Khảo Sát Thể Loại Vè Tại Làng Biển Kẻ Mom, Tỉnh Thanh Hóa

Khảo sát thể loại vè ở làng biển Kẻ Mom, tỉnh Thanh Hóa, nghiên cứu khoa học cấp trường năm 2007, khám phá văn hóa và truyền thống địa phương.

Chuyên ngành

Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học

2007

82
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT ĐÔI NÉT VÈ LÀNG BIỂN KẺ MOM

1.1. Điều kiện tự nhiên

1.2. Lịch sử hình thành, dân số

1.3. Văn hoá – kinh tế - xã hội

2. CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT THỂ LOẠI VÈ Ở LÀNG BIỂN KẺ MOM

2.1. Tìm hiểu sơ nét thể loại vè ở Kẻ Mom

2.1.1. Vè kể vật kể việc

2.1.2. Vè thế sự

2.1.3. Vè lịch sử

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám Phá Vè Làng Biển Kẻ Mom Di Sản Văn Hóa Đặc Sắc

Vè là một thể loại văn học dân gian đặc trưng của người dân Kẻ Mom, nơi có bề dày lịch sử và văn hóa phong phú. Thể loại này không chỉ phản ánh đời sống hàng ngày mà còn lưu giữ những giá trị văn hóa tinh thần của cộng đồng. Vè ở Kẻ Mom thường mang đậm sắc thái địa phương, thể hiện sự gắn bó chặt chẽ giữa con người và biển cả. Những bài vè không chỉ là phương tiện truyền tải thông tin mà còn là hình thức nghệ thuật độc đáo, thể hiện tâm tư, tình cảm của người dân nơi đây.

1.1. Tìm Hiểu Về Vè Làng Biển Đặc Điểm và Chức Năng

Vè là thể loại văn học dân gian có nhiều hình thức như vè kể vật, vè thế sự và vè lịch sử. Chức năng chính của vè là truyền tải thông tin, sự kiện trong đời sống hàng ngày của người dân. Vè không chỉ đơn thuần là những câu thơ có vần mà còn chứa đựng những giá trị văn hóa sâu sắc, phản ánh tâm tư và nguyện vọng của cộng đồng.

1.2. Lịch Sử Hình Thành Vè Ở Kẻ Mom Một Chặng Đường Dài

Vè ở Kẻ Mom đã tồn tại từ lâu đời, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của làng. Qua các thời kỳ, vè đã được sáng tác và lưu truyền, phản ánh những biến động trong đời sống xã hội và văn hóa của người dân nơi đây. Những bài vè không chỉ là sản phẩm văn hóa mà còn là chứng nhân lịch sử của làng biển Kẻ Mom.

II. Những Thách Thức Đối Với Thể Loại Vè Ở Kẻ Mom Hiện Nay

Mặc dù vè là một phần quan trọng trong văn hóa Kẻ Mom, nhưng hiện nay thể loại này đang đối mặt với nhiều thách thức. Sự phát triển của công nghệ thông tin và sự thay đổi trong lối sống đã khiến cho nhiều bài vè bị lãng quên. Việc thiếu lớp trẻ tiếp nối cũng là một nguyên nhân khiến cho vè dần mai một. Cần có những biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị của thể loại này để không bị thất truyền.

2.1. Nguyên Nhân Khiến Vè Bị Mai Một Từ Thực Tế Đến Giải Pháp

Một trong những nguyên nhân chính khiến vè bị mai một là do sự thiếu hụt người sáng tác và truyền dạy. Các cụ bô lão, những người nắm giữ kho tàng vè đang dần ra đi, trong khi lớp trẻ không còn mặn mà với thể loại này. Cần có những hoạt động sưu tầm và ghi chép để bảo tồn những bài vè còn lại.

2.2. Giải Pháp Bảo Tồn Vè Làng Biển Hướng Đi Tương Lai

Để bảo tồn thể loại vè, cần có sự kết hợp giữa các cơ quan văn hóa và cộng đồng. Tổ chức các buổi giao lưu, hội thảo về vè, khuyến khích lớp trẻ tham gia sáng tác và biểu diễn vè sẽ giúp nâng cao nhận thức và tình yêu đối với văn hóa dân gian. Việc đưa vè vào chương trình giảng dạy cũng là một giải pháp khả thi.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Vè Ở Làng Biển Kẻ Mom

Nghiên cứu thể loại vè ở Kẻ Mom được thực hiện thông qua các phương pháp điền dã, phỏng vấn và ghi chép. Các nhà nghiên cứu đã tiếp xúc với những bô lão trong làng để thu thập thông tin và bài vè. Phương pháp này không chỉ giúp sưu tầm được nhiều bài vè quý giá mà còn tạo cơ hội để hiểu rõ hơn về văn hóa và đời sống của người dân nơi đây.

3.1. Phương Pháp Điền Dã Khám Phá Thực Tế

Phương pháp điền dã giúp các nhà nghiên cứu tiếp cận thực tế đời sống của người dân Kẻ Mom. Qua việc quan sát và ghi chép, nhiều bài vè đã được sưu tầm và lưu giữ. Đây là cách hiệu quả để hiểu rõ hơn về bối cảnh sáng tác và ý nghĩa của từng bài vè.

3.2. Phỏng Vấn Bô Lão Lưu Giữ Ký Ức Văn Hóa

Phỏng vấn các bô lão trong làng là một phương pháp quan trọng trong nghiên cứu. Những người này không chỉ là người nắm giữ kho tàng vè mà còn là những nhân chứng sống cho lịch sử và văn hóa của Kẻ Mom. Qua những câu chuyện của họ, nhiều giá trị văn hóa đã được tái hiện và lưu giữ.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Vè Ở Kẻ Mom

Nghiên cứu thể loại vè không chỉ có giá trị về mặt lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn. Những bài vè được sưu tầm có thể được sử dụng trong các hoạt động văn hóa, giáo dục và du lịch. Việc phát huy giá trị văn hóa của vè sẽ góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về di sản văn hóa phi vật thể.

4.1. Giáo Dục Văn Hóa Qua Vè Hướng Đi Mới

Việc đưa vè vào chương trình giảng dạy sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn về văn hóa dân gian. Những bài vè không chỉ mang tính giải trí mà còn chứa đựng nhiều bài học quý giá về cuộc sống và con người. Đây là cách hiệu quả để gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống.

4.2. Du Lịch Văn Hóa Khám Phá Vè Kẻ Mom

Khai thác giá trị văn hóa của vè trong du lịch sẽ tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo. Du khách có thể tham gia vào các hoạt động biểu diễn vè, tìm hiểu về lịch sử và văn hóa của làng biển Kẻ Mom. Điều này không chỉ giúp bảo tồn văn hóa mà còn tạo nguồn thu cho cộng đồng.

V. Kết Luận Tương Lai Của Thể Loại Vè Ở Kẻ Mom

Thể loại vè ở Kẻ Mom đang đứng trước nhiều thách thức nhưng cũng mở ra nhiều cơ hội. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của vè không chỉ là trách nhiệm của các nhà nghiên cứu mà còn là của toàn cộng đồng. Cần có những hành động cụ thể để giữ gìn di sản văn hóa này cho các thế hệ mai sau.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Việc Bảo Tồn Vè

Bảo tồn vè không chỉ là giữ gìn một thể loại văn học mà còn là bảo vệ bản sắc văn hóa của người dân Kẻ Mom. Những bài vè chứa đựng nhiều giá trị lịch sử và văn hóa, cần được gìn giữ và phát huy.

5.2. Hướng Đi Tương Lai Phát Huy Giá Trị Vè

Cần có những chiến lược cụ thể để phát huy giá trị của vè trong đời sống hiện đại. Việc kết hợp giữa truyền thống và hiện đại sẽ giúp thể loại vè không chỉ tồn tại mà còn phát triển mạnh mẽ trong tương lai.

15/07/2025
Khảo sát thể loại vè ở làng biển kẻ mom tỉnh thanh hóa đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường 2007

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT ĐÔI NÉT VÈ LÀNG BIỂN KẺ MOM 1.1 Điều kiện tự nhiên 1.1 Vị trí địa lý Kẻ Mom là một trong những làng lớn nhất huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hoá kể từ xưa tới nay. Làng ven biển Kẻ Mom nằm về cực Đông Nam của huyện, phía Đông là biển, phía Nam và Tây Nam ngăn cách với làng Hiếu thuộc xã Hải Châu huyện Tĩnh Gia bởi song Yên, phía Tây và phía Bắc giáp với làng Ngòi xã Quảng Thạch. Kẻ Mom cách huyện lỵ (thị trấn) Quảng Xương 9km và cách thành phố Thanh Hóa 14km. Từ huyện Quảng Xương đi về Kẻ Mom có 3 con đường chính (trong đó có 2 đường bộ và 1 đường thủy).

Đường bộ thứ nhất từ huyện lỵ đi qua Quảng Phong và Quảng Đức, về đến làng Bùi thôn Quảng Giao gặp đường số 4 thì rẽ phải, đi khoảng 8km gặp ngã ba Lộc Thành, đi qua làng Lộc Tại, làng Tiên Trang (xã Quảng Hợi), đi qua làng Ngòi (xã Quảng Thạch) đi tiếp 2km nữa là đến trung tâm Kẻ Mom. Đường bộ thứ hai đi từ trung tâm thành phố Thanh Hóa theo quốc lộ 1A, đi được 18km (đến đầu núi Chẹt) rồi đi theo đường Tiền Trang, gặp đường tỉnh lộ 4 là đến nơi. Đường thủy đến làng Kẻ Mom bắt đầu từ huyện lỵ đi cặp theo quốc lộ 1A đến cầu Ghép rồi đi thuyền khoảng 4km là đến trung tâm Kẻ Mom.2 Địa hình và cư trú Diện tích tự nhiên của làng Kẻ Mom vào khoảng 4Km2 nhưng mỗi năm làng được cát biển bồi thêm 50m chiều ngang vì vậy con số này thay đổi theo từng năm. Kẻ Mom nằm ở trên đồi cát do biển bồi có độ cao khoảng 4-5m so với mực nước biển.

Đây là độ cao tuyệt đối, thay đổi rất ít vì sự xâm thực của gió và mưa không đáng kể. Về địa thế làng Kẻ Mom như một lá cờ đuôi nheo (giống hình đuôi cá) mà đuôi của nó là cửa lạch. Đất tự nhiên rộng nhưng dân cư sống tập trung thành cụm, làng lấy điểm cao nhất của đồi cát làm trung tâm và lan tỏa ra bốn phía. Mỗi nhà có diện tích 6 chỉ vào khoảng 80-120m2 đất đủ làm một ngôi nhà nhỏ, một gian bếp và một lối đi vừa đủ.

Nhà nọ cách nhà kia chỉ là một bờ phên bằng nứa, cây cối xung quanh nhà rất ít. Cách sắp xếp như vậy phù hợp với địa hình nơi đây có ba mặt đều là biển và sông, hơn nữa dân cư sống quần tụ như vậy sẽ tránh được bọn giặc cướp, nước dâng, bão tố. Khác với các làng trong vùng như Lộc Tại, Lộc Thành, Tiền Tramg…đều có lũy tre bao bọc quanh làng, ở Kẻ Mom bờ rào của làng là những khóm xương rồng thân dẹp có nhiều gai sắc, đây là nét đặc trưng của những làng ven biển Việt Nam.3 Núi và sông ngòi Kẻ Mom có hai ngọn núi: núi Lau nằm về phía Bắc và Tây Bắc, núi Chẹt nằm ở phía Nam. Núi Lau và núi Chẹt nằm trên một mạch kết tinh bằng sa thạch có màu đỏ thẫm.

Núi Chẹt có độ cao từ Tây sang Đông, đỉnh cao nhất nằm ở cực Đông (122m so với mặt nước biển). Sông ngòi của Kẻ Mom không nhiều, do địa thế của Kẻ Mom nên chỉ có con sông Yên là chạy qua làng về phía Tây Nam-Nam. Khúc sông Yên chạy qua làng có nhiều tên gọi khác nhau như Sông Yên, Lạch Mom, Cửa Hàn. Mỗi một tên gọi ấy đều gắn với một sự tích, một sự kiện.4 Thời tiết và khí hậu Nhiệt độ trung bình vào mùa nóng khoảng 28 0C, những ngày nắng nóng có khi lên tới 35 -370C.

Vào những ngày nắng nóng thường có những cơn giông ở phía Tây. Mưa rào thường xuất hiện từ cuối tháng 3 âm lịch đến hết tháng 5 âm lịch, có những năm mưa rào kéo dài tới tháng 6 âm lịch. Cũng vào thời gian này gió Lào vượt qua dãy Trường Sơn và ảnh hưởng trực tiếp tới nhiệt độ trong vùng. Những ngày có gió Lào nhiệt độ lên tới 36 0C, mỗi đợt kéo dài tới 3- 4 ngày, thậm chí có đợt tới 6-7 ngày (thường trong một năm chỉ có một hoặc hai đợt kéo dài như vậy.

Sau mỗi đợt gió Lào thường có giông, mưa nên nhiệt độ lại giảm xuống dưới 300C. Những năm vào tháng 4, tháng 5, tháng 6 nếu không có gió Tây Nam mà chỉ có gió chính Nam thì năm đó sẽ bị hạn (1947). Bão xuất hiện vào cuối tháng 5 đầu tháng 6 (âm lịch) và kéo dài tới trung tuần tháng 9 (âm lịch). Bão thường tập trung vào tháng 6, tháng 7.

Các nhà khí 7 tượng thủy văn đã theo dõi gần 100 năm: (từ năm 1894 đến 1977) có tới 405 trận bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào vùng Quảng Xương – Thanh Hóa. Trung bình mỗi năm có từ 1- 5 trận bão. Đặc biệt các năm 1909, 1918, 1927,1976 mỗi năm có tới 6 trận bão với sức gió cấp 10, cấp 11 tức là từ 90 đến 120 km/giờ. Trong lịch sử trận bão năm Mậu Ngọ (1918) được ghi nhận là trận bão lớn, đã làm đổ rất nhiều nhà trong làng.

Sống trong một vùng có rất nhiều bão, nhân dân vốn làm nghề đánh bắt cá biển nên họ có mộ số kinh nghiệm rút ra từ thực tế. Ví dụ: thuyền đang ở ngoài khơi mặc dù trời trong gió mát nhưng thấy hiện tượng nước vẫn đục là phải nhanh chóng vào bờ, để cho dễ nhớ, bà con ngư dân tự đặt câu ca dao “Trời trong trăng tỏ, nước đục ngầu ngầu, cha con bảo nhau, chèo mau cập bến”. Mùa lạnh bắt đầu từ cuối tháng 9 đến tháng 3 âm lịch năm sau. Đầu mùa có trận gió mùa Đông Bắc xuất hiện nên thường kèm theo mưa to, gió lớn.

Chính thời kì chuyển mùa này đã tạo nên bão rươi (bão nhỏ). Đầu mùa lạnh vào tháng 10 âm lịch có gió heo may khô, gió khô kết hợp với rét làm da nứt nẻ. Nhiệt độ trung bình tháng 10, tháng 11 âm lịch ở vào 16 0C. Vào giữa mùa rét nhiệt độ có lúc xuống thấp: vào tháng 12 (tháng chạp), tháng 1 (tháng giêng) âm lịch xuống 7-8 0C nhưng chưa bao giờ xuống đến 50C.

Trong những đợt rét đậm vẫn có những ngày nắng ấm.2 Lịch sử hình thành, dân số 1.1 Lịch sử hình thành vùng đất Vùng đất Quảng Xương ngày nay vốn xa xưa thuộc quận Cửu Chân từ ngày vua Hùng lập nước Văn Lang và được đổi tên qua từng chặng đường lịch sử, qua từng triều đại. Thời Hùng Vương có tên Cổ Chiếu, rồi đến Kết Thuê (có sách chép Kết Duyệt) rồi đến Duyên Giác, Vĩnh Xương cho đến đời vua Lê Thánh Tông năm Quang Thuận thứ 10 (1459) đổi thành huyện Quảng Xương. Quảng Xương cùng với Nông Cống, Ngọc Sơn thuộc phủ Tĩnh Gia sang thời nhà Nguyễn vẫn thuộc phủ Tĩnh Gia bao gồm 4 tổng: Thủ Hộ, Thái Lai, Lưu Vệ và Giặc Thượng. Đến đời Tự Đức bỏ cấp phủ, phủ Tĩnh Gia thành huyện 8 Tĩnh Gia, bỏ huyện Ngọc Sơn.

Cắt hai tổng tả ngạn sông Yên là tổng Ván Trinh và tổng Ngọc Đới đồng thời chia tổng Lưu Vệ thành các tổng Thủ Chính, Thái Lai, Vân Trinh và Ngọc Đồi. Làng Kẻ Mom là một làng cổ thuộc huyện Quảng Xương. Trong quá trình hình thành lịch sử của làng, vào khoảng đầu thế kỷ XX. Hiện nay, Kẻ Mom được đổi tên thành xã Quảng Nham thuộc huyện Quảng Xương.

Chúng tôi không nắm được thời gian cụ thể ( khoảng năm 1874 ) vì trong gia phả các dòng trong làng không nói rõ về thời gian cụ thể khi đổi tên thành Cự Nham.2 Dân số Theo các cụ cho biết căn cứ vào sổ đinh của làng vào năm 1922 Kẻ Mom có 120 suất đinh tức khoảng trên 2000 người. Qua cuộc tổng điều tra dân số 1979 làng có 7772 người trong đó có 2100 lao động được phân bổ trên ba ngành nghề: lao động ngư nghiệp có 1280 người, thủ công nghiệp 705 người và lao động nông nghiệp 137 người. Theo cuộc điều tra dân số mới nhất năm 2000 dân số Kẻ Mom có 13780 người (lấy số tròn), số hộ trong xã 2758 hộ.3 Văn hoá – kinh tế - xã hội 1. Lời ăn tiếng nói và tính cách Tiếng nói to, ăn sóng nói gió, câu nói gọn có khi mất cả chủ ngữ.

Bất cứ một câu nói nào của dân làng đều bắt đấu bằng tiếng cờ, vậy cờ. Giọng nói nhẹ, thoảng thường kéo dài âm tiết giữa đến âm tiết cuối, khi phát âm các phụ âm như kh, ph, tr thường ngắn hơn một bậc và phụ âm s không phát âm được nên phụ âm s và phụ âm x là một, do vậy người tiếp xúc với dân làng lần đầu tiên thì thật khó hiểu. 9 Bảng đối chiếu từ vựng Cự Nham Các làng trong vùng Mệê Mẹ Bốô Cha Cạo Cậu Mệê hiêểm Mẹ hỉm Bốô hiêểm Bố hỉm Con miêêu Con mèo Con muông Con chó Xống Cái ao Đụp Cái váy Đi roong Đi chơi Cái chuộc Cái gáo múc nước Cái traan Cái giường tre Đâm cà ấu Giã gạo Cái đọoi Cái bát Tô Cái bát to Trâu Cái chén uống rượu Gió vào Gió Đông Gió ra Gió Tây Gió xuống Gió Bắc Gió lên Gió Nam Gió nồm Gió Tây Nam Tố Gió xoáy đem theo mưa to Rài Giông mưa (trời sắp làm rài) Muống Cầu vồng Cữ Mưa nhiều ngày liên tiếp Khuấy Biển động nhẹ 10 Trời dấy Nam Trời sáng nhưng thỉnh thoảng lại bỏ mấy hạt mưa Cuộc sống của ngư dân gắn liền với biển cả, biển cả đối với họ rất hào phóng, hiền từ nhưng cũng đầy bí ẩn và hết sức trắc trở. Đứng trước biển người dân thấy mình nhỏ bé nên mỗi thành viên muốn tồn tại trước hết phải có ý chí, lòng dũng cảm và nhất thiết phải biết đoàn kết và tương trợ lẫn nhau.

Hàng ngày giáp mặt với biển cả, từng người đã tự ý thức được điều đó. Chính nếp nghĩ qua nhiều thế hệ đã tạo nên tính cách con người Cự Nham ngày nay. Tính cách ấy là dũng cảm, đoàn kết và hết sức thương yêu người cùng cảnh ngộ. Điều này được thấy rõ nhất ở một tục lệ tốt đẹp của làng Cự Nham: lệ ngư cư tức là trong vùng có những người đi biển gặp nạn dạt vào bờ được dân làng vớt lên và sẵn sàng cưu mang, nếu họ muốn về quê hương thì dân làng tạo điều kiện cho về, còn nếu muốn ở lại thì dân làng cũng sẵn sàng cưu mang, giúp đỡ tạo công ăn việc làm để xây dựng cơ nghiệp (điều này thể hiện ở các họ trong làng).

Người dân ít thích sống bằng lý trí mà thích sống bằng tình, bằng nghĩa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khảo Sát Thể Loại Vè Ở Làng Biển Kẻ Mom, Thanh Hóa" cung cấp cái nhìn sâu sắc về thể loại vè, một hình thức nghệ thuật dân gian đặc sắc của người dân nơi đây. Bài viết không chỉ phân tích các đặc điểm, nội dung và hình thức của thể loại vè mà còn nhấn mạnh vai trò của nó trong việc gìn giữ văn hóa và truyền thống địa phương. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc nghiên cứu thể loại vè không chỉ giúp bảo tồn di sản văn hóa mà còn tạo cơ hội cho sự phát triển du lịch văn hóa tại địa phương.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu tính đa dạng và khả năng phát triển cây thuốc tại xã Trung Thành, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, nơi khám phá sự đa dạng sinh học và ứng dụng của cây thuốc trong văn hóa địa phương. Bên cạnh đó, tài liệu Giáo trình đại cương địa lý Việt Nam phần 1 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về bối cảnh địa lý và văn hóa của các vùng miền Việt Nam. Cuối cùng, tài liệu Nghiên cứu thành phần loài và tình hình sử dụng rau rừng của người dân tại xã Ảng Nưa, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên cũng là một nguồn tài liệu quý giá, giúp bạn tìm hiểu về sự kết nối giữa con người và thiên nhiên trong văn hóa ẩm thực địa phương. Những tài liệu này sẽ mở ra nhiều góc nhìn mới mẻ và sâu sắc hơn về văn hóa và đời sống của người dân Việt Nam.