ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dƣơng, ở khu vực Đông Nam Á. Trên bản đồ, dải đất liền Việt Nam mang hình chữ S, kéo dài từ vĩ độ 23o23’ Bắc đến 8o27’ Bắc, dài 1.650 km theo hƣớng bắc nam. Bờ biển nƣớc ta dài 3.260 km, từ Móng Cái ở phía Bắc đến Hà Tiên ở phía Tây Nam, có nhiều hòn đảo và quần đảo lớn nhƣ: Hoàng Sa và Trƣờng Sa, các nhóm đảo Côn Sơn, Phú Quốc và Thổ Chu. Khí hậu nƣớc ta là khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm không thuần nhất trên toàn lãnh thổ, hình thành nên các miền và vùng khí hậu khác nhau rõ rệt.
Bên cạnh đó, Việt Nam còn có những vùng tiểu khí hậu nhƣ khí hậu ôn đới tại Sa Pa, tỉnh Lào Cai; Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; có nơi thuộc khí hậu lục địa nhƣ Lai Châu, Sơn La. Cùng với đó, địa hình và sông ngòi Việt Nam khá đa dạng. Địa hình gồm có: đồi núi, đồng bằng, bờ biển và thềm lục địa. Trong đó đồi núi chiếm tới 3/4 diện tích lãnh thổ nhƣng chủ yếu là đồi núi thấp.
Địa hình thấp dƣới 1.000 m chiếm tới 85% lãnh thổ. Những dãy núi đồ sộ nhất đều nằm ở phía Tây và Tây Bắc với đỉnh Phan-xi- phăng cao nhất bán đảo Đông Dƣơng (3. Phía Nam có cao nguyên Tây Nguyên và dãy Trƣờng Sơn. Riêng đồng bằng chỉ chiếm 1/4 diện tích trên đất liền và bị đồi núi ngăn cách thành nhiều khu vực; Sông ngòi nƣớc ta có một mạng lƣới sông ngòi dày đặc (2.360 con sông dài trên 10 km), chảy theo hai hƣớng chính là Tây Bắc- Đông Nam và vòng cung.
Hai sông lớn nhất là sông Hồng và sông Mê Công tạo nên hai vùng đồng bằng rộng lớn và phì nhiêu ở hai miền Bắc - Nam. Tất cả những nhân tố về địa lý, khí hậu, địa hình và sông ngòi kể trên,… đã góp phần tạo nên một Việt Nam có nguồn tài nguyên động – thực vật phong phú và đa dạng. Cho đến nay chúng ta đã thống kê đƣợc 10.484 loài thực vật bậc cao có mạch, khoảng 800 loài rêu và 600 loài nấm. Theo dự đoán của các nhà thực vật học số loài thực vật bậc cao có mạch ít nhất sẽ lên đến 12.000 loài, trong đó hiện nay có khoảng 2.300 loài đã đƣợc nhân dân dùng làm nguồn lƣơng 1 thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thức ăn cho gia súc, lấy gỗ, tinh dầu và nhiều nguyên vật liệu khác.
Chắc chắn rằng hệ thực vật Việt Nam còn nhiều loài mà chúng ta chƣa biệt công dụng của chúng, có thể còn rất nhiều loài có tiềm năng cung cấp thực phẩm cho cuộc sống của con ngƣời mà ta chƣa biết. Mặt khác, khi nhắc tới LSNG nói chúng và nguồn tài nguyên rau rừng riêng ở nƣớc ta, đây là nguồn tài nguyên phong phú, không gây ra những tác động tới môi trƣờng nhƣ các loài ngoại lai, vì chúng đã sống lâu đời trên lãnh thổ nƣớc ta, chúng chan hoà với điều kiện tự nhiên, không lo bị sâu bệnh hại nhƣ các loài cây khác. Hiện nay do việc lạm dụng khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao sản lƣợng, cải tạo nguồn gen, cùng với việc sử dụng các chất kích thích, bảo quản gây ra những ảnh hƣởng không tốt tới sức khoẻ khi sử dụng các loại rau do con ngƣời trồng. Còn về rau rừng thì hoàn toàn là tự nhiên, tốt cho sức khoẻ.
Nhƣng các loại rau rừng này lại phân bố rải rác, gây trồng chƣa có quy trình, việc đánh giá chất dinh dƣỡng hầu nhƣ chƣa có, cùng với đó dƣới tác động của rau trồng những loài phân bố xa có thể sẽ bị mai một qua thời gian do những ngƣời biết những loài đó không chú ý việc chỉ bảo cho thế hệ sau. Do đó việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên rau rừng trên đất nƣớc chúng ta là rất cần thiết. Nắm bắt đƣợc những lý do trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài và tình hình sử dụng rau rừng của ngƣời dân tại xã Ảng Nƣa - huyện Mƣờng Ảng - tỉnh Điện Biên”. Với mục đích nhằm góp phần bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên rau rừng cũng nhƣ các kiến thức bản địa trong việc sử dụng nguồn tài nguyên này tại xã Ảng Nƣa.
2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Việc mô tả về các loại thực vật đã đƣợc con ngƣời để ý và đã có từ rất sớm, ngƣời ta tìm thấy tài liệu mô tả về thực vật ở Ai Cập khoảng 3000 năm trƣớc Công nguyên và ở Trung Quốc khoảng 2000 năm trƣớc Công nguyên. Những kiến thức về cây cỏ đã đƣợc loài ngƣời ghi lại và lƣu giữ từ rất sớm. Trong các tác phẩm, sớm nhất có thể kể đến tác phẩm của Aristote (384 – 322 trƣớc Công nguyên).
Tiếp đó là tác phẩm “Lịch sử thực vật” của Theophraste (khoảng năm 349 trƣớc Công nguyên), trong đó ông đã mô tả, giới thiệu gần 500 loài cây cỏ với những chỉ dẫn về nơi sống cũng nhƣ công dụng của chúng. Tuy nhiên, có thể nói rằng phần lớn các tác phẩm vào thời kỳ này là các tác phẩm mô tả về cây làm thuốc là chủ yếu. Cùng với lịch sử phát triển của loài ngƣời, chất lƣợng cuộc sống ngày càng đƣợc nâng cao, những loại rau có nguồn gốc từ trồng đƣợc con ngƣời sử dụng thƣờng xuyên hơn. Song việc dùng các loài cây có nguồn gốc từ tự nhiên làm thức ăn vẫn đạt ở mức khá cao và vẫn là những thức ăn quan trọng trong bữa ăn của nhiều gia đình.
Theo thống kê của UNESCO năm 1992 thì ở vùng nông thôn của các nƣớc đang phát triển, sản phẩm lƣơng thực, thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật chiếm tỷ lệ 90 – 93%, làm thuốc chiếm tỷ lệ 70 – 80%. Riêng ở Đông Nam Á, theo Jenne de Beer (IUNC - 1996) ƣớc tính có ít nhất 30 triệu ngƣời sống phụ thuộc vào rừng và sử dụng LSNG nhằm đáp ứng nhu cầu về mặt sức khoẻ và dinh dƣỡng. Các nghiên cứu về LSNG đƣợc ngƣời Pháp tiến hành khi họ bắt đầu thiết lập đƣợc chính quyền thực dân tại Đông Dƣơng. Sau khi thiết lập đƣợc chính quyền, các nhà khoa học của Pháp đã tiến hành khảo sát về nguồn tại nguyên tại Đông Dƣơng từ rất sớm, trong đó phải kể đến hai tác phẩm của tác giả A.Chevalier gồm “Những ghi chép về những sản phẩm chủ yếu của Đông Dƣơng” 3 (Notes sur les principaux produits de l’ Indochine - Saigon 1900) nêu rõ giá trị kinh tế của các sản phẩm rừng Việt Nam, Lào, Campuchia và tác phẩm “Gỗ Đông Dƣơng”; “Các sản vật Đông Dƣơng” (Catalogue des produits de L’indochine) của Crevost, Ch và các cộng sự; “Thực vật chí Đông Dƣơng” (Flora Generale de L'Indo-Chine) do M.
Lecomte chủ biên công bố từ năm 1907 đến năm 1942 có đề cập đến nhiều loại rau ăn của Đông Dƣơng; “Rừng ở Đông Dƣơng” (La forest en Indochine) của Guibier H, 1941 và nhiều tài liệu khác. Năm 1941 nhiều LSNG trong đó có nhiều loại rau ăn từ rừng Đông Dƣơng đã đƣợc giới thiệu tại triển lãm Paris và sau đó có nhiều nghiên cứu sâu hơn về các loài LSNG nhƣ “Nghiên cứu về cây sơn” (Renseignemenst su I’arbre a laquelu Tonkin), 1934; “Cây dùng trong công nghệ” Nguyễn Công Huân, 1941. Năm 1937, Viện nghiên cứu Đông Dƣơng đƣợc thành lập. Sau khi đƣợc thành lập các nghiên cứu về chế biến LSNG đã đƣợc tiến hành nhƣ: nghiên cứu chƣng cất các loại tinh dầu và xây dựng xƣởng chƣng cất tinh dầu hồi ở Lạng Sơn, khai thác nhựa thông, nhựa trám; nghiên cứu sử dụng dầu sở; nghiên cứu về cánh kiến đỏ với việc áp dụng kỹ thuật sen – lắc bằng gia nhiệt (L’Indochine forestiere, 1943) của P.Maurand,… Tuy nhiên, vào thời kỳ này các nghiên cứu về rau rừng dùng làm rau ăn vẫn chƣa đƣợc chú trọng và quan tâm.
Công tác nghiên cứu về LSNG của Viện này bị chấm dứt sau khi chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ và lan tới Đông Dƣơng. Một số tác phẩm đƣợc biên soạn từ nghiên cứu hợp tác giữa các quốc gia với những tổ chức phi chính phủ nhƣ: Cuốn sách “Non Timber Forest Product in the Lao PDR” năm 2007 là hợp tác của các tổ chức phi chính phủ với nƣớc Lào. Cuốn sách đƣợc xuất bản bằng tiếng anh và chia làm 2 phần: phần I – Lâm sản ngoài gỗ và con ngƣời; phần II – Thông tin về các loài lâm sản ngoài gỗ với 5 nhóm chính là: thực phẩm, thuốc men, sợi, chiết xuất, cây cảnh. Trong đó trong nhóm thực phẩm 4 đƣợc đề cập tới, tất cả đều là các thực vật bậc cao.
Với các nội dung: mô tả bậc taxon, mô tả loài và các thông tin liên quan đến loài về thu hái, buôn bán,… 1. Ở Việt Nam Con ngƣời từ thuở xa xƣa đã gắn liền với thiên nhiên, sống cùng thiên nhiên, các thức ăn đều đƣợc lấy từ thiên nhiên. Do đó có thể khẳng định việc sử dụng các loài cây rừng làm thức ăn ở nƣớc ta đã có từ rất sớm, nhƣng các nghiên cứu chính thức về LSNG tại Việt Nam chỉ chính thức đƣợc tiến hành khi Pháp thiết lập đƣợc chính quyền tại đây và chính những nghiên cứu này đã đặt nền móng về việc nghiên cứu LSNG ở nƣớc ta nói chung và các nghiên cứu về rau rừng nói riêng. Sau khi Viện nghiên cứu Đông Dƣơng của Pháp nghiên cứu về các LSNG ngừng hoạt động, công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật về rừng nói chung và về LSNG nói riêng chỉ đƣợc tổ chức lại sau khi chúng ta kháng Pháp thành công vào năm 1954.
Trong đó, Bộ Nông - Lâm và trƣờng Đại học Nông Lâm đã có những nghiên cứu để chỉ đạo sản xuất, trong đó có LSNG nhƣ: “Lâm sản phụ” của Lâm Văn Giai, 1956; “Trích nhựa thông” của Đào Xuân Mai, 1958,… Từ khi thành lập Tổng Cục Lâm Nghiệp năm 1961, Lâm sản phụ đƣợc đổi tên thành Đặc sản rừng và phòng Đặc sản rừng đƣợc thành lập. Dƣới sự chỉ đạo của phòng có một tổ nghiên cứu đặc sản rừng và một số đề tài đã đƣợc tiến hành nhƣ: nghiên cứu nuôi trồng cánh kiến đỏ, cánh kiến trắng,… Phòng cũng chỉ đạo xây dựng xƣởng chế biến nhựa thông ở Nghệ An, gia công cánh kiến đỏ tại Hà Đông. Năm 1961 thành lập Viện nghiên cứu Lâm nghiệp, từ đó các đề tài nghiên cứu LSNG thƣờng đƣợc thực hiện ở Bộ môn Đặc sản rừng, Bộ môn Hoá lâm sản và Bộ môn Sinh hoá thuộc Viện.