chuyển sang công nghệ quy trình khô; áp dụng chu trình tuần hoàn cấp nước khép kín (nước thải sau xử lý của nhà máy này tái sử dụng cho nhà máy khác).
    • Trong sinh hoạt: Giảm thất thoát nước (thường chiếm 20 - 35% do rò rỉ đường ống, vòi nước hỏng) bằng cách gắn đồng hồ đo nước tại từng hộ gia đình, thúc đẩy hành vi tiết kiệm chi phí để giảm 1/3 lượng nước hoang phí.

Đóng góp của đề tài

Khóa luận đã cung cấp một bộ dữ liệu điều tra thực địa có giá trị khoa học về mối liên hệ tương quan giữa điều kiện kinh tế hộ, rào cản chi phí và hành vi khai thác tài nguyên nước tại một vùng chuyển đổi kinh tế nông thôn sang đô thị - công nghiệp. Nghiên cứu chỉ ra nghịch lý: địa bàn có tốc độ công nghiệp hóa hàng đầu nhưng phương thức cấp nước sinh hoạt vẫn ở mức tự cấp tự túc lạc hậu, từ đó cung cấp căn cứ thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách cấp huyện và tỉnh Bình Dương trong việc quy hoạch hạ tầng cấp thoát nước đô thị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế được tác giả đề cập: Do giới hạn về thời gian thực tập tốt nghiệp, kinh phí và năng lực của sinh viên đại học, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở quy mô mẫu điều tra 100 hộ dân trên 7 khu phố. Việc đánh giá chất lượng nguồn nước giếng chủ yếu dựa trên nhận thức cảm quan của người dân và các báo cáo dịch tễ thứ cấp tổng hợp từ Trung tâm Y tế dự phòng huyện, chưa thực hiện được các xét nghiệm phân tích mẫu nước độc lập tại phòng thí nghiệm về các chỉ tiêu lý - hóa - vi sinh theo Quyết định 1329/2002/BYT-QĐ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Cần mở rộng phạm vi khảo sát với quy mô mẫu lớn hơn; thực hiện lấy mẫu nước ngầm đại diện tại từng khu phố để phân tích định lượng hàm lượng kim loại nặng (sắt, chì, asen), chỉ số amoni, nitrit và vi sinh vật; đánh giá tác động lâu dài của việc sụt lún địa tầng do suy thoái tầng nước ngầm và ảnh hưởng của nước thải công nghiệp ngấm sâu vào túi nước phù sa cổ Dĩ An.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên các ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế tài nguyên và môi trường, Quản lý đất đai và môi trường, Đô thị học, Y tế công cộng, cũng như cán bộ phụ trách địa chính - môi trường tại các xã, phường đang trong quá trình đô thị hóa nhanh.
  • Nội dung giá trị nhất:
    • Mẫu phiếu khảo sát cấu trúc hóa tình hình sử dụng nước sinh hoạt tại hộ gia đình (Phụ lục 1).
    • Phương pháp phân tích chéo giữa thu nhập bình quân và nhu cầu chuyển đổi công nghệ cấp nước.
    • Bộ dữ liệu định lượng về cơ cấu kinh tế, dân số biến động và thực trạng hạ tầng của thị trấn Dĩ An trong giai đoạn công nghiệp hóa bùng nổ năm 2006 - 2007.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước máy tại Thị trấn Dĩ An theo khảo sát năm 2007 là bao nhiêu?

Theo kết quả điều tra 100 hộ dân tại 7 khu phố, tỷ lệ hộ sử dụng nước máy chỉ đạt 8% (8 hộ), tập trung tại KP Bình Minh 1 (5 hộ) và KP Thống Nhất (3 hộ) trên các tuyến đường lớn. 92% số hộ còn lại (92 hộ) hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn nước giếng khoan và giếng đào.

2. Chi phí lắp đặt và sử dụng nước máy khác biệt như thế nào so với nước giếng?

Hộ dùng giếng khoan đầu tư ban đầu bình quân 2.500.000 đồng và chi phí tiền điện bơm nước chỉ khoảng 3.500 đồng/người/tháng (0,34% tổng chi tiêu). Trong khi đó, hộ dùng nước máy đầu tư lắp đặt từ 985.000 đồng (hộ mặt tiền) đến trên 2.000.000 đồng (hộ sâu trong hẻm) và chi trả tiền nước theo giá 3.000 đồng/m³ cùng phí thuê bao 7.000 đồng/tháng, bình quân tốn 24.050 đồng/người/tháng (1,44% tổng chi tiêu).

3. Mức tiêu thụ nước sinh hoạt bình quân của người dân thị trấn Dĩ An là bao nhiêu?

Mức tiêu thụ bình quân đạt 237 lít/người/ngày. Khu phố dùng nhiều nhất là Bình Minh 2 (275 lít/người/ngày), khu phố dùng ít nhất là Đông Tân (187 lít/người/ngày). Mức này cao gấp nhiều lần so với định mức chung ở nông thôn (khoảng 20 lít/người/ngày) và vượt tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt thành thị thông thường (khoảng 100 lít/người/ngày).

4. Tình trạng sụt giảm mực nước ngầm tại huyện Dĩ An được ghi nhận ở mức độ nào?

Theo số liệu quan trắc của cơ quan chức năng được trích dẫn trong khóa luận, mực nước ngầm tại nhiều khu vực trên địa bàn huyện Dĩ An đã bị hạ thấp từ 40 m đến 46 m so với cùng thời điểm của những năm trước đây do tình trạng khai thác tự phát, không phép của doanh nghiệp và nhân dân.

5. Số liệu thống kê y tế ghi nhận bao nhiêu ca bệnh liên quan đến nguồn nước trong 6 tháng đầu năm 2007?

Trung tâm Y tế dự phòng huyện Dĩ An ghi nhận 138 trường hợp mắc bệnh liên quan đến nguồn nước. Trong đó, bệnh về đường tiêu hóa chiếm tỷ lệ cao nhất với 52 ca (37,68%), tiếp theo là bệnh viêm da với 34 ca (24,64%), bệnh đau mắt với 29 ca (21,01%) và bệnh phụ khoa với 23 ca (16,67%).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Yến đã phản ánh toàn diện bức tranh tương phản giữa tốc độ phát triển công nghiệp mạnh mẽ và sự lạc hậu của hạ tầng cấp thoát nước sinh hoạt tại Thị trấn Dĩ An năm 2007. Bằng phương pháp điều tra xã hội học định lượng trên 100 hộ dân, công trình đã chứng minh 92% cư dân vẫn phải dùng nước ngầm tự khai thác, đồng thời làm rõ các rào cản kinh tế và nhận thức cảm quan cản trở việc tiếp cận hệ thống nước sạch đô thị. Những đề xuất về hỗ trợ tài chính lắp đặt đường ống, kiểm soát chặt chẽ việc khai thác nước ngầm và xử lý triệt để nước thải xả ra lưu vực suối Nhum, rạch Cái Cầu mang tính thực tiễn cao đối với sự phát triển bền vững của địa phương.