Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa giúp cải thiện đời sống vật chất của người dân, song song với đó là sự suy giảm các tri thức dân gian về việc hòa hợp với thiên nhiên. Trong số đó, nguồn tri thức bản địa liên quan đến việc thu hái và chế biến các loại rau rừng làm thực phẩm hàng ngày của các cộng đồng dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ bị mai một theo thời gian. Mặc dù các loại rau gieo trồng đáp ứng nhu cầu sản lượng, tình trạng lạm dụng phân bón, chất kích thích sinh trưởng và hóa chất bảo quản đã làm dấy lên những lo ngại về sức khỏe người tiêu dùng. Ngược lại, rau rừng tự nhiên là nguồn thực phẩm sạch, an toàn, sinh trưởng thích nghi với điều kiện sinh thái bản địa và ít chịu sâu bệnh hại. Tuy nhiên, các loài rau rừng phân bố rải rác ngoài tự nhiên, kỹ thuật gây trồng chưa được chuẩn hóa, giá trị dinh dưỡng chưa được phân tích đầy đủ và tri thức sử dụng ít được truyền thụ bài bản cho thế hệ kế cận.

Trước thực tế đó, đề tài khóa luận "Nghiên cứu thành phần loài và tình hình sử dụng rau rừng của người dân tại xã Ảng Nưa - huyện Mường Ảng - tỉnh Điện Biên" được tác giả Bạc Cầm Trung thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Vương Duy Hưng tại Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam (Khoa Quản lí tài nguyên rừng và môi trường).

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Đánh giá hiện trạng nguồn tài nguyên rau rừng tại địa bàn nghiên cứu thông qua việc điều tra thành phần loài, tính đa dạng về taxon phân loại, dạng sống, bộ phận sử dụng và đặc điểm phân bố sinh cảnh.
  2. Ghi nhận và phân tích kinh nghiệm bản địa của người dân trong việc khai thác, chế biến, gây trồng và thị trường tiêu thụ rau rừng.
  3. Nhận diện các tác động bất lợi từ hoạt động nhân sinh đe dọa đến tài nguyên rau rừng tại địa phương.
  4. Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên rau rừng gắn với gìn giữ tri thức bản địa tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các loài thực vật hoang dại hoặc bán hoang dại được cộng đồng cư dân địa phương sử dụng làm thực phẩm (rau ăn), phân bố tại địa bàn xã Ảng Nưa.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính xã Ảng Nưa, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành khảo sát và thu thập dữ liệu thực địa từ tháng 2 năm 2016 đến tháng 5 năm 2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận kế thừa cơ sở dữ liệu phân loại học và các tài liệu chuyên ngành thực vật học, lâm sản ngoài gỗ (LSNG) tiêu biểu tại Việt Nam và trên thế giới:

  • Các tài liệu thực vật học kinh điển: Flora Generale de L'Indo-Chine (M. Lecomte chủ biên); Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ); Sổ tay rau rừng (Từ Giấy và Vũ Văn Cẩn, 1963; NXB Quân đội nhân dân); Một số rau dại ăn được ở Việt Nam (Nguyễn Tiến Bân, Bùi Minh Đức, 1994); Edible wild plants of Vietnam (Yoshitaka Tanaka và Nguyễn Văn Kế); Danh lục các loài thực vật Việt Nam (tập 1, 2, 3); Thực vật chí Việt Nam (11 tập); Tên cây rừng Việt Nam (NXB Nông nghiệp, 2000).
  • Hệ thống tra cứu cơ sở dữ liệu quốc tế và trực tuyến: The Plant List, CFH, Plantphoto, Phytoimages, Tropicos, IPNI, Vietnam Plant Data Centre.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu:

  • Phương pháp điều tra sơ thám: Làm việc với Ủy ban nhân dân xã Ảng Nưa để thu thập số liệu tự nhiên, kinh tế - xã hội; phỏng vấn sơ bộ cán bộ xã và người có uy tín để xác định mùa vụ sinh trưởng, vùng phân bố chính của rau rừng.
  • Phương pháp phỏng vấn xã hội học: Sử dụng phiếu điều tra bán cấu trúc (Mẫu biểu 2.1) phỏng vấn trực tiếp 40 hộ gia đình tại các bản trong xã về các chỉ tiêu: danh mục loài cây, bộ phận sử dụng, kỹ thuật thu hái, phương thức chế biến món ăn dân tộc, tình hình gây trồng, hoạt động trao đổi mua bán và tỷ trọng rau rừng trong cơ cấu bữa ăn gia đình theo từng mùa.
  • Phương pháp điều tra theo tuyến sinh thái: Thiết lập 3 tuyến khảo sát thực địa chính cắt qua các trạng thái sinh cảnh và địa hình đặc trưng của xã:
    • Tuyến 1: Xuất phát từ Bản Cang, qua ruộng gần suối Bản Lé, men theo suối Bản Lé ra khu đồng ruộng của xã và quay về Bản Cang.
    • Tuyến 2: Dọc đường Bản Cang, qua bãi hoang, bám theo Quốc lộ 279, qua nương rẫy bỏ hoang và khu núi đá vôi Pha Đọm.
    • Tuyến 3: Dọc đường bản Củ, men theo khe suối Pá Cai, chạy dọc chân núi Pha Đén, qua nương rẫy bỏ hoang và lên đỉnh núi Pha Đén.
  • Phương pháp nội nghiệp và phân tích mẫu: Thu thập mẫu tiêu bản thực vật, chụp ảnh nhận dạng tại chỗ, ghi chép tọa độ, sinh cảnh và định danh khoa học theo khóa phân loại hình thái so sánh kết hợp đối chiếu tài liệu chuẩn. Phân tích thống kê mô tả tần suất, lập bảng danh mục taxon và tỷ lệ phần trăm theo dạng sống, bộ phận sử dụng và sinh cảnh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này điểm luận lịch sử nghiên cứu lâm sản ngoài gỗ và rau rừng:

  • Trên thế giới: Ghi nhận tri thức thực vật có từ 3000 năm TCN tại Ai Cập, 2000 năm TCN tại Trung Quốc; các công trình cổ đại của Aristote (384–322 TCN) và Theophrastus (khoảng 349 TCN) mô tả gần 500 loài thảo mộc. Thống kê của UNESCO (1992) chỉ ra ở nông thôn các nước đang phát triển, thực phẩm nguồn gốc thực vật chiếm 90–93%, làm thuốc chiếm 70–80%. Jenne de Beer (IUCN, 1996) ước tính Đông Nam Á có ít nhất 30 triệu người sống phụ thuộc vào LSNG. Các nghiên cứu thời Pháp thuộc tại Đông Dương của A. Chevalier (1900), Crevost, M. Lecomte, Guibier H. (1941) và công trình Non Timber Forest Product in the Lao PDR (2007).
  • Tại Việt Nam: Quá trình nghiên cứu LSNG qua các giai đoạn từ Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp (1961), Phân viện Đặc sản rừng (1974) đến Trung tâm Nghiên cứu Đặc sản rừng (1995). Các nghiên cứu chuyên sâu về rau rừng như Từ Giấy và Vũ Văn Cẩn (1963, thống kê 620 loại rau với 128 loài hoang dại; ấn bản Quân đội nhân dân mô tả 420 loại); điều tra Vườn quốc gia Cúc Phương (1968–1971, 229 loài); Võ Văn Chi (1976, 145 loài); các nghiên cứu kỹ thuật nhân giống giâm hom lá bép của Nguyễn Thành Đạt (2007); luận văn của Bùi Văn Tân (2010), Nguyễn Thị Kim Yến (2013) và các khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trường Đại học Lâm nghiệp tại Điện Biên, Lào Cai, Nghệ An.
  • Tại khu vực xã Ảng Nưa: Tác giả khẳng định xã Ảng Nưa là khu vực vùng cao có tính đa dạng sinh học cao, song chưa có công trình khoa học nào điều tra hệ thống về thành phần thực vật làm rau ăn và tri thức bản địa tại đây.

Chương 2: Mục tiêu, đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết mục tiêu tổng quát, 4 nội dung nghiên cứu chính, đối tượng nghiên cứu (thực vật làm rau ăn), phạm vi không gian (xã Ảng Nưa) và thời gian (tháng 2–5/2016). Quy trình nghiên cứu được chuẩn hóa qua 3 bước: công tác chuẩn bị dụng cụ, tài liệu; điều tra ngoại nghiệp (sơ thám, phỏng vấn mẫu biểu 40 hộ, khảo sát trên 3 tuyến sinh thái); công tác nội nghiệp giám định danh pháp khoa học, lập bảng danh lục, phân tích dữ liệu và đề xuất giải pháp.

Chương 3: Đặc điểm tự nhiên - kinh tế và xã hội

Khái quát toàn diện điều kiện tự nhiên và dân sinh xã Ảng Nưa:

  • Điều kiện tự nhiên: Tổng diện tích tự nhiên 2.499,57 ha (chiếm 12,27% diện tích huyện Mường Ảng). Địa hình núi cao hướng Đông Bắc - Tây Nam, độ dốc phổ biến trên 25°, chia cắt mạnh. Khí hậu nhiệt đới gió mùa Tây Bắc: mùa mưa từ tháng 4–10 (chiếm 80% lượng mưa cả năm), mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau (rét lạnh, có sương muối); nhiệt độ trung bình 20–25°C (cao nhất 37,5°C, thấp nhất 0°C); lượng mưa trung bình 227,5 mm; độ ẩm không khí trung bình 83%; số ngày sương mù bình quân 105 ngày/năm. Thủy văn gồm hệ thống suối Nậm Bó, suối Tin Tốc. Đất đai gồm 3 nhóm chính: đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính (Fk), đất đỏ vàng trên đá biến chất (Fj), đất đỏ vàng trên đá sét (Fs). Diện tích đất lâm nghiệp 1.023,86 ha (chiếm 40,96%), độ che phủ rừng đạt 36,17% (rừng tự nhiên phòng hộ 490 ha, rừng trồng phòng hộ 152,88 ha, khoanh nuôi phục hồi 380,98 ha).
  • Kinh tế - xã hội: Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2014 đạt 14%; thu nhập bình quân đầu người đạt 13 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo năm 2014 là 30,04%. Tổng diện tích sản xuất nông nghiệp là 1.307,74 ha; bình quân lương thực đạt 393 kg/người/năm. Chăn nuôi có 854 con trâu, 104 con bò, 1.280 con lợn và 12.414 con gia cầm. Toàn xã có 827 hộ với 3.658 nhân khẩu thuộc 3 dân tộc cùng chung sống: dân tộc Thái chiếm đa số tuyệt đối với 87,2%, dân tộc Mông chiếm 7,4%, dân tộc Kinh chiếm 5,4%; mật độ dân số bình quân đạt khoảng 100 người/km². Toàn xã chưa có chợ trung tâm, phụ thuộc vào chợ thị trấn Mường Ảng.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này phản ánh toàn bộ dữ liệu thực địa thu được từ 119 loài rau rừng:

  • Thành phần loài và cấu trúc phân loại: Xác định 119 loài thực vật làm rau ăn thuộc 100 chi, 51 họ của 2 ngành thực vật bậc cao có mạch.
  • Phân tích tính đa dạng:
    • Về taxon: Ngành Dương xỉ chiếm 3 họ, 3 chi, 3 loài (2,52%); Ngành Ngọc lan chiếm 48 họ, 97 chi, 116 loài (97,48%), trong đó Lớp Ngọc lan chiếm 86 loài (72,27%) và Lớp Loa kèn chiếm 30 loài (25,21%). Các họ có nhiều loài nhất gồm Hòa thảo (15 loài), Thầu dầu (10 loài), Cúc (7 loài), Cà (7 loài), Đậu (6 loài).
    • Về dạng sống: Thân thảo có số loài cao nhất (29 loài, 24,37%), tiếp theo là thân gỗ (25 loài, 21,01%), dây leo (22 loài, 18,49%), cây bụi (20 loài, 16,81%), tre trúc (14 loài, 11,76%), cây thủy sinh (7 loài, 5,88%), cau dừa (2 loài, 1,68%).
    • Về bộ phận sử dụng: Bộ phận lá và ngọn non được khai thác phổ biến nhất (51 loài, 40,80%), cả cây (20 loài, 16,00%), quả (19 loài, 15,20%), măng (13 loài, 10,40%), hạt (9 loài, 7,20%), hoa (6 loài, 4,80%), củ (4 loài, 3,20%), lõi thân (3 loài, 2,40%). Số loài cho 1 bộ phận sử dụng chiếm 59,66% (71 loài); 2 bộ phận chiếm 21,85% (26 loài); nhổ cả cây chiếm 16,81% (20 loài); 3 bộ phận chiếm 1,68% (2 loài).
    • Về sinh cảnh phân bố: Phân bố nhiều nhất trong rừng với 42 loài (35,29%), tiếp đến là vườn nhà và ven đường đi (29 loài, 24,37%), ven suối và khe ẩm (23 loài, 19,33%), đồng ruộng (13 loài, 10,92%), ven nương rẫy và chỗ đất trống (12 loài, 10,09%).
  • Kinh nghiệm khai thác và nhóm loài đa mục đích: Thống kê 20 loài rau rừng đa công dụng (vừa làm rau ăn, vừa làm thuốc, lấy củi, làm cây cảnh hoặc thức ăn gia súc như dần tòong, núc nác, chuối hột, ban trắng, mò hoa đỏ, thiết đinh, giấp cá, mã đề...).
  • Kinh nghiệm chế biến ẩm thực bản địa: Tỷ lệ sử dụng qua chế biến nhiệt chiếm 75,56% (128 loài/lượt), sử dụng ăn sống trực tiếp chiếm 24,26% (41 loài/lượt). Các cách chế biến gồm: luộc (61 loài), nấu canh (28 loài), làm nộm (20 loài), xào (13 loài), nướng hoặc rang (6 loài). Khóa luận ghi chép chi tiết nguyên liệu và quy trình chế biến các món ăn truyền thống của đồng bào Thái kèm tên tiếng dân tộc:
    • Nộm măng vầu đắng với hoa ban trắng (Nó khồm chụp bó bàn)
    • Măng vầu đắng nộm rau keo lông chim kerr (Nó khôm chụp phắc nàm mìn)
    • Thịt lợn mỡ nộm lá nhội (Nhứa mù chụp bầy phát)
    • Nội tạng lợn nộm lá nhội (Chương tỏng mù chụp bầy phát)
    • Canh lá vón vén nấu chân trâu (Xổm lôm canh tìn quai)
    • Canh môn nước nấu da trâu (Canh bòn cặp nằng mìn)
    • Nộm gỏi cá với hoa hoặc lõi thân cây chuối hột (Cỏi pà)
    • Nộm quả núc nác nướng
    • Canh hoa chuối hột nấu nhái (Khiết mọ má tòong)
  • Tác động bất lợi và giải pháp: Nhận diện các nguyên nhân làm suy giảm tài nguyên gồm chăn thả gia súc tự do, chặt phá rừng lấy lâm sản, đốt nương làm rẫy và khai thác theo hình thức hủy diệt (nhổ cả cây, chặt hạ cây lấy quả/ngọn). Đề xuất giải pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức, quy hoạch vùng bảo tồn các loài quý hiếm và khuyến khích gây trồng thương phẩm hóa các loài rau có giá trị kinh tế.

Kết quả và đóng góp

Dữ liệu định lượng tổng hợp từ nghiên cứu thực địa

Bảng tổng hợp phân loại học, dạng sống, bộ phận sử dụng và phân bố sinh cảnh của rau rừng tại xã Ảng Nưa:

Tiêu chí phân tích Phân loại / Chỉ số Số lượng loài Tỷ lệ (%)
Phân loại theo Taxon Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) 3 2,52
Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) 116 97,48
- Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) 86 72,27
- Lớp Loa kèn (Liliopsida) 30 25,21
Tổng số taxon ghi nhận 119 loài (100 chi, 51 họ) 100,0
Các họ thực vật tiêu biểu Họ Hòa thảo (Poaceae) 15 12,60
Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) 10 8,40
Họ Cúc (Asteraceae) 7 5,88
Họ Cà (Solanaceae) 7 5,88
Họ Đậu (Fabaceae) 6 5,04
Họ Hoa tán (Apiaceae) 5 4,20
Họ Rau răm (Polygonaceae) 4 3,36
Dạng sống thực vật Thân thảo 29 24,37
Thân gỗ 25 21,01
Dây leo 22 18,49
Cây bụi 20 16,81
Tre trúc 14 11,76
Cây thủy sinh 7 5,88
Cau dừa 2 1,68
Sinh cảnh phân bố Rừng 42 35,29
Vườn nhà, dọc đường đi 29 24,37
Ven suối, ven khe ẩm 23 19,33
Đồng ruộng 13 10,92
Ven nương rẫy, chỗ trống 12 10,09
Phương thức chế biến Sử dụng qua chế biến nhiệt 128 75,56
- Luộc 61 36,09
- Nấu canh 28 16,57
- Nộm 20 11,83
- Xào 13 7,69
- Nướng, rang 6 3,55
Sử dụng ăn trực tiếp (sống) 41 24,26

Đóng góp thực tiễn và giải pháp tác giả đề xuất

  • Đóng góp khoa học: Khóa luận là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về thành phần thực vật làm rau ăn và tri thức bản địa tại xã Ảng Nưa, cung cấp danh lục khoa học chuẩn hóa gồm 119 loài thuộc 100 chi, 51 họ; đồng thời số hóa mã hiệu mẫu và tư liệu hình ảnh màu phục vụ công tác giám định.
  • Đóng góp văn hóa - dân tộc học: Ghi nhận và lưu giữ chính xác tên gọi bằng tiếng Thái, phương thức thu hái và 9 công thức chế biến món ăn cổ truyền độc đáo của người Thái bản địa, góp phần bảo tồn kho tàng tri thức bản địa trước nguy cơ mai một.
  • Giải pháp đề xuất:
    1. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức lâm luật và hướng dẫn kỹ thuật khai thác bền vững (ngắt lá, tỉa cành, không nhổ cả rễ, không đào bới hủy hoại đất).
    2. Khuyến khích người dân đưa một số loài rau rừng có giá trị kinh tế và nhu cầu tiêu thụ cao về trồng tập trung trong vườn nhà hoặc dưới tán rừng phòng hộ (như rau bò khai, rau dớn, măng vầu, vón vén) để chuyển đổi thành nông sản hàng hóa tăng thu nhập.
    3. Xây dựng phương án khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt các loài thực vật quý hiếm, hạn chế tối đa việc chăn thả gia súc tự do và đốt nương rẫy gây cháy rừng làm suy thoái môi trường sống tự nhiên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Thời gian thực địa ngắn (từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2016), chưa bao quát trọn vẹn cả 4 mùa trong năm, do đó có thể bỏ sót một số loài rau rừng chỉ xuất hiện hoặc ra hoa vào mùa mưa muộn và mùa đông.
    • Phạm vi khảo sát xã hội học giới hạn ở 40 hộ gia đình; nghiên cứu chỉ dừng lại ở phân loại hình thái và điều tra kinh nghiệm dân gian, chưa có điều kiện phân tích định lượng thành phần dinh dưỡng, độc tính sinh học cũng như dược tính của các loài rau.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Kéo dài thời gian theo dõi liên tục trong nhiều năm để hoàn thiện danh lục thực vật qua tất cả các tháng.
    • Mở rộng phân tích hóa sinh trong phòng thí nghiệm nhằm xác định hàm lượng vitamin, khoáng chất, chất chống oxy hóa và độc tố trong các loài rau rừng phổ biến.
    • Thử nghiệm các mô hình nhân giống (gieo hạt, giâm hom) và xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác bán hoang dại đối với các loài rau rừng có giá trị thương phẩm cao tại địa phương.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:
    • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh học thực vật, Dân tộc học và Quản lý môi trường.
    • Các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương: Chi cục Kiểm lâm tỉnh Điện Biên, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Mường Ảng, UBND xã Ảng Nưa trong công tác quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế lâm sản ngoài gỗ.
  • Các nội dung đáng tham khảo nhất:
    • Danh lục chi tiết 119 loài rau rừng với đầy đủ tên khoa học chuẩn, tên tiếng Việt, tên địa phương tiếng Thái, số hiệu tiêu bản và ảnh chụp mẫu vật tại thực địa.
    • Bảng biểu so sánh hình thức khai thác, tỷ lệ các bộ phận sử dụng và phân bố sinh cảnh.
    • Tài liệu ghi chép dân tộc học về quy trình chế biến các món nộm, món canh truyền thống của người Thái từ rau rừng kết hợp gia vị bản địa (hạt mắc khén, nước măng chua).

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận ghi nhận tổng cộng bao nhiêu loài thực vật làm rau ăn tại xã Ảng Nưa và taxon nào chiếm ưu thế?

Tác giả đã ghi nhận và giám định được 119 loài thực vật làm rau ăn, thuộc 100 chi, 51 họ và 2 ngành thực vật có mạch. Ưu thế tuyệt đối thuộc về Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) với 116 loài (chiếm 97,48%), trong khi Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) chỉ có 3 loài (chiếm 2,52%). Ở cấp họ, họ Hòa thảo (Poaceae) đứng đầu với 15 loài (12,60%), tiếp đến là họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) với 10 loài (8,40%).

Dạng sống và bộ phận nào của cây rau rừng được sử dụng phổ biến nhất?

Cây thân thảo là dạng sống chiếm tỷ lệ cao nhất với 29 loài (24,37%), theo sau là thân gỗ (25 loài, 21,01%) và dây leo (22 loài, 18,49%). Về bộ phận sử dụng, lá và ngọn non được khai thác nhiều nhất với 51 loài (40,80%), kế tiếp là nhổ cả cây với 20 loài (16,00%) và lấy quả với 19 loài (15,20%).

Món ăn bản địa nào của người Thái tại địa phương sử dụng rau rừng kết hợp với da trâu hoặc chân trâu?

Trong khóa luận ghi nhận 2 món ăn truyền thống: món canh lá vón vén nấu với chân trâu (Xổm lôm canh tìn quai) sử dụng lá sầm bù giã nát hầm nhừ cùng gân, da, thịt chân trâu; và món canh môn nước nấu với da trâu (Canh bòn cặp nằng mìn) sử dụng da trâu bọc lá chuối ủ 3 ngày cho dậy mùi, ninh nhừ cùng cuống và lá môn nước, hoa chuối giập nát và bột gạo ngâm giã mịn.

Tác giả khảo sát thực địa thông qua những tuyến điều tra nào?

Tác giả thiết lập 3 tuyến khảo sát chính: Tuyến 1 đi từ Bản Cang qua suối Bản Lé ra cánh đồng xã và vòng lại Bản Cang; Tuyến 2 dọc đường Bản Cang qua Quốc lộ 279, nương rẫy bỏ hoang và núi đá vôi Pha Đọm; Tuyến 3 dọc đường bản Củ qua khe suối Pá Cai, chân núi Pha Đén, nương rẫy bỏ hoang và lên đỉnh núi Pha Đén.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Bạc Cầm Trung đã hoàn thành việc điều tra, giám định và lập danh lục 119 loài thực vật làm rau ăn thuộc 100 chi, 51 họ tại xã Ảng Nưa, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Công trình phản ánh sâu sắc mối quan hệ gắn kết giữa sinh cảnh tự nhiên và kho tàng tri thức ẩm thực dân gian của cộng đồng người Thái bản địa thông qua các phương thức thu hái và chế biến món ăn cổ truyền. Đồng thời, nghiên cứu đã chỉ ra những áp lực nhân sinh tiêu cực lên nguồn tài nguyên rau rừng và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm bảo tồn đa dạng sinh học gắn với định hướng phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng cao.