Chương 1: TÓNG QUAN 1. TONG QUAN VE HUYỆN ĐỨC HUE TINH LONG AN 1. Vị tri dia lí Huyện Đức Huệ có điện tích đất tự nhiên chiếm 43. 162,9 ha nằm ở phía bắc của tinh Long An.
Vị trí địa lí thuận lợi phát triển dich vụ thương mại. xuất nhập khâu qua biên giới do có đường biên giới Việt Nam — Campuchia trai dài dọc theo phía tây huyện. Cụ thẻ: - Phía đông giáp huyện Đức Hoà lay sông Vàm Co Đông làm ranh giới chia cắt hai huyện. - Phía tây giáp Campuchia - Phía nam giáp huyện 3 huyện trong cùng địa bàn Long An gồm huyện Thủ Thừa, huyện Bến Lức, huyện Thạnh Hóa.
- Phía bắc giáp tỉnh Tây Ninh Ngoài ra huyện Đức Huệ nim ở phía ria đông bắc của vùng Đồng Tháp Mười và tiếp giáp với Đông Nam Bộ do đó huyện là nơi chuyên từ Đông Nam Bộ sang Đồng băng sông Cửu Long vị trí thuận lợi phát huy thể mạnh sản xuất nông sản của vùng Đông bang sông Cửu Long như lúa. Như vậy vị trí địa lí giúp Đức Huệ phát triển kinh tế xã hội nhờ vành địa biên giới N1 và cũng thuận lợi buôn bán trao đôi hàng hóa. nông sản giữa các huyện và tỉnh thành giáp ranh. Tuy nhiên do nằm giáp ranh biên giới đây cũng là điểm nóng của nạn buôn lậu.
Điều kiện tự nhiên 1. Khí hậu, nhiệt độ. lượng mua Huyện Đức Huệ năm trong vùng nhiệt đới gió mùa với nén nhiệt cao quanh năm, lượng mưa phân bố theo mùa và khá nhiêu. Lượng mưa trung bình năm vào khoảng 1.840mm, lượng mưa tập trung nhiều vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 thường trùng với mùa lũ [6].
Nhiệt trung bình hằng năm ở khoảng 26°C đến 27°C với ngưỡng nhiệt độ thấp nhất là 23,8°C và cao nhất là 31,1°C. Biên độ nhiệt trong ngày dao động giữa ngày về đêm cao từ 89C đến 10°C [6]. khí hậu và lượng mưa tại huyện Đức Huệ cho thấy thích hợp phát triển sản xuất nông nghiệp thâm canh đặc biệt là trồng lúa nước, mía và ngô. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn vào mùa mưa dé ngập ting dat do lũ về.
Chế độ thủy văn, nguôn nước và công trình thủy lợi Theo quyết định số 3453/QĐ-UBND, huyện Đức Huệ nằm trong khu vực quy hoạch vùng HI tiêu vùng HI-], với: Chế độ thủy văn: Chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều, có hai đỉnh triều lớn nhất là vào tháng 12 và chân triều nhưng biến động không đều theo tháng. Vùng có lượng mưa trung bình năm 1400 - 1600 mm. Sự biến động về lượng mưa cũng như chế độ dòng chảy (gồm cả mực nước H và lưu lượng Q) trên các hệ thống sông rạch cũng biến đổi phức tap theo các mùa trong năm [6], [7]. Mùa lũ thường xuất hiện muộn vào tháng 9 tháng 10 tuy nhiên thường từ tháng 5 đến tháng 11 vùng III đã năm trong vùng ngập nông.
Có hai nguồn sinh lũ là lũ từ sông Mekong chảy về sông Vàm Cö Tây và lũ từ thượng nguồn sông Vàm Cỏ Đông chủ yếu gây ảnh hưởng đến các xã phía Nam như xã Bình Hòa Hưng, Bình Thành, Bình Hòa Nam nhưng lũ nơi đây xuất hiện không đều theo từng năm [6], [7]. Vào mùa khô có thê tận dụng thủy triều để cung cấp nước tưới tiêu tuy nhiên các khu vực nội đồng sâu bên trong gặp khó khăn vì mực nước thắp và cạn ở các kênh cấp nước đo biên độ triều vào mùa khô nhỏ cường độ triều không đủ mạnh dé day nước từ sông Vàm Cỏ Dông vào sâu bên trong nội đồng [6]. Nguồn nước: sử dụng nguồn nước được lấy từ sông Vàm Cỏ Đông, sông Tiền và thêm nguồn nước bô sung từ hồ Dau tiếng chảy vẻ: toàn bộ vùng nằm trong khu vực ngập nông, với mức ngập từ (0. Đánh giá về chất lượng nước, hiện tại nguồn nước chưa bị ô nhiễm, nhưng tiềm ân mức độ ô nhiễm là rất cao khi mà nhà máy xử lý rác, cụm công nghiệp, xí nghiệp đi vào hoạt động [7].
Hệ thông kênh: hệ thống kênh ở tỉnh Long An có 4 nhiệm vụ chính. gồm: - Phục vụ tưới tiêu sản xuất nông nghiệp: phục vụ cho quy hoạch phát triển nông — lâm — ngư nghiệp [7] - Kiểm soát lũ: kiểm soát mức ngập lũ đầu vụ và cuối vụ đề ôn định sản xuất lúa vụ đông xuân và hè thu đặc biệt kiểm soát lũ triệt dé tại khu vực trong lúa 3 vụ ở vùng ngập nông [7] - Tưới, tiêu và kiêm soát mặn: kiêm soát mặn, tạo thé nước đưa phù sa từ sông Tiền vào sâu nội đồng, tiêu chua rửa phèn, cái tạo đất, cải tạo môi trường nước và vệ sinh đồng ruộng [7] - Lợi đụng tong hợp, kết hợp phát triển đa mục tiêu: kết hợp cung cap nước tưới tiêu và cung cấp nước sinh hoạt công nghiệp du lịch, phân bố các tuyến giao thông đường thủy [7] Do thường chịu các đợt lũ lớn nên hệ thông kênh tại huyện Đức Huệ được quy hoạch có lòng rộng từ 12 - 27m lưu lượng dòng chảy tốt nên vào mùa mưa mưa nhiều hệ thông kênh thoát nước tốt không gây lũ lớn, không hưởng nhiều đến sản xuất. Hệ thông kênh rạch ít bị nhiễm mặn do có nguồn nước ngọt từ Hồ Dau Tiếng dé vẻ sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây vào các tháng mùa khô, thường bị nhiễm chua phèn nặng vào đầu mùa mưa. Tài nguyên đất Tại huyện Đức Huệ.
có 3 nhóm đất chính: - Nhóm đất phù sa bị nhiễm phèn dọc sông Vàm Cỏ Đông chiếm 7,11% điện tích đất tự nhiên phân bé dọc cái xã chuyên canh lúa nước như Mỹ Thạnh Đông, Mỹ Thạnh Bắc. Bình Hòa Nam và Mỹ Quý Đông. Nhóm đất phù sa này có độ phì cao, thoát nước kém thích hợp khai thác canh tác lúa [6] - Nhóm đất xám: phân bố ở hau hết các xã trong huyện nam xen lan với nhóm đất phèn chiến 36,02% diện tích đất tự nhiên. Đây là nhóm dat khó canh tác thích hợp dé làm đất xây dựng nều sử dụng canh tác lúa cần phải lưu ý cải tạo đất và bé sung hàm lượng dinh dưỡng cho đất [6] - Nhóm đất phèn: đây là nhóm đất khó cải tạo và canh tác chiếm diện tích đất tự nhiên lớn nhất trong địa bàn huyện gôm 55.
Điều kiện kinh tế - xã hội Tính đến năm 2019, có tông 65.691 người dan sinh sống tai địa bàn huyện Dức Huệ. trong đó dân cư tập trung chủ yeu ở khu vực nông thôn (60. Dan cư sinh sống bằng nghẻ nông là chính đặc biệt là trồng lúa nước. Tuy nhiên trong những năm gan đây huyện Đức Huệ dan đây mạnh phát trién các vùng chuyên canh như lúa chất lượng cao, trồng cây chanh, to chức xây dựng các hợp tác xã sản xuất nông sản theo hướng tập thé dé tạo nguồn thu én định liên với các doanh nghiệp lớn.
Đồng thời đây mạnh chuyền đôi đất trồng lúa sang trồng cây ăn trái, rau má thúc đây phát triển chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản tại địa phương. Huyện tăng cường triển khai, tập huấn và tổ chức các buôi tọa đàm hướng dẫn nông dân xây dựng các mô hình chuyên đồi cây trồng vật nuôi áp dụng kỹ thuật mới, ứng dụng khoa học vào sản xuất. Ngoài ra huyện còn tập trung đây mạnh phát triển công nghiệp với các nhà máy sản xuất điện năng lượng mặt trời. Từ đó thúc đây kinh tế huyện Đức Huệ từ huyện có điều kiện khó khăn, nghẻo của tinh Long An, vươn lên về mặt kinh tế.
Da dạng sinh học Tinh Long An được biết đến là tinh có độ đa dang sinh hoc cao ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long với hệ động, thực vật da dang. Ở thực vật ghi nhận được 340 loài thực vật bậc cao thuộc 95 họ trong số 340 loài thực vật được ghi nhận 311 loài có giá trị sử dụng, 240 loài được dùng làm thuốc có 2 loài xếp vào nhóm thực vật cần được bao tồn theo Sách đỏ Việt Nam. Ở động vật lớp chim ghi nhận 159 loài chim, thuộc 52 ho, 16 bộ có 5 loài hiện đang nam trong Sách đỏ Việt Nam. O các loài thủy sản cụ thé là các loài cá, ghi nhận được 11 bộ, 79 họ, 306 loài cá trong đó có 114 loài cá nước ngọt và 192 loài cá nước man [9].
Điều này cho thấy tỉnh Long An sở hữu nhiều tiềm năng về nguồn gen quý hiểm và các giống động, thực vật có giá trị cao. Tuy nhiên, thông tin về các loài động vật không xương sông tại khu vực này còn hạn chế và chưa được đây mạnh nghiên cứu. Huyện Đức Huệ. nằm giáp ranh với sông Vàm Có Đông và có điện tích đất tự nhiên rộng lớn đây cũng là một khu vực tiềm năng về đa đạng sinh học.
Nhận xét: Nhìn chung, huyện Đức Huệ. tinh Long An có những lợi thé trong việc phát triển các địch vụ thương mại xuất khâu qua biên giới, thúc đây kinh tế cửa khâu. Đồng thời, huyện còn là cửa ngõ giao thông giữa tỉnh Tây Ninh và ba huyện lân cận, nhờ đó thị trường giao thương hàng hóa phong phú và để dàng lưu thông hàng hóa. Hệ thông kênh rạch dày đặc được chú trọng quy hoạch nhờ đó phát triển giao thông đường thủy, cung cấp nguồn nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt và tưới tiêu đồng ruộng.
Lượng mưa đồi đào thuận lợi cho việc canh tác lúa. Ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp góp phần nâng cao hiệu quả và sản lượng. phát triển các vùng canh tác lúa chất lượng cao, thúc đây kinh tế. Ngoài ra, huyện còn có tiềm năng phát triển và bảo tôn đa dạng sinh học.
Tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn vẻ việc cải tạo đất phèn dé canh tác lúa và khắc phục van nạn buôn lậu. TONG QUAN VE CERCARIAE 1. Chu trình phát triển chung của san lá song chủ Theo mô tả của Bùi Quang Té nam 2006. trong giáo trình Bệnh học thủy sản về lớp sán lá song chủ (Digenea), vòng phát triển của sán lá song chủ bắt dau từ lúc chúng kí sinh trong ống dẫn mật, ruột.
của thú nuôi, thú hoang và nặng nhất là trâu bò vùng chiêm trũng. Sán lá song chủ chỉ đẻ trứng. hình dạng trứng sán rất nhỏ nhưng được đẻ ra với số lượng lớn. Trứng sán lá theo phân ra ngoài môi trường và trải qua các quá trình phát dục phức tạp gồm nhiều giai đoạn nhỏ đẻ phát triển thành cơ thé san lá trưởng thành.
Các giai đoạn phát trién gôm: Giai đoạn ấu trùng Miracidium: trứng san lá được thải ra môi trường nước và nở thành au trùng Miracidum.